“Cả nhà xúm vào khen chị dâu người thành phố vừa đẹp người lại vừa đẹp nết nên cho bố tôi lên ở cùng ngay lập tức, chẳng ngờ được nửa tháng sau ông phải đi viện c-ấp cứ-u chỉ vì…
Chị dâu tôi – Thảo – là người Hà Nội gốc, cao ráo, trắng trẻo, ăn nói nhỏ nhẹ. Từ lúc cưới về, cả nhà tôi không ai chê được nửa lời. Cơm nước gọn gàng, dọn nhà sạch không vướng một hạt bụi. Mẹ tôi mất đã lâu, bố sống dưới quê với tôi và các em trai, nhưng từ ngày Thảo về làm dâu trưởng, ai cũng nghĩ “giờ bố có người chăm rồi”.
Chỉ mới vài tháng sau cưới, anh tôi quyết định đón bố lên thành phố sống cùng. Lúc họp cả nhà, Thảo nhẹ nhàng nói:
“”Ông cứ lên đây với vợ chồng con cho vui. Con chăm ông chu đáo hơn ở quê.””
Cả nhà vỗ tay rào rào. Ai cũng khen chị quá chu toàn, lại là dân văn minh, khéo ăn khéo nói, đã thế còn đang làm quản lý ở một trung tâm sức khoẻ, nên khỏi lo chuyện ông ốm đau.
Bố tôi rụt rè lên thành phố, mang theo cái làn mây đựng ít mắm tép, hũ dưa muối và mấy túi thuốc Bắc ông sắc uống từ năm ngoái.
Nhưng chưa đầy 10 ngày sau, tôi gọi cho bố thì giọng ông khàn đặc:
Tôi giật mình. Gọi lên hỏi khéo, chị dâu cười xuề xòa cho qua
Đến hôm thứ 15, tôi đang đi làm thì anh tôi gọi điện hớt hải:
“”Bố phải nhập viện cấp cứu!”” Hóa ra… 👇👇”
“Tôi vứt vội cái túi xách, lao ra khỏi văn phòng mà không kịp nói với ai một lời. Suốt quãng đường đến bệnh viện, đầu óc tôi trống rỗng, chỉ có tiếng gào thét của anh trai qua điện thoại cứ lặp đi lặp lại. Những lời khen của cả họ hàng về chị dâu “”văn minh””, “”chu toàn”” cứ văng vẳng bên tai, giờ nghe sao mà mỉa mai, cay đắng.
Hành lang bệnh viện sực mùi thuốc sát trùng. Tôi chạy dọc theo biển chỉ dẫn, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Kia rồi, dáng người quen thuộc của anh trai tôi đang ngồi bệt dưới sàn, trước cửa phòng cấp cứu sáng đèn. Anh gục đầu vào giữa hai đầu gối, bờ vai run lên
bần bật.
Tôi gọi khẽ: “”Anh…””
Anh ngẩng lên, khuôn mặt tái mét không còn một giọt máu. Đôi mắt anh đỏ hoe, sưng húp. Thấy tôi, anh như vớ được cọc, lắp bắp:
“”Em… em đến rồi à… Bố… bố ở trong đó…””
“”Bố bị làm sao? Tại sao lại ra nông nỗi này?”” Tôi quỳ xuống bên cạnh anh, giọng lạc đi vì sợ hãi.
Anh tôi cúi gằm mặt xuống, giọng nói run rẩy đầy tội lỗi. “”Là tại anh… tại anh nhu nhược. Là tại Thảo…””
Tôi sững người. Anh hít một hơi thật sâu, như thể cố lấy hết can đảm để nói ra sự thật.
“”Thảo… cô ấy bắt bố phải ăn theo thực đơn ‘healthy’ của cô ấy. Từ ngày bố lên, cô ấy đã cất hết cái làn mây đựng mắm tép, dưa muối của bố đi, bảo là ‘mấy thứ đó không khoa học, ăn vào chỉ thêm bệnh’.””
Lồng ngực tôi như có ai bóp nghẹt. Anh kể tiếp, giọng đầy uất nghẹn:
“”Bữa ăn của bố toàn rau củ luộc, ức gà trắng ởn, với mấy loại hạt ngũ cốc gì đó… Em biết tính bố rồi đấy, cả đời quen ăn cơm nóng canh ngọt, làm sao nuốt nổi mấy thứ đó. Bố cố được vài bữa rồi không chịu nổi nữa. Ông nói với anh là ông thèm bát cơm với muối vừng thôi cũng được…””
Anh nấc lên một tiếng. “”Nhưng Thảo không cho. Cô ấy nói bố phải theo chế độ của cô ấy thì mới khỏe được, vì cô ấy làm ở trung tâm sức khỏe, cô ấy biết rõ nhất. Bố không nuốt nổi, nên gần như nhịn đói mấy ngày nay. Anh có lén giấu cho bố cái bánh mì, bị cô ấy phát hiện, làm ầm lên…””
Đến lúc này, tôi mới bàng hoàng vỡ lẽ. Hóa ra cái giọng khàn đặc của bố tuần trước không phải vì cảm lạnh. Hóa ra nụ cười xuề xòa của chị dâu khi tôi hỏi thăm là để che giấu sự thật kinh hoàng này. Chị ta không chỉ tước đi món ăn quen thuộc, mà còn tước đi cả niềm vui tuổi già của bố tôi.
“”Bác sĩ nói,”” anh trai tôi gào lên trong bất lực, “”bố bị suy nhược cơ thể nghiêm trọng, rối loạn điện giải nặng… tất cả là do thiếu dinh dưỡng. Chỉ một chút nữa thôi là tim ông không chịu nổi…””
Tôi đứng bật dậy, nắm tay siết chặt đến trắng bệch. Cơn giận dữ bùng lên át cả nỗi sợ hãi.
“”Thế chị Thảo đâu? Người vợ hoàn hảo của anh đâu?”””
“Anh tôi không trả lời, chỉ lắc đầu trong vô vọng, hai tay vò nát mái tóc rối bù. Anh ta còn mặt mũi nào để nhắc đến tên chị ta lúc này?
Đúng lúc đó, cánh cửa phòng cấp cứu bật mở. Ánh đèn trắng toát hắt ra hành lang, rọi vào hai khuôn mặt tái nhợt của chúng tôi. Một vị bác sĩ trung niên, gương mặt hằn rõ sự mệt mỏi và nghiêm nghị, bước ra, tháo vội chiếc khẩu trang.
Cả tôi và anh trai cùng lúc đứng bật dậy, tim như ngừng đập.
Vị bác sĩ nhìn chúng tôi, giọng nói trầm và dứt khoát: “”Người nhà bệnh nhân đã qua cơn nguy kịch rồi. Nhưng tôi phải nói thẳng, tình trạng của ông cụ là suy dinh dưỡng cấp. Chỉ cần đưa vào bệnh viện muộn thêm một chút nữa thôi, tim ông đã không thể chịu nổi.””
Từng lời của bác sĩ như từng nhát búa nện thẳng vào lồng ngực tôi. Anh trai tôi loạng choạng, phải vịn tay vào tường mới đứng vững.
Vị bác sĩ thở dài, ánh mắt nhìn chúng tôi đầy vẻ trách móc. “”Tôi không biết ở nhà các anh chị chăm sóc ông cụ thế nào. Nhưng cơ thể người già có những đặc thù riêng, không phải cứ thứ gì được cho là ‘tốt’, là ‘khoa học’ thì đều áp dụng được.””
Ông dừng lại một nhịp, rồi nhấn mạnh từng chữ, giọng nói đanh lại, không chỉ là lời chẩn đoán mà còn là một sự phán xét: “”Người già cần ăn uống quen thuộc, đủ chất, cái họ cần là cảm giác ngon miệng để duy trì sự sống. Thay đổi đột ngột chế độ ăn, ép một cơ thể đã quen với cơm dẻo canh nóng hàng chục năm phải ăn những thứ xa lạ, nhạt nhẽo thế này là phản khoa học! Là đang vô tình làm hại người ta!””
Lời nói của ông như một cái tát trời giáng vào niềm kiêu hãnh của gia đình tôi, vào cái mác “”dâu trưởng hoàn hảo”” mà chúng tôi vẫn tự hào về Thảo.
Vị bác sĩ nói thêm vài câu dặn dò rồi quay người bước đi, để lại hai anh em tôi đứng trơ trọi giữa hành lang lạnh lẽo. Anh tôi không dám nhìn tôi, anh cúi gằm mặt xuống sàn, bờ vai lại bắt đầu run lên. Cái gục đầu đầy tội lỗi.
Tôi nhìn anh, cơn giận ban nãy bỗng nguôi đi một nửa, nhường chỗ cho một nỗi xót xa đến cay đắng. Tôi giận sự độc đoán, vô tình của chị dâu một, thì tôi lại vừa giận vừa thương sự nhu nhược, hèn nhát của anh trai tôi mười. Chính sự im lặng của anh đã tiếp tay cho bi kịch này, đã đẩy bố đến bờ vực của cái chết.”
“Tiếng giày cao gót nện dồn dập trên nền gạch men lạnh buốt của hành lang bệnh viện cắt đứt không khí nặng nề. Âm thanh sắc lẻm, vội vã và có phần bực bội. Thảo xuất hiện ở cuối hành lang, áo quần là lượt, gương mặt trang điểm kỹ càng không một tì vết, hoàn toàn tương phản với vẻ bơ phờ, thảm hại của hai anh em tôi.
Chị ta thậm chí không thèm nhìn tôi, bước nhanh đến trước mặt anh trai tôi, đôi mày thanh tú chau lại.
“”Anh làm cái gì mà em gọi cháy máy không được? Rốt cuộc là có chuyện gì?””
Anh trai tôi ngẩng lên, đôi mắt đỏ hoe nhìn vợ, lắp bắp không thành lời. “”Bố… Bố trong phòng cấp cứu…””
Thảo không hề tỏ ra một chút hốt hoảng hay lo lắng. Chị ta chỉ liếc qua cánh cửa phòng cấp cứu vẫn còn sáng đèn rồi quay lại nhìn chồng, vẻ mất kiên nhẫn hiện rõ trên khuôn mặt xinh đẹp. Một cái tặc lưỡi vang lên khô khốc.
Và rồi, chị ta đột ngột cao giọng, âm thanh chói gắt vang vọng khắp hành lang vắng ngắt, không chút kiêng dè.
“”Em đã bảo rồi, cái tính cố chấp của bố không ai chịu được! Con chỉ muốn tốt cho ông thôi!””
Chị ta chỉ tay về phía anh tôi, ánh mắt như tóe lửa. “”Em làm quản lý ở trung tâm sức khoẻ, chẳng lẽ em không biết cái gì là khoa học, cái gì tốt cho người già sao? Anh xem, bố mang cả cái làn mây đựng mắm tép với dưa muối lên, em đã phải vứt đi rồi. Ăn những thứ đó vào chỉ tổ hại thân! Bây giờ đổ bệnh ra đấy, có phải làm khổ con cháu không?””
Tôi đứng sững như trời trồng. Lạnh. Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng, còn hơn cả cái lạnh của điều hòa trong bệnh viện. Những lời nói của chị ta, không phải là lời giải thích, mà là một sự kết tội. Chị ta không hề thấy mình sai. Chị ta đang đổ hết mọi tội lỗi lên đầu một ông già vừa từ cõi chết trở về, lên cái “”tính cố chấp”” của ông.
Cái mặt nạ “”dâu trưởng hoàn hảo, văn minh, đẹp người đẹp nết”” mà tôi và cả gia đình từng ngưỡng mộ, giờ đây, ngay tại hành lang bệnh viện này, đã vỡ tan tành. Từng mảnh vỡ sắc như dao cắm thẳng vào tim tôi. Trước mắt tôi bây giờ không phải là chị dâu, mà là một người đàn bà xa lạ, tàn nhẫn và đầy kiêu ngạo, đang dùng những lời lẽ sắc như dao để cứa vào nỗi đau của chồng mình, ngay khi bố anh ta vừa thoát khỏi cửa tử.”
“Ký ức của ngày đầu tiên bố lên thành phố ùa về, sắc lẻm và đau nhói như một vết dao cứa.
Hôm ấy, nắng Hà Nội rót mật vàng óng qua khung cửa sổ căn chung cư cao cấp. Anh trai tôi hớn hở ra mặt, chạy tới chạy lui dọn dẹp, còn tôi thì hồi hộp mong bố. Khi cánh cửa mở ra, bố tôi đứng đó, nụ cười hiền lành có chút ngượng nghịu, tay xách lỉnh kỉnh đồ đạc, nhưng quý nhất là cái làn mây đan tay cũ kỹ, thứ đã theo ông suốt bao năm tháng.
“”Bố mang ít quà quê lên cho các con,”” ông nói, giọng vui vẻ.
Anh tôi cười xoà, đỡ lấy túi đồ. Nhưng Thảo, chị dâu tôi, đứng khoanh tay dựa vào thành bếp, không hề bước tới. Ánh mắt chị ta quét một lượt từ đôi dép tổ ong của bố đến cái làn mây trên tay ông, rồi dừng lại ở đó. Đôi mày thanh tú của Thảo khẽ nhíu lại, một cái nhíu mày rất nhẹ, gần như không ai thấy, nhưng trong đó chất chứa một sự xét nét và khó chịu không hề che giấu. Chị ta không nói gì, chỉ mỉm cười một nụ cười xã giao hoàn hảo.
“”Bố đi đường xa chắc mệt rồi, vào nghỉ đi ạ.””
Nụ cười đó, cái giọng nói ngọt ngào đó lúc ấy đã che mắt tất cả chúng tôi.
Nhưng tôi đã không thể quên được ánh mắt chị ta nhìn cái làn mây.
Chiều hôm đó, khi bố và anh trai đang nói chuyện rôm rả trong phòng khách, tôi vào bếp lấy nước và sững người. Thảo đang ở đó. Chị ta đeo găng tay cao su, vẻ mặt lạnh lùng như một bác sĩ thực hiện ca phẫu thuật. Từng hũ dưa cà muối xổi thơm lừng, hũ mắm tép chưng thịt đậm đà mà mẹ tôi lúc sinh thời vẫn hay làm cho bố, tất cả những món quà quê dân dã bố tôi chắt chiu mang lên, đều bị chị ta lần lượt nhấc ra khỏi cái làn mây.
Rồi, không một chút do dự, Thảo mở nắp thùng rác và thẳng tay vứt tất cả vào trong. Tiếng những hũ sành va vào thành thùng rác vang lên khô khốc, lạnh lẽo.
Đúng lúc đó, bố tôi từ phòng đi ra, có lẽ định vào bếp tìm chút gì đó ăn cho đỡ nhạt miệng. Ông chết sững ở cửa. Cả người ông như đông cứng lại khi nhìn thấy cảnh tượng trước mắt. Bàn tay của Thảo vẫn còn đang lơ lửng trên miệng thùng rác.
Ông nhìn trân trân vào những hũ dưa, hũ mắm nằm chỏng chơ giữa đống vỏ hoa quả, túi ni-lông. Nụ cười trên môi ông vụt tắt. Đôi vai gầy guộc của ông chùng xuống. Đôi mắt ông đỏ hoe, ngấn nước. Ông mấp máy môi, định nói gì đó nhưng rồi lại thôi. Nỗi tủi thân, sự hụt hẫng và cả cảm giác bất lực hiện rõ trên khuôn mặt khắc khổ.
Thảo quay lại, thấy bố, chị ta cũng không hề bối rối. Chị ta thản nhiên tháo găng tay, ném vào sọt rác, giọng đều đều như không có chuyện gì xảy ra.
“”Ôi bố, mấy thứ này để lâu không tốt cho sức khoẻ đâu ạ. Toàn muối với dầu mỡ, dễ tăng huyết áp lắm. Ở đây con có chuẩn bị đồ ăn khoa học cho bố rồi.””
Bố tôi không đáp. Ông không nhìn chị ta, chỉ lẳng lặng quay người. Dáng ông lủi thủi, còng xuống, chậm chạp bước về phòng mình, đóng sập cánh cửa lại.
Âm thanh đó, tiếng cánh cửa đóng lại ngày hôm ấy, bây giờ lại vang lên trong đầu tôi, hòa cùng tiếng tặc lưỡi đầy miệt thị của Thảo giữa hành lang bệnh viện lạnh lẽo này.”
“Ký ức lại tiếp tục chảy, không một chút ngừng nghỉ, như một cuốn phim quay chậm đầy ám ảnh. Những ngày sau đó, không khí trong nhà trở nên nặng nề như chì. Bữa tối hôm sau diễn ra trong một sự im lặng ngột ngạt. Trên bàn ăn sang trọng, thay cho những món dân dã đậm vị quê nhà, là một thực đơn mà Thảo gọi là “”khoa học””.
Ức gà luộc trắng ởn, nhạt thếch. Súp lơ xanh luộc vừa chín tới, không một hạt muối. Và một thứ hạt lạ lẫm mà bố tôi chưa từng thấy, được giới thiệu là hạt diêm mạch.
Ông bố gắp một miếng gà, nhai trệu trạo như nhai rơm. Ông cố nuốt rồi lại đặt đũa xuống, ánh mắt nhìn xa xăm. Anh trai tôi thấy vậy, gượng gạo gắp thức ăn vào bát bố.
“”Bố ăn đi cho Thảo nó vui. Vợ con lo cho sức khoẻ của bố thôi mà.””
Thảo mỉm cười, một nụ cười hoàn hảo không tì vết. Chị ta nhẹ nhàng đặt tay lên vai anh trai tôi, giọng nói ngọt ngào nhưng chứa đầy áp lực vô hình.
“”Bố phải ăn cho khoẻ ạ. Toàn thực phẩm sạch, con tính toán calo cẩn thận rồi. Khoa học chứng minh hết rồi bố ạ, ăn uống thế này mới ngăn ngừa bệnh tật, sống lâu được.””
Bố tôi không nói gì, chỉ cúi đầu nhìn bát thức ăn. Ông lại cầm đũa lên, gắp thêm vài miếng súp lơ, rồi lại buông xuống. Nỗi buồn và sự bất lực hằn sâu trong đôi mắt ông.
Nhưng đỉnh điểm của sự “”chăm sóc khoa học”” ấy là vào vài ngày sau. Tôi tình cờ thấy bố đang lúi húi trong phòng, tay mân mê chiếc túi vải sờn cũ. Bên trong là những thang thuốc Bắc quý giá, thứ đã giúp ông ăn ngon ngủ yên cả chục năm nay. Ông định mang ra sắc uống.
Đúng lúc đó, Thảo bước vào, trên môi vẫn là nụ cười thường trực. Ánh mắt chị ta ngay lập tức quét đến túi thuốc trên tay bố tôi. Nụ cười đông cứng lại. Chị ta không nói một lời, bước tới, giật phắt lấy túi thuốc từ tay ông.
“”Bố, con đã nói rồi mà,”” giọng Thảo bắt đầu có chút mất kiên nhẫn, dù vẫn cố giữ vẻ mềm mỏng. “”Mấy thứ rễ cây không rõ nguồn gốc này uống vào có ngày ngộ độc đó bố. Thời buổi này ai còn tin vào mấy cái này nữa.””
Nói rồi, chị ta đi thẳng ra phía thùng rác ở góc phòng. Không một chút do dự, Thảo thẳng tay ném cả túi thuốc vào đó. Một hành động dứt khoát, lạnh lùng y hệt như khi chị ta vứt đi những hũ dưa mắm của ông.
Bố tôi chỉ đứng chết trân, bàn tay vẫn còn giơ ra lơ lửng. Cổ họng ông nghẹn lại, không thốt ra được lời nào. Ông nhìn túi thuốc nằm chỏng chơ trên đống giấy vụn, đôi vai gầy guộc run lên bần bật. Kể từ hôm đó, giọng ông bắt đầu khàn đặc đi, như có thứ gì đó đã vỡ nát từ bên trong.”
“Vài ngày sau cuộc điện thoại ấy, tôi như ngồi trên đống lửa. Ở quê, tôi gọi điện cho anh trai, giọng lo lắng.
“”Anh ơi, bố sao rồi? Em nghe giọng bố khàn đặc đi, không nói nổi.””
Đầu dây bên kia, anh trai tôi ậm ừ một lúc rồi mới đáp, giọng có vẻ né tránh.
“”À… Bố bị viêm họng chút thôi em ạ. Thảo đang chăm bố cẩn thận lắm, toàn đồ tốt thôi. Em đừng lo.””
Tôi gặng hỏi thêm thì anh chỉ cười xuề xoà cho qua rồi kiếm cớ cúp máy. Nhưng tôi đâu biết rằng, “”sự chăm sóc cẩn thận”” mà anh nói, chính là nguồn cơn của nỗi đau mà bố đang phải chịu đựng.
Sự thật là, sau khi bị vứt đi thang thuốc quý, tâm bệnh của bố ngày một nặng, kéo theo cả thân bệnh. Ông bắt đầu ho khan, cổ họng đau rát. Thấy bố cứ ôm cổ nhăn nhó, anh trai tôi định chạy đi mua vài viên ngậm hay ít chanh muối như thói quen ở quê.
Nhưng Thảo đã ngay lập tức ngăn lại, trên môi vẫn là nụ cười hoàn hảo cố hữu.
“”Anh ơi, mấy thứ đó không khoa học. Để em.””
Chị ta xoay người vào bếp, một lát sau trở ra với một chiếc hộp giấy sang trọng và một ly sứ đắt tiền. Chị ta trịnh trọng đặt chiếc hộp lên bàn, bên trong là những túi trà lọc nhỏ xinh và một hũ mật ong màu vàng sẫm.
“”Đây,”” Thảo nói với giọng đầy tự hào, như một chuyên gia sức khỏe đang thuyết trình. “”Trà gừng hữu cơ, kết hợp với mật ong Manuka của New Zealand. Con đã đọc rất nhiều nghiên cứu, loại này có tính kháng khuẩn cao gấp nhiều lần mật ong thường. Tốt cho cổ họng của bố lắm.””
Ông bố nhìn ly trà bốc khói nghi ngút, mùi gừng cay nồng xộc lên mũi. Ông quen với vị chanh muối chua mặn dịu dàng, hay vị cam thảo ngọt thanh trong thang thuốc Bắc. Thứ đồ uống “”sang chảnh”” này khiến ông có chút e dè.
Thảo dường như đọc được sự do dự trong mắt ông. Chị ta bưng ly trà đến tận tay bố, giọng ngọt ngào nhưng không cho phép từ chối.
“”Bố uống đi cho nóng ạ. Đồ Tây y khoa học nó khác hẳn mấy thứ dân gian bố ạ. Uống vào là đỡ ngay.””
Bố tôi lưỡng lự nhìn anh trai. Anh tôi chỉ gật đầu, ánh mắt như muốn nói “”Bố cứ uống cho vợ con vui lòng””. Không còn cách nào khác, ông đành nhắm mắt đưa ly trà lên miệng, uống một ngụm lớn.
Ngay khoảnh khắc dòng nước trà nóng chảy qua cổ họng, ông sững người. Vị gừng cay xé và cái ngọt gắt của thứ mật ong đắt tiền không hề làm dịu đi cơn đau, mà như hàng ngàn mũi kim châm thẳng vào vết thương đang tấy rát. Cổ họng ông bỏng rát, cơn đau dội lên gấp bội. Ông ho sặc sụa, mặt đỏ bừng, nước mắt ứa ra.
Thảo thấy vậy lại mỉm cười, cho rằng đó là phản ứng tốt.
“”Đấy, có tác dụng rồi đấy bố. Nó đang diệt khuẩn đấy ạ. Bố cố uống hết ly này nhé.””
Bố tôi không nói được lời nào nữa. Ông chỉ có thể gật đầu trong vô vọng, cổ họng như bị lửa đốt. Từ giây phút đó, giọng ông khàn đi trông thấy, mỗi một từ thốt ra là một sự cố gắng đến xé lòng.”
“Tình trạng của bố không hề khá hơn. Ly trà gừng mật ong của Thảo như giọt nước làm tràn ly, khiến cổ họng vốn đã đau rát của ông tổn thương nghiêm trọng. Ông không nuốt nổi bất cứ thứ gì, kể cả cháo loãng. Cả ngày ông chỉ nằm trên giường, mắt nhắm nghiền, hơi thở mệt nhọc. Anh trai tôi, sau vài ngày cố gắng che giấu, cuối cùng cũng không thể cầm cự được nữa khi thấy bố lịm đi. Anh hoảng hốt gọi xe cấp cứu đưa bố vào bệnh viện.
Ngay khi nhận được tin, tôi tức tốc bắt xe từ quê lên thẳng bệnh viện ở Hà Nội. Vừa bước đến cửa phòng bệnh, cảnh tượng trước mắt khiến tôi chết lặng. Bố tôi, người đàn ông cả đời lam lũ, vững chãi như cây đa đầu làng, giờ đây xanh xao, gầy rộc nằm trên chiếc giường trắng toát, tay cắm đầy dây truyền dịch. Anh trai và chị dâu đang đứng ở đó. Thảo vẫn với vẻ mặt điềm tĩnh, đang trao đổi gì đó với bác sĩ, tay cầm một tập hồ sơ bệnh án, ra vẻ am tường và nắm quyền kiểm soát. Anh trai tôi thì đứng nép vào một góc, gương mặt hốc hác, ánh mắt đầy tội lỗi, không dám nhìn thẳng vào tôi.
Thấy tôi, Thảo quay ra, nở một nụ cười chuyên nghiệp.
“”Em đến rồi à? Bố chỉ bị suy nhược do viêm họng nặng thôi, không sao đâu. Bác sĩ nói chỉ cần truyền nước, ăn uống theo thực đơn bệnh viện là ổn. Em đừng lo quá.””
Giọng chị ta nhẹ tênh, như thể đây chỉ là một sự cố nhỏ. Tôi không đáp lời, lẳng lặng đi đến bên giường bệnh. Nhìn gương mặt khắc khổ của bố, tôi chỉ muốn gào lên. Tôi quay sang anh trai, giọng rít qua kẽ răng.
“”Anh ra ngoài mua cho em chai nước. Em muốn ở một mình với bố một lát.””
Anh trai tôi như được giải thoát, vội vã gật đầu rồi kéo Thảo ra ngoài. Chị dâu có vẻ không hài lòng, nhưng cũng không nói gì. Cánh cửa phòng bệnh vừa khép lại, không gian chỉ còn lại sự tĩnh lặng nặng nề và tiếng máy đo nhịp tim kêu tít tít đều đều.
Tôi nhẹ nhàng ngồi xuống mép giường, nắm lấy bàn tay gân guốc, chai sần của bố. Bàn tay ấy giờ đây lạnh ngắt và yếu ớt. Dường như cảm nhận được hơi ấm, bố từ từ mở mắt. Nhìn thấy tôi, khoé mắt ông rưng rưng. Ông mấp máy môi, giọng khàn đặc, yếu ớt đến mức tôi phải ghé sát tai vào mới nghe được.
“”Con gái… Bố thèm một bát cơm với muối vừng quá con ạ.””
Tôi sững người. Bố tiếp tục, giọng lạc đi trong nỗi tủi hờn.
“”Ở trên này cái gì cũng ngon, cũng sạch… mà bố nuốt không trôi. Bố nhớ nhà…””
Nghe đến đây, tim tôi như có ai đó bóp nghẹt. Nước mắt lã chã rơi xuống mu bàn tay gầy guộc của ông. Người cha cả đời chỉ biết đến ruộng đồng, đến bữa cơm trắng với lọ muối vừng, lọ mắm tép, giờ đây phải nằm trong căn phòng bệnh lạnh lẽo, thèm khát một hương vị quê nhà mà không sao có được. Nỗi uất nghẹn dâng lên cổ họng, tôi siết chặt tay bố, căm phẫn nhìn ra cánh cửa nơi anh trai và người chị dâu “”hoàn hảo”” vừa bước ra.”
“Cô nhẹ nhàng đặt bàn tay bố trở lại tấm ga giường trắng muốt, kéo chăn đắp ngang ngực cho ông rồi quả quyết đứng dậy. Cơn phẫn nộ giờ đây không còn nóng bỏng mà đã đông cứng lại thành một quyết tâm lạnh lẽo. Cô biết mình phải làm gì.
Mở cửa phòng bệnh, cô thấy anh trai và Thảo đang đứng ở cuối hành lang. Thảo vẫn đang thao thao bất tuyệt điều gì đó với vẻ mặt chuyên gia, còn anh trai cô thì đứng như một cái bóng câm lặng, vô hồn.
Cô bước nhanh về phía họ, ánh mắt sắc như dao găm dán chặt vào anh trai, không thèm liếc nhìn Thảo lấy một lần. Giọng cô đanh lại, vang lên khô khốc, cắt ngang lời nói của chị dâu:
“”Anh. Ra đây em nói chuyện.””
Thảo khựng lại, nụ cười trên môi hơi cứng đờ vì bị ngắt lời đột ngột. Anh trai cô giật mình, lúng túng nhìn vợ rồi lại nhìn em gái, ánh mắt đầy vẻ bối rối. Không đợi anh ta trả lời, cô đã quay người đi thẳng về một góc khuất gần cầu thang thoát hiểm. Anh trai cô do dự một giây rồi cũng lủi thủi đi theo như một cái máy, bỏ lại Thảo đứng một mình với vẻ mặt khó chịu thấy rõ.
Khi chỉ còn hai anh em trong góc hành lang vắng vẻ, cô không thể kìm nén được nữa. Cô quay phắt lại, giọng nói rít lên đầy uất nghẹn và căm phẫn.
“”Anh có thấy đó không phải chăm sóc mà là hành hạ không?””
Anh trai cô sững người, mặt trắng bệch. Anh ta lắp bắp, cố gắng tìm một lý do để bênh vực cho vợ mình, cho sự lựa chọn của chính mình.
“”Em… em nói linh tinh gì thế? Thảo là chuyên gia sức khoẻ. Chị ấy chỉ muốn tốt cho bố thôi. Mọi thứ đều phải khoa học…””
“”Khoa học?”” – cô cười khẩy, một nụ cười méo mó vì cay đắng. “”Khoa học của chị ta là bắt bố, một người cả đời ăn cơm với mắm tép, dưa muối, phải uống cái thứ nước ép nhạt thếch vô vị? Khoa học là vứt cái làn mây đựng thuốc Bắc của bố đi và thay bằng ly trà gừng mật ong khiến họng ông bỏng rát đến mức phải nhập viện cấp cứu thế này à?””
Cô tiến thêm một bước, dồn anh trai vào sát tường, nhìn thẳng vào đôi mắt đang né tránh của anh ta. Giọng cô hạ xuống, nhưng từng chữ một như búa tạ giáng xuống.
“”Vừa nãy, ở trong phòng, bố nói với em… bố thèm một bát cơm với muối vừng. Anh có hiểu không? Bố đang nằm trên giường bệnh, cắm đầy dây dợ, mà chỉ ao ước một thứ đơn sơ như thế. Sự chăm sóc hoàn hảo của chị dâu anh đã đẩy bố đến bước đường này đấy!””
Từng lời của em gái như những nhát dao đâm thẳng vào sự nhu nhược bấy lâu nay của anh ta. Bức tường phòng ngự cuối cùng cũng sụp đổ tan tành. Anh trai cô lảo đảo, tựa lưng vào bức tường lạnh lẽo, hai vai rũ xuống. Anh ta đưa tay lên ôm mặt, giọng nói vỡ oà trong hối hận và tủi hổ.
“”Anh sai rồi… Anh xin lỗi…””
Anh ta ngẩng lên, đôi mắt đỏ hoe ngập tràn sự bất lực và tội lỗi. “”Anh… Anh cứ nghĩ Thảo là chuyên gia sức khoẻ thì sẽ tốt cho bố… Anh chỉ nghĩ đơn giản là đưa bố lên đây thì bố sẽ được chăm sóc tốt hơn ở quê… Anh không nghĩ mọi chuyện lại thành ra thế này… Anh thật vô dụng…””
Lời thú tội muộn màng của anh trai vang vọng trong không gian tĩnh mịch của bệnh viện. Cơn giận của cô dần nguôi đi, chỉ còn lại nỗi xót xa cho cả người cha đang đau đớn và người anh trai hèn nhát của mình. Từ phía xa, Thảo vẫn đứng đó, lặng lẽ quan sát tất cả. Gương mặt hoàn hảo của chị ta không biểu lộ cảm xúc gì, nhưng trong đôi mắt lại ánh lên một tia nhìn lạnh lùng, toan tính.”
“Tiếng khóc hối hận của anh trai chưa dứt thì những bước chân cao gót nện trên nền gạch hành lang đã vang lên đều đặn, đầy quyền uy. Thảo đã đi tới. Chị ta không hề tỏ ra vội vã, mỗi bước đi đều toát lên vẻ bình tĩnh đến lạnh người, như thể cảnh tượng trước mắt chỉ là một vở kịch nhỏ không đáng bận tâm.
Chị ta dừng lại trước mặt hai anh em, ánh mắt lướt qua người chồng đang thảm hại tựa vào tường rồi dừng lại trên gương mặt kiên quyết của cô. Nụ cười hoàn hảo lại được treo lên trên môi, nhưng không che được sự khó chịu trong đáy mắt.
“”Anh làm sao thế? Còn em gái nữa, có chuyện gì mà to tiếng ở bệnh viện vậy?””
Người anh trai giật nảy mình, vội lau nước mắt, lúng túng như một đứa trẻ bị bắt quả tang làm việc xấu. Anh ta lắp bắp: “”Không… không có gì đâu em.””
Nhưng cô em gái không để cho sự nhu nhược đó tiếp diễn. Cô ngẩng đầu, nhìn thẳng vào Thảo, ánh mắt không một chút e dè. Cô không trả lời câu hỏi của chị dâu, mà đi thẳng vào vấn đề. Giọng cô ráo hoảnh, từng chữ một rõ ràng và đanh thép, vang vọng trong góc hành lang.
“”Bố khoẻ lại, tôi sẽ đưa ông về quê ngay lập tức.””
Cô dừng một nhịp, liếc nhìn cả anh trai lẫn chị dâu, rồi nhấn mạnh từng từ cuối cùng với sự mỉa mai không thèm che giấu.
“”Ông không hợp với cuộc sống ‘văn minh’ của anh chị.””
Không khí đặc quánh lại. Người anh trai sững sờ, há hốc miệng nhìn em gái, trong mắt vừa có sự kinh ngạc, vừa loé lên một tia nhẹ nhõm tội lỗi. Còn Thảo, nụ cười trên môi chị ta đông cứng lại. Sự bình tĩnh giả tạo vỡ tan. Chị ta trừng mắt nhìn cô, một cái nhìn sắc lẻm như dao, chứa đầy sự tức giận và khinh bỉ.
Phải mất vài giây, Thảo mới lấy lại được vẻ bề trên của mình. Chị ta nhếch môi, nở một nụ cười khẩy đầy thách thức.
“”Tùy em. Về quê rồi ốm đau lại khổ.””
Nói xong, Thảo khoanh tay trước ngực, ngẩng cao đầu như một nữ hoàng vừa ban phát một lời phán quyết, hoàn toàn tin rằng cô em chồng quê mùa sẽ sớm phải hối hận vì quyết định ngu ngốc của mình.”
“Tôi không đáp lại lời thách thức của Thảo. Mọi lời nói lúc này đều vô nghĩa. Tôi chỉ liếc nhìn chị ta một cái nhìn lạnh như băng, rồi quay sang người anh trai vẫn đang chết trân vì sợ hãi.
“”Em đến nhà thu dọn đồ cho bố.””
Nói rồi, tôi quay gót bước đi, không một lần ngoảnh lại. Phía sau, tôi nghe loáng thoáng tiếng Thảo cằn nhằn và tiếng anh trai lí nhí thanh minh. Tất cả đều chìm vào không gian ồn ào của bệnh viện.
Căn hộ của anh chị nằm trong một khu chung cư cao cấp. Mọi thứ đều sạch sẽ, bóng loáng và lạnh lẽo, đúng như phong cách “”văn minh”” mà chị dâu tôi luôn tự hào. Tôi bước thẳng vào căn phòng nhỏ cuối hành lang, nơi bố đã ở trong những ngày ngắn ngủi trên thành phố.
Căn phòng trống trải, chỉ có một chiếc giường đơn và một cái tủ nhỏ. Trái ngược hoàn toàn với không gian hiện đại bên ngoài, góc phòng này lại phảng phất mùi quê nhà. Chiếc làn mây sờn cũ đựng thuốc Bắc và vài lọ mắm tép, dưa muối mẹ tôi tự làm vẫn nằm im lìm dưới chân giường, như một mảnh ký ức lạc lõng.
Tôi lặng lẽ mở tủ, bắt đầu gấp lại những bộ quần áo vải thô đơn sơ của ông. Từng nếp áo quen thuộc, từng mùi hương bạc màu của nắng gió quê nhà khiến sống mũi tôi cay xè. Cổ họng tôi nghẹn lại. Chính tôi đã từng nghĩ, đưa bố lên đây là để ông được hưởng phúc.
Khi kéo ngăn tủ cuối cùng ra, tay tôi khựng lại. Nằm dưới mấy tờ báo cũ là một cuốn lịch bloc đã xé được gần hai chục tờ. Tò mò, tôi cầm nó lên. Tim tôi như ngừng đập một nhịp.
Trên mỗi tờ lịch đã bóc, một dấu X đỏ chói được gạch chéo qua con số. Và bên cạnh đó, là những dòng chữ nguệch ngoạc, run rẩy của bố.
Tờ lịch ngày thứ 5 sau khi ông lên thành phố: “”Ngày 5: Đói””.
Tờ lịch tiếp theo, ngày thứ 8: “”Ngày 8: Thèm cơm cá kho””.
Rồi “”Ngày 12: Buồn””.
“”Ngày 15: Khản cổ, không nói được.””
Bàn tay tôi run lên bần bật. Cuốn lịch rơi xuống đất. Từng dòng chữ như những mũi dao xoáy sâu vào tim tôi. Giờ thì tôi đã hiểu. Tôi đã hiểu tất cả. Giọng ông khàn đặc không phải vì cảm lạnh. Vẻ mệt mỏi, gầy rộc đi không phải vì không quen thời tiết. Chị dâu tôi, người phụ nữ “”văn minh, hoàn hảo””, đã để bố tôi đói. Bà ta đã để một ông già phải đếm từng ngày trong nỗi cô đơn, thèm khát một bữa cơm quê đạm bạc.
Cơn giận dữ bùng lên, thiêu đốt mọi sự kìm nén trong tôi. Nước mắt tôi trào ra, không phải vì buồn, mà vì uất hận. Tôi vội quệt ngang dòng nước mắt, nhặt cuốn lịch lên. Đây không phải là một cuốn lịch. Đây là bằng chứng cho tội ác của họ.
Tôi siết chặt cuốn lịch trong tay, cảm nhận từng góc cạnh của nó cấn vào da thịt. Tôi không dọn dẹp nữa. Tôi quay người, bước nhanh ra khỏi căn phòng, ra khỏi căn nhà giả dối ấy. Trong đầu tôi lúc này chỉ có một mục tiêu duy nhất: quay lại bệnh viện và bắt bọn họ phải trả giá.”
“Cơn giận cuồn cuộn trong lồng ngực cô em gái khi cô lao như bay trở lại bệnh viện. Cuốn lịch trong tay cô lúc này còn nặng hơn cả chì, mỗi góc cạnh của nó như cứa vào da thịt, nhắc nhở về từng ngày bố cô đã phải chịu đựng.
Cô không mất thời gian đôi co, vừa nhìn thấy bóng anh trai và Thảo ở cuối hành lang, cô lập tức sải bước tới. Gương mặt cô lạnh như băng, không một chút biểu cảm. Thấy em gái quay lại nhanh như vậy với vẻ mặt đằng đằng sát khí, người anh trai có chút giật mình. Thảo thì khoanh tay trước ngực, nhếch mép cười khẩy, chuẩn bị cho một màn kịch mới.
“”Sao, về dọn đồ mà tay không à? Hay lại nghĩ ra được lý do gì để ăn vạ rồi?””
Cô em gái không đáp lời Thảo. Ánh mắt cô chỉ dán chặt vào người anh trai. Cô giơ cuốn lịch cũ mèm, nhàu nát ra trước mặt anh.
“”Anh đọc đi.””
Giọng cô bình thản đến đáng sợ. Người anh trai ngơ ngác, chưa hiểu chuyện gì. Thảo bĩu môi.
“”Vớ vẩn. Một cuốn lịch rách thì có gì mà đọc?””
Anh trai do dự nhận lấy cuốn lịch từ tay em gái. Anh lật giở những trang giấy đã ngả màu vàng. Dòng chữ đầu tiên đập vào mắt anh: “”Ngày 5: Đói””.
Anh sững lại. Anh lật tiếp.
“”Ngày 8: Thèm cơm cá kho””.
“”Ngày 12: Buồn””.
“”Ngày 15: Khản cổ, không nói được.””
Từng dòng, từng dòng chữ nguệch ngoạc, run rẩy của bố như những nhát búa tạ giáng thẳng vào lồng ngực anh. Bàn tay anh bắt đầu run lên, ban đầu chỉ là những rung động nhẹ, rồi dần dần run lên bần bật, không thể kiểm soát. Khuôn mặt anh trắng bệch, đôi môi mấp máy nhưng không thể thốt nên lời. Anh đã hiểu. Anh đã hiểu tại sao bố lại gầy rộc đi nhanh như vậy, tại sao giọng ông lại khản đặc đến thế.
Cuốn lịch rơi xuống sàn nhà kêu một tiếng “”bộp”” khô khốc.
Anh trai ngước nhìn em gái, ánh mắt tràn ngập sự kinh hoàng và không thể tin nổi. Rồi anh quay sang nhìn Thảo, người vợ “”hoàn hảo”” của mình, người vẫn đang đứng đó với vẻ mặt kiêu ngạo.
Và rồi, người đàn ông cao lớn ấy đột nhiên khuỵu xuống.
Một tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ cổ họng anh. Anh ôm lấy đầu, bờ vai rung lên dữ dội. Giữa hành lang bệnh viện đông người qua lại, anh bật khóc. Anh khóc nức nở như một đứa trẻ bị bỏ rơi, tiếng khóc to, ai oán và đầy tuyệt vọng. Đó là tiếng khóc của một người con bất hiếu, tiếng khóc của sự hối hận muộn màng, tiếng khóc cho sự sụp đổ của một niềm tin mù quáng.
Thảo chết lặng. Nụ cười trên môi chị ta cứng đờ. Chị ta chưa bao giờ thấy chồng mình như vậy.
Cô em gái đứng đó, lặng lẽ nhìn anh mình tan nát. Nước mắt cô cũng bắt đầu rơi, nhưng không phải vì giận, mà vì xót xa cho chính người anh trai đáng thương và đáng trách của mình.”
“Tiếng khóc tức tưởi của người đàn ông cao lớn vang vọng khắp hành lang bệnh viện vốn đã ồn ào. Vài người đi qua tò mò ngoái nhìn, xì xầm bàn tán. Sự chú ý của đám đông như những mũi kim châm vào Thảo. Cơn sững sờ qua đi, thay vào đó là sự xấu hổ và tức giận tột độ. Chị ta không thể chịu đựng được cảnh tượng này, cảnh người chồng “”hoàn hảo”” của mình lại thảm hại như một kẻ thất bại ngay giữa chốn công cộng.
Thảo bước nhanh tới, giọng rít qua kẽ răng, cố ra vẻ quan tâm nhưng không giấu được sự khó chịu.
“”Anh làm cái gì vậy? Đứng lên đi! Người ta đang nhìn kìa!””
Chị ta đưa tay ra định kéo anh dậy, nhưng anh trai hất mạnh tay chị ta ra. Cái hất tay dứt khoát và lạnh lùng khiến Thảo sững người.
Anh từ từ ngẩng đầu lên. Khuôn mặt đẫm nước mắt nhưng ánh mắt đã hoàn toàn thay đổi. Không còn là sự hoang mang, kinh hoàng nữa, mà là một sự trống rỗng đến đáng sợ, một cái nhìn lạnh lẽo như thể đang nhìn một người hoàn toàn xa lạ. Anh không nói một lời, lẳng lặng đứng dậy, thân hình cao lớn đứng thẳng tắp, che khuất cả Thảo và cô em gái.
Anh cúi xuống, nhặt cuốn lịch cũ nhàu nằm trên sàn. Bàn tay anh vẫn còn run, nhưng động tác lại vô cùng chắc chắn. Anh bước tới trước mặt Thảo, giơ cuốn lịch ra. Anh không buộc tội, không gào thét. Sự im lặng của anh lúc này còn đáng sợ hơn vạn lần.
Thảo máy móc nhận lấy cuốn lịch, ánh mắt vẫn còn nét thách thức. Nhưng khi những dòng chữ nguệch ngoạc của bố chồng đập vào mắt, đồng tử chị ta co rút lại. “”Ngày 5: Đói””… “”Ngày 15: Khản cổ, không nói được.”” Bàn tay cầm cuốn lịch của Thảo khẽ run lên. Một thoáng hoảng loạn không thể che giấu lướt qua gương mặt luôn tỏ ra điềm tĩnh của chị ta.
Nhưng chỉ trong một tích tắc, Thảo đã lấy lại được vẻ ngoài sắt đá. Chị ta ngẩng phắt lên, môi nhếch lên thành một nụ cười khẩy chua chát, giọng đầy mỉa mai.
“”Anh tin mấy cái chữ vớ vẩn này hơn là tin em?””
Chị ta vung tay, chỉ vào cuốn lịch như thể nó là thứ rác rưởi. Giọng chị ta cao lên, đầy vẻ oan ức giả tạo.
“”Em làm tất cả cũng vì cái nhà này thôi! Em muốn tốt cho bố, muốn ông thay đổi thói quen lạc hậu để sống khoẻ hơn, văn minh hơn! Chẳng lẽ tình yêu thương của em lại sai sao?””
Người anh trai chỉ im lặng nhìn Thảo diễn kịch. Anh nhìn chị ta như thể lần đầu tiên trong đời mới thật sự nhìn thấy con người thật của vợ mình. Một sự thất vọng và ghê tởm trào dâng trong lồng ngực anh, bóp nghẹt mọi cảm xúc khác. Từng lời Thảo nói ra bây giờ chỉ như những nhát dao cứa sâu thêm vào vết thương đang rỉ máu trong lòng anh.
Cuối cùng, anh cất lời. Giọng anh khản đặc, mệt mỏi và xa cách.
“”Anh cần thời gian… suy nghĩ lại về chúng ta.””
Câu nói không to, không nhỏ, nhưng lại như một bản án tử hình giáng xuống cuộc hôn nhân của họ. Dứt lời, anh không nhìn Thảo thêm một giây nào nữa, quay người, lảo đảo bước về phía phòng bệnh của bố, bóng lưng đổ dài trên hành lang, cô độc và tan nát.
Thảo đứng chết trân tại chỗ, cuốn lịch trên tay bỗng trở nên nặng trĩu. Lần đầu tiên, nụ cười kiêu ngạo trên môi chị ta hoàn toàn vụn vỡ.”
“Vài ngày sau cuộc đối chất nảy lửa ở hành lang, bố được làm thủ tục xuất viện. Thảo không đến. Chị ta chỉ gọi một cuộc điện thoại ngắn cho anh trai, giọng đều đều như một cái máy, hỏi về thủ tục giấy tờ. Anh trai chỉ đáp “”Ừ”” rồi cúp máy, không một lời giải thích, không một câu hỏi thăm. Sự lạnh lẽo trong giọng nói của anh còn sắc hơn dao cắt.
Sáng hôm đó, tôi và anh trai thu dọn đồ đạc cho bố. Không có nhiều nhặn gì. Chỉ vài bộ quần áo cũ, và quan trọng nhất, là chiếc làn mây sờn màu mà tôi đã mang từ quê lên. Tôi cẩn thận đặt chiếc làn vào lòng bố. Vẫn là cái làn đựng mắm tép, dưa muối, thuốc Bắc ngày nào, thứ mà Thảo từng thẳng tay vứt bỏ như rác rưởi. Bàn tay gầy guộc của bố khẽ vuốt ve những nan tre quen thuộc, một hành động vô thức nhưng chứa đầy sự an ủi.
Suốt chặng đường từ bệnh viện ở Hà Nội về quê, không một ai trong chúng tôi nói với nhau câu nào. Anh trai tập trung lái xe, quai hàm bạnh ra, ánh mắt nhìn thẳng về phía trước nhưng dường như trống rỗng. Tôi ngồi ở ghế sau cùng bố, thỉnh thoảng lại lo lắng nhìn ông. Bố không nói, cũng không nhìn chúng tôi. Ông chỉ lặng lẽ quay mặt ra cửa sổ.
Ánh mắt ông lướt qua những tòa nhà cao tầng xa lạ, những dòng xe cộ đông đúc một cách vô hồn, như thể ông đang cố rũ bỏ lại sau lưng cả một cơn ác mộng. Thành phố hoa lệ trong mắt người khác, với ông bây giờ chỉ là một nhà tù khổng lồ, lạnh lẽo và vô cảm. Sự im lặng trong xe còn nặng nề hơn cả ngàn lời buộc tội.
Chỉ đến khi chiếc xe bắt đầu đi chậm lại, rẽ vào con đường đất quen thuộc dẫn về đầu làng, một sự thay đổi kỳ diệu đã diễn ra. Hàng tre xanh rì rào trong gió, mùi đất ẩm sau cơn mưa chiều qua, mùi khói bếp quen thuộc từ vài mái nhà tranh… tất cả ùa vào, lấp đầy không gian ngột ngạt trong xe.
Ông bố, người đã im lặng suốt cả chặng đường dài, bỗng thở phào một hơi thật khẽ, thật sâu. Lồng ngực ông phập phồng. Những nếp nhăn khắc khổ trên gương mặt ông dường như giãn ra. Lần đầu tiên sau mười lăm ngày đằng đẵng, một nét bình yên mong manh hiện lên trên khuôn mặt gầy gò, khắc khổ ấy. Ông đã về đến nhà.”
“Anh trai tắt máy xe. Tiếng động cơ im bặt, chỉ còn lại tiếng gió xào xạc qua kẽ lá và tiếng chim hót đâu đó xa xa. Anh bước xuống, cẩn trọng dìu bố ra khỏi xe. Tôi vội vàng xách túi đồ và ôm chặt chiếc làn mây vào lòng, theo bố vào căn nhà ba gian quen thuộc. Ngôi nhà lợp ngói đã cũ, bức tường vôi lấm tấm rêu xanh, nhưng sao mà ấm áp, thân thương đến lạ. Nó không lộng lẫy, không sáng choang như căn hộ của Thảo, nhưng ở đây, từng mét vuông không khí đều mang mùi của gia đình.
Tôi đặt bố ngồi xuống chiếc chõng tre ở góc bếp, nơi có thể nhìn thẳng ra bếp lửa. Anh trai đứng lặng một góc, bóng anh đổ dài trên nền đất nện, gương mặt vẫn cứng lại vì những cảm xúc không tên. Không một lời giục giã, tôi xắn tay áo lên, đi thẳng vào bếp. Mọi thứ vẫn y nguyên như khi tôi rời đi.
Tiếng dao lách cách trên thớt, nhanh và dứt khoát. Hành lá, tía tô được thái nhỏ, mùi hăng hăng thơm nồng lan toả. Tôi vo một nắm gạo, bắc nồi cháo lên bếp củi. Ngọn lửa bùng lên, liếm vào đáy nồi gang đen bóng, reo tí tách vui tai. Bên cạnh, một nồi cá rô đồng nhỏ đã được ướp sẵn gia vị cũng bắt đầu sôi liu riu, mùi nước hàng thắng đậm, mùi riềng, mùi nghệ quyện vào nhau, tạo thành một hương vị đặc quánh của quê nhà.
Ông bố ngồi đó, lưng khom khom, mắt không rời bếp lửa. Ông hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng. Mùi cháo hành, mùi cá kho… những mùi hương mà ông tưởng đã vĩnh viễn mất đi trong không khí khử trùng lạnh lẽo của bệnh viện và mùi nước xịt phòng sang trọng ở nhà Thảo, giờ đây đang ùa về, bao bọc lấy ông. Nó như một liều thuốc tiên, xoa dịu đi từng tế bào đang mỏi mệt.
Chẳng mấy chốc, một bát cháo nóng hổi, rắc đầy hành tía tô và chút tiêu đã được đặt vào tay bố. Ông không nói gì, run run cầm lấy thìa. Miếng cháo đầu tiên đưa vào miệng. Vị ngọt của gạo, vị thơm của hành, vị ấm của tía tô… tất cả tan ra, thấm vào từng chân tơ kẽ tóc. Ông ăn. Ăn ngấu nghiến như một đứa trẻ đã bị bỏ đói từ lâu. Hết bát thứ nhất, tôi lại múc thêm bát nữa. Ông cũng ăn cạn sạch, không sót một giọt.
Ông đặt chiếc bát rỗng xuống, ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt trũng sâu nay đã ánh lên một nét trong trẻo. Khóe miệng ông nhếch lên, tạo thành một nụ cười hiền hậu, móm mém, nụ cười mà đã lâu lắm rồi tôi không được thấy. Giọng ông vẫn còn hơi khàn, nhưng đã ấm áp trở lại: “”Đúng là không đâu bằng nhà mình””.
Lời nói của bố nhẹ như gió thoảng, nhưng lại như một nhát búa giáng mạnh vào lồng ngực anh trai đang đứng ở góc phòng. Anh khẽ giật mình, cúi gằm mặt xuống, hai vai run lên bần bật.”
“Một tháng trôi qua nhanh như một cái chớp mắt. Cuộc sống ở quê quay về với nhịp điệu yên ả vốn có. Sức khoẻ của bố tôi hồi phục một cách kỳ diệu. Ông lại có thể ra vườn cuốc đất, tỉa cây, chiều chiều lại ngồi ngoài hiên uống bát nước chè xanh, giọng nói đã trong trẻo trở lại.
Rồi một buổi trưa, chiếc xe hơi quen thuộc lại đỗ xịch trước cổng. Nhưng lần này, chỉ có một mình anh trai tôi bước xuống. Anh không còn vẻ bảnh bao, tự tin như trước. Thay vào đó là một bộ dạng tiều tụy, người gầy rộc đi, đôi mắt trũng sâu trĩu nặng mệt mỏi. Anh xách vào nhà mấy túi quà lớn nhỏ, nhưng cử chỉ ngượng nghịu, thiếu tự nhiên.
Anh chào bố một tiếng lí nhí rồi ngồi xuống chiếc ghế đẩu, đối diện bố. Anh không nói gì thêm, chỉ ngồi đó, lặng lẽ nhìn bố. Anh nhìn thấy sự bình yên thực sự trên gương mặt bố, một sự bình yên mà căn hộ sang trọng và những viên thuốc đắt tiền của Thảo không bao giờ mang lại được. Ánh mắt anh lướt qua khoảng sân, gian bếp, những thứ mà trước đây anh cho là cũ kỹ, quê mùa, giờ đây lại hiện lên một sự ấm áp đến nhói lòng. Bố tôi cũng chỉ lặng lẽ nhìn anh, trong ánh mắt không có một lời trách móc, chỉ có sự bao dung của người cha.
Cuộc gặp gỡ diễn ra trong im lặng như thế. Bữa cơm trưa cũng chỉ có tiếng bát đũa va vào nhau. Anh ăn rất ít, gần như chỉ và vài miếng cho có lệ.
Trước khi về, anh kéo tôi ra một góc sân, nơi bố không nghe thấy. Anh nhìn tôi, ánh mắt chất chứa một nỗi ân hận sâu sắc. Giọng anh khản đặc, mệt mỏi.
“”Anh và cô ấy… đã ly thân rồi.””
Tôi sững người trong giây lát, nhưng không quá ngạc nhiên. Đó là một kết cục đã được báo trước. Anh trai tôi cúi đầu, giọng nói như một tiếng thở dài.
“”Anh đã sai, em ạ. Anh cứ nghĩ mang những thứ tốt nhất cho bố là quan tâm, nhưng anh đã sai. Anh đã hiểu ra rồi… sự quan tâm không phải là áp đặt, mà là thấu hiểu.””
Nói rồi, anh rút từ trong túi ra một cọc tiền dày cộp, dúi vào tay tôi. Tôi giật mình định trả lại nhưng anh đã giữ chặt tay tôi lại.
“”Em cầm lấy đi. Coi như là anh chuộc lỗi. Nhờ em… chăm sóc bố giúp anh.””
Nói xong, anh quay người bước nhanh ra xe, không dám ngoảnh lại nhìn thêm một lần nào nữa. Chiếc xe lao đi, để lại một làn bụi mờ mịt. Tôi đứng đó, sững sờ nhìn theo, cọc tiền trong tay bỗng trở nên nặng trĩu.”
“Tôi đứng sững sờ giữa khoảng sân, cọc tiền trên tay bỗng nặng trĩu một nỗi niềm khó tả. Bụi đã tan, chiếc xe của anh trai đã khuất dạng sau rặng tre cuối làng, nhưng tiếng động cơ dường như vẫn còn văng vẳng bên tai.
Bố tôi từ trong nhà bước ra, tay cầm chiếc ấm chè xanh. Ông không hỏi tôi chuyện gì, cũng không nhìn vào cọc tiền. Ông chỉ lặng lẽ nhìn tôi, ánh mắt hiền từ và bao dung như mặt hồ thu không gợn sóng.
“”Vào nhà đi con, nắng rồi.””
Tôi vội giấu cọc tiền vào túi áo khoác, bước theo bóng lưng gầy nhưng đã thẳng thớm trở lại của bố. Mấy ngày sau đó, cuộc sống vẫn tiếp diễn trong sự bình yên đến lạ.
Bố tôi dần khoẻ mạnh hẳn. Ông lại có thể vác cuốc ra mảnh vườn sau nhà, vun lại mấy luống rau lang. Tiếng ông gọi bầy gà con lích chích mỗi sớm mai trong trẻo và vui vẻ. Giọng ông không còn khàn đặc, tù túng như khi ở trên thành phố nữa. Nó trong và ấm như nắng tháng Mười. Ông lại vui vẻ với mảnh vườn, với con gà, với những thói quen cũ kỹ mà ông đã gắn bó cả một đời.
Một buổi chiều, tôi dọn cơm. Trên mâm chỉ có đĩa rau luộc, bát cà pháo và một hũ mắm tép chưng thơm nức mũi – món khoái khẩu của bố. Bố gắp một đũa cơm trắng, chấm vào hũ mắm tép, ăn ngon lành. Gương mặt ông giãn ra, ánh lên một niềm vui giản dị mà viên mãn.
Khoảnh khắc đó, tôi chợt nhận ra tất cả. Tôi nhớ lại những bữa ăn đắt tiền ở nhà anh trai, nơi chị dâu Thảo luôn giảng giải về “”dinh dưỡng khoa học””, về “”thực phẩm organic””. Chị đã ép bố ăn những thứ mà chị cho là tốt nhất, nhưng lại tước đi của ông niềm vui được ăn món mình thích. Chị cố gắng “”văn minh hoá”” bố bằng những viên thực phẩm chức năng xa xỉ, nhưng lại không thể mang lại cho ông một giấc ngủ ngon.
Sự hiếu thảo thực sự không nằm ở những thứ ‘khoa học’, đắt tiền mà chị dâu cố áp đặt. Nó nằm ở sự quan tâm chân thành đến cảm xúc và thói quen của người mình yêu thương. Tôi nhìn hũ mắm tép dân dã trên mâm cơm, bất giác mỉm cười. Đôi khi, một hũ mắm tép còn quý hơn ngàn lời nói ‘văn minh’ sáo rỗng.
Những ngày sau đó, anh trai tôi không gọi điện, cũng không quay về. Cọc tiền vẫn nằm im trong tủ, như một vật chứng câm lặng cho một biến cố đã qua. Tôi không dùng đến nó, cũng không nói cho bố biết. Tôi hiểu, thứ bố cần không phải là tiền, mà là sự bình yên. Sóng gió rồi cũng qua, ngôi nhà nhỏ ở quê lại trở về với nhịp điệu vốn có. Tiếng gà gáy mỗi sớm, mùi khói bếp quyện vào sương chiều, tiếng bố tôi ho hắng trong trẻo ngoài hiên nhà. Những âm thanh và mùi vị ấy, bình dị và thân thuộc, lại chính là liều thuốc chữa lành hiệu nghiệm nhất cho tất cả chúng tôi. Tôi đã học được một bài học sâu sắc về sự hiếu thảo. Nó không phải là việc áp đặt những điều ta cho là tốt nhất lên người khác, mà là lắng nghe và thấu hiểu những gì họ thực sự cần. Nó không phải là những món quà đắt tiền hay những lời nói hoa mỹ, mà là sự hiện diện, là một bữa cơm đúng vị, là sự kiên nhẫn nhìn người thân của mình được sống là chính họ. Có lẽ, anh trai tôi cũng đã nhận ra điều đó, dù cái giá phải trả quá đắt. Và Thảo, có lẽ cô ấy cũng chỉ là một nạn nhân của chính sự hoàn hảo và những tiêu chuẩn cứng nhắc mà cô tự đặt ra. Cuối cùng, thứ còn lại không phải là sự trách móc, mà là một nỗi cảm thông man mác. Cuộc đời vốn dĩ là một hành trình dài để học cách yêu thương cho đúng. Và đôi khi, chúng ta phải đi một vòng thật lớn, qua bao nhiêu lầm lỡ, để rồi nhận ra hạnh phúc thực sự lại nằm ở ngay nơi ta bắt đầu.”

