Cha ʜấᴘ ʜốɪ gọi 3 cuộc điện thoại, không đứa ᴄᴏɴ ɢáɪ nào ʙắᴛ ᴍáʏ… đến lúc ông ᴍấᴛ, họ lập tức về bàn chuyện ʙáɴ ɴʜà ᴄʜɪᴀ tiền
Một xã ɴʜỏ ᴠᴇɴ sôɴɢ thuộc tỉnh miền Trung, nơi người ta vẫn tự hào về truyền thống hiếu nghĩa, nơi những đứᴀ ᴄᴏɴ đi làm ăn xa mỗi dịp Tết đều trở về ᴛʜắᴘ ɴʜᴀɴɢ cho cha mẹ. Nhưng chính ở mảnh đất tưởng chừng êm đềm ấy, một ʙɪ ᴋịᴄʜ đᴀᴜ ʟòɴɢ đã xảy ra – khi một người ᴄʜᴀ ɢɪà ǫᴜᴀ đờɪ ᴛʀᴏɴɢ ᴄô độᴄ, ᴄòɴ ʙᴀ ɴɢườɪ ᴄᴏɴ ɢáɪ của ông chỉ kịp trở về… để ᴋý ɢɪấʏ ʟᴏ ʜậᴜ sự.
Ông Nguyễn Văn L., 𝟽𝟾 ᴛᴜổɪ, từng là một người thợ mộc nổi tiếng trong vùng. Cả đời ông sốɴɢ ʜɪềɴ ʟàɴʜ, ᴄʜịᴜ ᴋʜó, ᴛᴀʏ ɴɢʜề ᴋʜéᴏ ʟéᴏ. Những chiếc giường, chiếc tủ do ông làm ra từng có mặt trong nhiều căn nhà trong xã.
Vợ ông ᴍấᴛ sớᴍ, để lại cho ông ʙᴀ ᴄô ᴄᴏɴ ɢáɪ: Lan, Hạnh và Phượng. Từ ngày ᴠợ ᴍấᴛ, ông L. vừa làm cha vừa làm mẹ. Ban ngày đi làm mộc, tối về nấu cơm, giặt giũ, chăm từng đứa con học hành.
Người trong làng ai cũng nhớ hình ảnh người đàn ông ɢầʏ ɢò ấʏ ᴄʜở ʙᴀ ᴄô ᴄᴏɴ ɢáɪ ᴛʀêɴ ᴄʜɪếᴄ xᴇ đạᴘ ᴄũ mỗi sáng đến trường. Ông thường nói:
“Con ɢáɪ cũng phải học hành tử tế, sᴀᴜ ɴàʏ ᴋʜôɴɢ ᴛʜᴜᴀ ᴋéᴍ ai.”
Ba ᴄô ᴄᴏɴ ɢáɪ lớn lên, lần lượt học xong rồi ʀờɪ ǫᴜê lên thành phố lập nghiệp. Lúc đầu, họ còn gọi điện về thăm cha, gửi ít tiền phụ giúp. Nhưng rồi, cuộc sống ʙậɴ ʀộɴ, ɢɪᴀ đìɴʜ ʀɪêɴɢ, ᴄᴏɴ ᴄáɪ… ᴋʜɪếɴ ɴʜữɴɢ ᴄᴜộᴄ ɢọɪ ɴɢàʏ ᴄàɴɢ ᴛʜưᴀ ᴛʜớᴛ.
Ông L. vẫn sống một mình trong căn ɴʜà ɢỗ ᴄũ. Mỗi ngày ông ra vườn chăm mấy luống rau, nuôi vài con gà. Thỉnh thoảng, hàng xóm ghé qua hỏi thăm.
Ông vẫn hay cười:
“ᴄᴏɴ ɢáɪ tôi ở xa, ʙậɴ ʟắᴍ. Khi nào rảnh nó về.”
Nhưng thực tế, đã hơn ba năm… không ai về thăm.
Năm ngoái, ông bắt đầu ʏếᴜ đi. ᴄăɴ ʙệɴʜ ᴛɪᴍ ᴋʜɪếɴ ôɴɢ ᴛʜườɴɢ xᴜʏêɴ ᴄʜóɴɢ ᴍặᴛ, ᴛʜở ᴅốᴄ. ʜàɴɢ xóᴍ ᴋʜᴜʏêɴ ôɴɢ ɢọɪ ᴄᴏɴ ᴠề ᴄʜăᴍ sóᴄ.
Ông chỉ ʟắᴄ đầᴜ:
“Tụi nó còn công việc, gọi về chi cho ᴘʜɪềɴ.”
Thế nhưng, đến một ngày ông ɴɢã ǫᴜỵ giữa sân. Ông Bảy – người hàng xóm – phát hiện và gọi điện cho ba người con.
Cuộc gọi đầu tiên cho Lan.
“Ba con ngã rồi, chắc phải đưa đi ʙệɴʜ ᴠɪệɴ.”
Đầu dây bên kia im lặng vài giây rồi đáp:
“Cháu đang họp, chú đưa ba cháu đi trước, cuối tuần cháu sắp xếp về.”
Cuộc gọi thứ hai cho Hạnh.
“Ba con ʏếᴜ lắm rồi.”
Hạnh ᴛʜở ᴅàɪ:
“Chú ơi, giờ con đang ᴋẹᴛ ᴄᴏɴ ɴʜỏ, ᴄʜồɴɢ ᴄᴏɴ đɪ ᴄôɴɢ ᴛáᴄ. ᴄʜú xᴇᴍ ɢɪúᴘ vài hôm.”
Cuộc gọi thứ ba cho Phượng.
Cô nói nhanh:
“Ba ɢɪà ʀồɪ, ʙệɴʜ ᴠặᴛ thôi. Chú cho ông ᴜốɴɢ ᴛʜᴜốᴄ ɴɢʜỉ ɴɢơɪ là được.”
Cuối cùng, ông Bảy và mấy người trong xóm phải ɢóᴘ ᴛɪềɴ đưᴀ ôɴɢ ʟ. ᴠàᴏ ʙệɴʜ ᴠɪệɴ ʜᴜʏệɴ.
Ông ɴằᴍ ᴠɪệɴ ba ngày.
Ba ngày ấy… không một người con nào xuất hiện.
Ngày thứ tư, ông xin về.
ʙáᴄ sĩ ʙảᴏ:
“ᴄụ ᴘʜảɪ ᴄó ɴɢườɪ ᴄʜăᴍ sóᴄ.”
Ông chỉ ᴄườɪ ʙᴜồɴ:
“ᴛôɪ ǫᴜᴇɴ ʀồɪ.”
Ôɴɢ ᴛʀở ʟạɪ ᴄăɴ ɴʜà ᴄũ.
Những ngày sau đó, hàng xóm thỉnh thoảng mang cơm qua. Nhưng ai cũng có ɢɪᴀ đìɴʜ ʀɪêɴɢ, ᴋʜôɴɢ ᴛʜể ở ʙêɴ ôɴɢ suốt ngày.
Một buổi chiều mưa lớn, người ta thấy cửa nhà ông L. đóng kín.
Đến hôm sau, ông Bảy qua gọi mãi không nghe tiếng trả lời. Ông đẩy cửa bước vào thì phát hiện ông L. nằm trên giường tre, người ʟạɴʜ ɴɢắᴛ.
Bên cạnh ông là ᴄʜɪếᴄ đɪệɴ ᴛʜᴏạɪ ᴄũ.
Trong ᴅᴀɴʜ ʙạ, ʙᴀ ᴄᴜộᴄ ɢọɪ ᴄᴜốɪ ᴄùɴɢ đềᴜ ʟà… ᴛêɴ ʙᴀ ᴄô ᴄᴏɴ ɢáɪ.
Không ai ʙắᴛ ᴍáʏ.
Tin ông L. ᴍấᴛ ʟᴀɴ ʀᴀ khắp làng.
Người ta gọi điện báo cho các con.
Hai ngày sau, ba người con gái mới về.
Họ ᴍặᴄ đồ đᴇɴ, đᴇᴏ ᴋíɴʜ ʀâᴍ, đứɴɢ ᴛʀướᴄ ǫᴜᴀɴ ᴛàɪ ᴄʜᴀ ᴠớɪ ᴠẻ ᴍặᴛ ʟặɴɢ ʟẽ. Nhưng điều khiến ᴅâɴ ʟàɴɢ ᴘʜẫɴ ɴộ nhất là khi họ ᴛʀᴀɴʜ ᴄãɪ… ɴɢᴀʏ ʙêɴ ᴄạɴʜ ʟɪɴʜ ᴄữᴜ.
Lan nói:
“ʙáɴ ɴʜà đɪ ᴄʜɪᴀ ᴛɪềɴ cho dễ.”
Hạnh ɢậᴛ đầᴜ:
“Để nhà vậy ai trông.”
Phượng thì thêm vào:
“Ba ᴍấᴛ ʀồɪ, ɢɪữ ɴʜà làm gì.”
Những lời ấy lọt vào tai hàng xóm.
Ông Bảy không ᴋìᴍ đượᴄ, đậᴘ ʙàɴ ǫᴜáᴛ:… mời quý độc giả xem tiếp tại phần bình luận, chọn Tất cả bình luận
Đôi tay gầy guộc của ông Bảy siết chặt cạnh chiếc bàn thờ gỗ mộc, đập mạnh xuống mặt bàn khiến chén nước, bát hương rung lên bần bật. Mặt ông đỏ bừng, gân cổ nổi xanh, ngón tay chai sần chỉ thẳng vào Lan, Hạnh, Phượng đang đứng cúi mặt bên cạnh linh cữu Nguyễn Văn L.
“Các người có còn lương tâm không! Cha các người vừa mất, miệng còn chưa lạnh mà đã bàn chuyện bán nhà chia tiền!”
Giọng ông Bảy vang rền trong căn nhà gỗ chật hẹp, khiến đám đông hàng xóm đứng vây quanh ngoài sân xì xào bàn tán. Người lắc đầu ngao ngán, người chỉ trỏ phỉ nhổ, có cụ già còn nghẹn ngào: “Trời đất, đâu lại có chuyện vô tâm thế này.”
Lan khẽ ngẩng đầu, môi mấp máy lí nhí: “Chú Bảy nói nặng quá, bọn con đâu có ý đó. Nguyễn Văn L. mất rồi, nhà vắng chủ, để đó rồi hư hỏng cũng phí…”
“Bớt cãi!” Ông Bảy run rẩy, giọng nghẹn lại vì uất ức. “Nguyễn Văn L. nằm viện ba ngày, ai đến thăm? Ngày ông ấy ngã quỵ gọi điện mấy người, ai về? Đến lúc ông ấy mất, ba cuộc gọi nhỡ còn nằm trong chiếc điện thoại cũ, mấy người có hay không?”
Hạnh vội kéo tay áo Lan, giọng thì thào: “Chị ơi, đừng nói nữa, hàng xóm nhìn kìa.”
Phượng nhún vai, định mở lời thì ông Bảy đã quát tiếp: “Nguyễn Văn L. ngày xưa đạp xe đạp cũ chở ba chị em đi học, tối về nấu cơm giặt đồ cho, giờ già yếu ốm đau không một tiếng hỏi thăm. Đến lúc mất, chỉ về để bàn chuyện chia chác tài sản? Các người có còn là con người không!”
Lan cúi gằm mặt, giày dép nhấn chặt xuống nền đất, lòng thầm nghĩ: “Chú Bảy sao mà kỳ cục, việc nhà tôi chú can thiệp gì chứ.” Nhưng không dám cãi lớn, chỉ nói lí nhí: “Bọn con bận công việc, thành phố xa lắm chú ơi…”
“Xa? Cách mấy trăm cây số mà ba năm không về thăm cha? Lúc Nguyễn Văn L. ốm đau, mấy người nói bận, giờ ông ấy mất rồi, mấy người lại rảnh rỗi bay về ngay được?” Ông Bảy chỉ tay vào chiếc điện thoại cũ đặt bên cạnh linh cữu Nguyễn Văn L., màn hình vẫn sáng hiển thị ba cuộc gọi nhỡ từ số của ba cô gái. “Đây, nhìn xem! Đây là những gì cuối cùng ba chị em để lại cho ông ấy! Các người có xấu hổ không!”
Đám đông xì xào to hơn, có người hét lên: “Đuổi hết mấy đứa vô tâm này ra khỏi làng!” “Ăn không ngon nghỉ không yên đâu các người ơi!”
Lan cúi mặt đến mức tóc che hết cả mắt, Hạnh đứng bên cạnh siết chặt tay áo, Phượng quay mặt nhìn ra ngoài sân, không dám đối diện với ánh mắt phẫn nộ của hàng xóm.
Lan bật ngẩng mặt lên, đôi mày nhíu chặt, vẻ mặt khó chịu hiện rõ, hai tay khoanh sát trước ngực, tư thế ngang ngược rõ rệt. Hạnh và Phượng đứng cạnh lén liếc nhau, gật đầu lia lịa tỏ ý đồng tình với chị gái.
“Chú Bảy nói vậy là sai rồi, nhà là tài sản của cha để lại, chúng tôi có quyền định đoạt.” Giọng Lan vang lên sắc lạnh, không còn lí nhí như lúc trước, đầy vẻ ngang ngược.
Ông Bảy trợn trừng đôi mắt đỏ ngầu, ngón tay chai sần run rẩy chỉ thẳng vào mặt Lan, giọng nghẹn lại vì uất ức tột độ: “Mày nói cái gì? Nguyễn Văn L. gánh vác cả đời xây nên căn nhà này, ngày ốm đau mấy đứa không thèm nhìn mặt, giờ còn đòi quyền? Có còn chút lương tâm nào không!”
Hạnh khẽ bước lên nửa bước, giọng vẫn run nhưng cố giữ vẻ cứng cỏi: “Chú Bảy đừng nói nặng thế, pháp luật ghi rõ con cái là người thừa kế hợp pháp mà. Bọn em bận công việc thật, thành phố xa xôi, không phải chúng em không muốn về.”
Phượng quay mặt lại từ ngoài sân, nhún vai bồi thêm: “Đúng đấy chú, Nguyễn Văn L. lúc sống còn bảo bọn em lo cho mình trước, đấy, chiếc điện thoại cũ của ông ấy toàn gọi cho bọn em hỏi thăm sức khỏe, chứ có bao giờ bắt bọn em về đâu.”
Đám đông hàng xóm vây quanh ngoài sân lắc đầu ngao ngán, có người phỉ nhổ xuống đất, có cụ già lẩm bẩm cầu nguyện cho Nguyễn Văn L. an nghỉ. Tiếng xì xào bàn tán vang lên khắp khoảng sân nhỏ, nhưng ba chị em Lan vẫn đứng đó, khoanh tay, nhìn ông Bảy với ánh mắt đầy kiêu ngạo, không một chút hối lỗi.
Đúng lúc đó, Hạnh bước hẳn lên phía trước, đôi mắt liếc nhanh về phía linh cữu Nguyễn Văn L. rồi nhanh chóng đổ dồn về phía ông Bảy. Giọng cô ta bỗng trở nên the thé, cao vút đầy sắc sảo, cố tình lấn át tiếng xì xào của bà con hàng xóm.
“Chú Bảy ơi, chú nói thế là không phải đạo lý rồi!” Hạnh nói, giọng run run nhưng đầy vẻ đanh đá. Cô ta khẽ nâng khóe mắt, hai hàng mi chớp chớp liên tục khiến nước mắt giả tạo lưng tròng, trào ra một cách đầy tính diễn xuất. “Cha nuôi chúng tôi lớn, giờ cha đi rồi, lấy tiền nhà chia để mỗi người có vốn làm ăn, có gì sai?”
Hạnh lấy tay áo quẹt nhẹ dưới mắt, dù thực tế không một giọt nước mắt nào rơi xuống khóe má. Cô ta nhìn xung quanh, như muốn tìm kiếm sự ủng hộ từ đám đông, nhưng chỉ nhận lại những ánh mắt khinh bỉ.
“Cha một đời tần tảo, giờ chúng tôi lấy lại chút vốn liếng để lo cho tương lai của con cháu ông ấy, chẳng lẽ lại để ngôi nhà gỗ cũ kỹ này trơ trọi không người thừa kế? Chú đừng nhìn bọn em bằng ánh mắt như tội đồ chứ.”
Ông Bảy đứng lặng người, đôi tay chai sần buông thõng xuống. Ông nhìn Hạnh, rồi nhìn sang Lan và Phượng, cái nhìn như muốn xuyên thấu tấm lòng đen tối của họ. Một tiếng thở dài hắt ra từ khoang ngực già nua. Ông Bảy khẽ nhếch mép, một nụ cười nhạt hiện ra đầy mỉa mai, chẳng hề có chút hân hoan nào.
“Vốn làm ăn?” Ông Bảy lặp lại, giọng khàn đặc. “Vốn làm ăn bằng xương máu của Nguyễn Văn L. các người vừa mới bòn rút xong ngoài kia đó à? Các người nói chuyện chia chác ngay cạnh quan tài cha mình mà không thấy lạnh sống lưng sao?”
Hạnh nghiến răng, giả vờ lấy tay che miệng để giấu đi vẻ bối rối, thực chất là để che giấu nụ cười thầm lặng khi nghĩ đến mớ tiền sắp chia đều. Cô ta thầm nhủ: “Phải làm nhanh kẻo dân làng đứng ra ngăn cản, nhà này bán là cái chắc.”
“Chú đừng nói nặng lời nữa, pháp luật ghi rõ…” Lan chen ngang, cố gắng lấy lý lẽ để bảo vệ cho sự vô cảm của cả ba chị em.
Nhưng ông Bảy đã quay lưng đi, không buồn nhìn mặt những kẻ đang đứng trên nỗi đau của Nguyễn Văn L. để sẻ chia tham vọng. Bầu không khí trong sân nhà gỗ lúc này đặc quánh sự tức tưởi và mùi của sự giả nhân giả nghĩa.
Phượng đứng im lặng suốt từ khi Hạnh lên tiếng tranh cãi với ông Bảy, nay mới khẽ nhích người về phía trước. Cô ta rút chiếc điện thoại thông minh từ túi áo khoác, móng tay sơn đỏ quệt nhẹ lên màn hình, mở ứng dụng định giá bất động sản. Đôi mắt Phượng dán chặt vào dòng số hiện ra, đồng tử bỗng giãn ra, ánh sáng tham lam bùng lên rực rỡ, lấn át cả vẻ tang chế giả tạo cô ta cố tình tạo ra từ sáng.
Cô ta vỗ nhẹ tay vào Lan rồi Hạnh, giọng the thé kéo dài đầy kích động: “Tôi vừa hỏi môi giới rồi, nhà này vị trí đẹp, bán ngay được 2 tỷ, mỗi đứa lấy hơn 600 triệu, đủ mua căn chung cư nhỏ.”
Tiếng xì xào của bà con hàng xóm đang đứng vây quanh sân nhà gỗ bỗng chốc lặng phắt. Ông Bảy đang quay lưng đi khựng lại, vai run nhẹ, không ngờ ba cô gái lại trơ trẽn đến mức này. Một bà cụ đứng gần cổng nhà nắm chặt tay áo người bên cạnh, khóe môi run rẩy vì phẫn nộ nhưng không thốt nên lời. Những người khác cũng im lặng, ánh mắt nhìn ba chị em như nhìn những kẻ lạ mặt tàn nhẫn, không ai ngờ chúng có thể bàn chuyện chia chác ngay cạnh linh cữu cha mình mà không chút áy náy.
Lan và Hạnh liếc nhanh sang nhau, nụ cười ẩn sau lớp khẩu trang y tế vừa được đeo lên sớm nay. Hạnh lẩm bẩm nhỏ, đủ để Phượng nghe thấy: “Tao đã bảo, bán nhanh là lợi nhất. Chờ thêm mấy ngày dân làng nhao nhao lên phản đối thì mệt lắm.”
Phượng gật gù, ngón tay vẫn lướt trên màn hình điện thoại, gửi tin nhắn cho môi giới bất động sản quen biết, thông báo sẽ mang giấy tờ nhà ra ngay chiều nay để làm thủ tục. Cô ta thầm nghĩ: “Cha già chết rồi, để lại cái nhà gỗ cũ này làm gì, bán lấy tiền chia nhau mỗi đứa có chút vốn, đỡ phải còng lưng làm thuê ở thành phố.”
Gió lùa qua khe cửa nhà gỗ, thổi nhẹ lên tấm liệm trắng phau phủ trên linh cữu Nguyễn Văn L., chiếc điện thoại cũ của ông đặt cạnh đầu nệm vẫn hiện lên ba cuộc gọi nhỡ từ ba số máy lạ—chính là ba cô con gái đang hào hứng bàn chuyện chia chác kia, vào ngày ông hấp hối không ai thèm đến thăm.
Đột nhiên, một cụ bà 80 tuổi chống gậy tre nứt nẻ từ phía sau đám đông bước lên phía trước. Áo bà ba nâu sờn vai, mái tóc bạc phơ buộc gọn sau gáy, cụ bước từng bước chậm chạp nhưng chắc chắn, ánh mắt đỏ hoe nhìn thẳng vào ba chị em Lan, Hạnh, Phượng đang đứng cạnh bàn thờ.
Phượng đang gõ tin nhắn cho môi giới giật mình ngẩng lên, nhíu mày khó chịu: “Bà vào đây làm gì? Chúng tôi đang bận việc, không có thời gian nói chuyện lôi thôi.”
Cụ bà không đáp, cứ tiến sát tới tận mép bàn thờ, tay run run chỉ vào linh cữu Nguyễn Văn L., giọng nghẹn ngào đầy phẫn nộ: “Làm gì? Tao vào đây để nói cho các người biết, cái cha các người mà các người coi như rác rưởi ấy, suốt 3 năm ốm yếu nằm liệt giường, chính là hàng xóm chúng tôi chăm sóc!” Cụ bà khóc nghẹn, lau vội nước mắt bằng gấu áo sờn, “Năm ngoái ông ấy ngã quỵ giữa sân, chính ông Bảy và mấy người đàn ông trong xóm khiêng ông ấy lên bệnh viện huyện, các người có biết không? Lúc đó các người ở đâu? Đang mải mê kiếm tiền, mải mê chăm con cháu mình mà quên mất cha mình đang thoi thóp giữa cõi đời!”
Lan sửa lại khẩu trang y tế, liếc xéo qua kẽ mắt, định lên tiếng cãi nhưng cụ bà đã giơ cao cái gậy, giọng vang rền giữa sân nhà gỗ: “Các người có biết lúc cha các người ốm, ai là người đưa đi viện? Ai là người mang cơm sang cho ông ấy ăn? Chính chúng tôi, hàng xóm này! Tôi già yếu thế này, suốt mấy tháng trời ốm không bước nổi ra khỏi giường, chính ông L. đêm nào cũng nấu cháo, mang cơm sang cho tôi ăn. Vậy mà lúc ông ấy cần con cái nhất, 3 năm trời không thấy bóng dáng các người đâu! Có đứa nào về thăm ông ấy một lần không? Có đứa nào hỏi han ông ấy một lời không?”
Hạnh cúi gằm mặt, tay siết chặt mép áo khoác, không dám ngước mắt nhìn linh cữu cha mình. Phượng cũng ngừng gõ điện thoại, đôi mắt nhìn xuống đất, cổ họng nghẹn lại nhưng vẫn cố giữ vẻ ngoài lạnh lùng. Lan quay mặt sang chỗ khác, giả vờ vuốt lại tà áo dài tang, nhưng lưng cô ta hơi run nhẹ.
Cụ bà khóc nấc lên, ngồi phịch xuống chiếc ghế đẩu bên cạnh bàn thờ, tay ôm lấy mặt: “Ông L. chăm sóc các người từ tấm bé, chở các người đi học bằng chiếc xe đạp cũ, lo từng miếng ăn giấc ngủ. Vậy mà giờ ông ấy mất, các người về ngay để bàn chuyện bán nhà chia tiền, ngay cạnh linh cữu cha mình! Các người có còn lương tâm không? 3 năm trời ông ấy ốm đau, không có một đứa con nào thèm chăm sóc, chính hàng xóm chúng tôi thay nhau nấu ăn, tắm rửa cho ông ấy đấy!”
Đám đông hàng xóm xung quanh lại xôn xao, nhiều người khóc theo, có người chỉ trỏ vào ba chị em, lời bàn tán đầy phẫn nộ vang lên khắp sân: “Trời đất, con cái gì mà ác thế không biết!”, “Ông L. xót xa cả đời vì mấy đứa này, giờ chết rồi còn bị bán nhà, thật là tội nghiệp!”
Phượng thầm nghĩ: “Già rồi lảm nhảm, để bà nói xong tao còn mang giấy tờ ra phố làm thủ tục, chậm trễ là môi giới lấy mất cái nhà.” Cô ta liếc nhanh sang Lan và Hạnh, thấy hai chị cũng cúi gằm mặt, không dám nhìn ai, trong lòng cũng hơi lo nhưng vẫn cố giữ vẻ bình thản.
Lan nhẩm thầm: “Mệt thật, nói xong mau đi cho rảnh, tí nữa còn phải ra phố ký hợp đồng, chậm một ngày là mất mấy chục triệu.” Cô ta cắn nhẹ môi, cố không để tiếng khóc của cụ bà ảnh hưởng đến mình.
Hạnh nhìn xuống đôi giày sneaker đang mang, nhớ lại lúc bé cha mình cõng trên lưng đi học, mắt cay cay nhưng lập tức gạt đi: “Cứ để bà nói, dân làng mà phản đối thì phiền lắm, mau xong việc còn về thành phố.”
Ba chị em vẫn cúi gằm mặt, không ai dám cất tiếng đáp lại lời cụ bà, chỉ nghe tiếng gió rít qua khe cửa, thổi nhẹ lên tấm liệm trắng phau phủ trên linh cữu Nguyễn Văn L., chiếc điện thoại cũ của ông vẫn sáng đèn hiển thị ba cuộc gọi nhỡ chưa từng được nghe máy.
Lan bất chợt ngẩng đầu, đôi môi run rẩy dưới lớp khẩu trang y tế, giọng lắp bắp vỡ ra giữa không gian ngột ngạt đầy tiếng xầm xì của hàng xóm.
“Chúng tôi c-có gửi tiền về, nhưng cha cứ gửi lại, bảo không cần, giờ nói chúng tôi bỏ mặc cha là oan cho chúng tôi.”
Cô ta nói lắp bắp, tay siết chặt mép áo dài tang đến mức các đốt ngón tay trắng bệch. Ánh mắt Lan không dám dừng lâu trên linh cữu Nguyễn Văn L., cứ liếc qua chiếc điện thoại cũ để trên bàn thờ, màn hình vẫn nhấp nháy ba vạch cuộc gọi nhỡ màu đỏ sẫm, gáy đỏ bừng hiện rõ vẻ áy náy.
Lan thầm nghĩ: “Tiền tao chuyển khoản thật mà, cha già cứ hoàn lại thì tao biết sao được.”
Ông Bảy lặng lẽ bước tới, đôi bàn tay chai sần của người hàng xóm khẽ run rẩy nhưng nắm chặt lấy chiếc điện thoại cũ kỹ nằm im lìm trên bàn thờ. Màn hình điện thoại còn nhấp nháy những vạch đỏ như những vết cắt xé tâm can. Ông bỗng quắc mắt nhìn ba cô gái, giọng gằn từng tiếng, sắc lạnh hơn cả lưỡi dao:
“Các người nói gửi tiền, gọi điện thăm cha? Đây, 3 cuộc gọi cuối đời cha các người, các người đều không bắt máy! Có đứa nào bắt máy không?”
Lan trợn tròn mắt, định mở lời bào chữa nhưng ông Bảy đã giơ cao chiếc điện thoại, chỉ thẳng vào màn hình hiển thị ba cuộc gọi nhỡ trong danh bạ.
“Ngày ông ấy ngã quỵ, tôi dùng chính máy này gọi cho Lan, cô ta bảo bận việc không về được. Gọi cho Hạnh, cô ta bảo con nhỏ ốm, chồng đi công tác. Gọi cho Phượng, cô ta còn bảo cha già chỉ bệnh vặt thôi, bảo ông ấy cố gắng lên!”
Phượng đứng sát bên, vội vàng giơ tay đỡ lấy chiếc điện thoại khi ông Bảy đưa về phía mình. Cô bấu chặt lấy chiếc điện thoại, ngón tay lướt run rẩy trên màn hình cảm ứng nhỏ xíu. Những dòng hiển thị “Cuộc gọi nhỡ” hiện ra rõ mồn một, ghi dấu thời gian chính là lúc Nguyễn Văn L. đang hấp hối tại bệnh viện huyện.
Mặt Phượng tái mét, máu dường như rút hết khỏi gương mặt khi cô thấy thời gian của ba cuộc gọi trùng khít với lúc bà con xóm giềng xôn xao tin cha mình nguy kịch. Cô thầm nghĩ: “Sao lúc đó mình lại bấm từ chối cuộc gọi nhanh thế nhỉ? Chỉ vì cái bận rộn vớ vẩn này thôi sao?”
Hạnh cũng chen vào nhìn, đôi môi mấp máy nhưng không thốt nên lời trước sự thật trơ trọi hiện ra trên màn hình. Cả căn phòng bỗng chốc chìm trong sự im lặng ngột ngạt, chỉ còn tiếng thở dốc của những kẻ vừa nhận ra mình đã đánh mất cơ hội cuối cùng để gọi một tiếng “Cha”.
Phượng vẫn bấu chặt chiếc điện thoại cũ của Nguyễn Văn L., ngón tay run rẩy lật ngược lại mục lịch sử cuộc gọi. Màn hình hiện rõ ba dòng log cuộc gọi đi: một đến số của Lan, một đến số của Hạnh, một đến số của cô, cả ba đều ghi trạng thái “Nhỡ”, ngày 12 tháng 8, ba mốc giờ 14:02, 14:15, 14:27. Đúng ngày ông ngã quỵ tại vườn rau, đúng lúc bà con chạy đưa ông vào bệnh viện huyện. Không thêm, không bớt, đúng ba cuộc gọi nhỡ từ cha đến ba chị em vào ngày ông hấp hối.
Cô lí nhí, giọng nghẹn lại: “Xin lỗi cha… con… con không biết cha gọi chúng con hôm đó…”
Mồ hôi vã ra từ trán Phượng, chảy dài xuống cổ, thấm ướt cổ áo sơ mi. Cô siết chặt chiếc điện thoại, lời thoại then chốt bật ra giữa những tiếng nấc:
“Tôi… tôi hôm đó đang họp, không nghe thấy chuông điện thoại… Tôi cứ nghĩ cha lại lên cơn chóng mặt như mọi lần, đâu ngờ…”
Hạnh đứng cạnh bỗng giật mình, tay lục vội túi xách lấy chiếc điện thoại thông minh của mình ra. Cô mở nhật ký cuộc gọi, dòng “Nguyễn Văn L. – Nhỡ” hiện rõ ở khung giờ 14:15 khiến mặt cô tái xanh như tờ giấy, chân run muốn khuỵu xuống nền nhà. Cô thầm nghĩ: “Hôm đó mình đang đợi chồng gọi báo về, sao lại bấm từ chối cuộc gọi của cha nhanh thế?”
Lan cũng vội vàng mở điện thoại, màn hình nhật ký hiện rõ một cuộc gọi nhỡ từ số của Nguyễn Văn L. vào buổi chiều hôm đó, đúng lúc cô đang trình bày dự án then chốt với sếp. Máu rút hết khỏi gương mặt cô, đôi môi mấp máy nhưng không thốt nên lời, chỉ biết nhìn chằm chằm vào chiếc điện thoại cũ trên tay Phượng, nơi còn lưu vết hằn mồ hôi của người cha già từng chở ba chị em đi học bằng chiếc xe đạp cũ suốt bao năm tháng.
Tiếng chuông nhịp nhàng từ gian thờ vọng xuống, khói hương bay lơ lửng phía trên linh cữu Nguyễn Văn L. Ba cô gái đứng sát nhau, lưng ai cũng lấm tấm mồ hôi, không ai dám ngước mắt nhìn vào di ảnh cha đang mỉm cười hiền từ.
Hạnh là người đầu tiên gục ngã. Đầu gối cô khuỵu xuống, toàn bộ người đổ ập xuống nền đất lạnh lẽo của ngôi nhà gỗ cũ. Chiếc điện thoại thông minh tuột khỏi tay, rơi lăn xuống gốc chân bàn thờ vẫn đang nhả khói hương.
Một cơn lốc ký ức ập đến với cô. Hạnh nhớ lại cái bóng lưng gầy guộc của Nguyễn Văn L. dắt chiếc xe đạp cũ, chở cô đi học mỗi sáng, nhớ cái mùi cơm nấu bằng củi hăng hắc mà ông nấu mỗi tối khi cô còn nhỏ, nhớ bàn tay chai sần của ông vỗ về cô mỗi khi khóc.
Nước mắt cô trào ra, không còn là những giọt nước mắt giả dối lúc bàn chuyện bán nhà nữa. Hạnh gục đầu xuống hai gối, tiếng khóc nức nở vang lên giữa gian nhà tĩnh lặng.
“Cha à, con xin lỗi cha… con bận chăm con nhỏ, không về thăm cha được…” Cô gào lên, giọng nghẹn đắng, nước mắt chảy ròng ròng xuống má. “Con ngốc quá, con đáng ghét quá… Con đã bấm từ chối cuộc gọi của cha hôm đó, con tưởng cha lại lên cơn chóng mặt như mọi lần…”
Hạnh bỗng ngẩng phắt đầu lên, hai tay chống xuống đất, rồi đập mạnh trán xuống nền đất lạnh, tiếng “bốp” vang lên đến rợn người. Cô lặp lại, mỗi lần đập đầu là một tiếng xin lỗi, máu mờ đỏ nổi lên trên trán nhưng cô không hề hay biết.
Lan nhìn thấy em gái, vai cô run rẩy, nước mắt cũng trào ra. Cô quỳ xuống bên cạnh Hạnh, tay vỗ nhẹ lên lưng em nhưng không nói nên lời, chỉ biết khóc theo tiếng nức nở của em.
Phượng cũng bỏ chiếc điện thoại cũ của Nguyễn Văn L. xuống, quỳ xuống phía bên kia Hạnh, mặt cô nhăn nhó, khóc nức nở vì tội lỗi.
Bên ngoài hiên nhà, ông Bảy và mấy người hàng xóm đứng nhìn vào, lắc đầu không nói. Họ đã thấy cảnh này bao lần: những giọt nước mắt muộn màng của những đứa con bỏ cha già một mình suốt ba năm trời, giờ Nguyễn Văn L. mất rồi mới về khóc lóc, rồi còn bàn chuyện bán nhà chia tiền ngay cạnh linh cữu.
Ông Bảy phả một làn khói thuốc lào, giọng đầy chua chát: “Nước mắt bây giờ có đổi được mạng người không? Hồi Nguyễn Văn L. nằm viện ba ngày, mấy đứa có đến đâu? Giờ ông mất rồi, khóc than làm chi cho người ta cười.”
Mấy người hàng xóm xung quanh đều gật đầu đồng tình, không ai thương hại cho mấy đứa con gái đang khóc thét trong nhà. Họ biết, đó chỉ là những giọt nước mắt vì tội lỗi, chứ không phải vì tình thương cha già thật sự.
Lan đột ngột đứng thẳng dậy, cùi chỏ ấn mạnh vào đùi để lấy đà, lau vội vã hai hàng nước mắt bằng mu bàn tay thô ráp vì hàng chục năm làm việc vất vả ở thành phố. Khuôn mặt Lan vừa còn nhòe nhoẹt nước mắt giờ lập tức trở lại vẻ khô khốc, vô cảm, đôi mắt sắc lạnh rời khỏi linh cữu Nguyễn Văn L. đang nằm bất động phía trước bàn thờ hương khói nghi ngút.
Lan khoanh tay trước ngực, giọng nói lạnh tanh vang lên giữa không gian tĩnh lặng của ngôi nhà gỗ: “Khóc lóc gì nữa, cha đã không còn, bán nhà chia tiền mỗi đứa có một khoản, để làm ăn, cha dưới suối vàng cũng an lòng.”
Hạnh vẫn đang gục đầu lên hai gối, tiếng khóc nức nở lập tức nghẹn lại. Hạnh ngẩng lên, trán còn vết đỏ ửng do đập xuống nền đất lúc nãy, mắt sưng húp nhìn Lan, nước mắt còn vương trên má nhưng không rơi nữa. Phượng ở bên cạnh Hạnh cũng vội vàng lau nước mắt, đứng lên sát cạnh Lan, tay mân mê chiếc điện thoại thông minh như đang chờ đợi chỉ thị.
Lan nhếch mép cười nhẹ, ánh mắt đã không còn chút buồn bã nào, chỉ còn vẹn nguyên sự tính toán, tham lam khi nhìn sang mảnh sân vườn rộng trước nhà. Lan tiếp tục nói, giọng vẫn lạnh lùng: “Chiều nay gọi môi giới lên xem nhà, định giá xong chia tiền cho nhanh, Nguyễn Văn L. mất rồi lo hậu sự xong mỗi đứa về thành phố làm việc, đợi chi nữa.”
Hạnh do dự một chút, nhìn sang linh cữu Nguyễn Văn L., rồi gật đầu nhẹ. Phượng không chần chừ chút nào, lập tức gật đầu lia lịa, tay lướt nhanh trên màn hình điện thoại tìm số điện thoại môi giới bất động sản. Hạnh và Phượng đều đã ngừng khóc hẳn, trong mắt chỉ còn đồng tình với phương án của Lan.
The low murmur of the neighbors seated on the rattan mats near the entrance of the old wooden house abruptly fell silent. Ông Bảy, who had been sitting with his head hung low, fingers digging into the armrest of the bamboo chair until his knuckles turned pale, suddenly pushed himself up. The chair creaked loudly in the quiet room. He stared at Lan, Hạnh, Phượng, eyes burning with a mix of fury and bone-deep weariness. The other five neighbors, all locals who had brought meals to Nguyễn Văn L. when he was sick, exchanged hushed, disgusted glances, then stood up one by one, gathering their belongings to leave.
Lan crossed her arms, noticing the movement. She scoffed, her voice cutting through the silence: “Đi đâu đấy? Vừa nãy còn tụ tập đây bàn tán chuyện nhà chúng tôi, giờ thấy không có gì để móc mỉa nữa nên bỏ về à?”
Hạnh stepped up beside Lan, wiping her hands on her skirt, face blank. Phượng tucked her phone into her pocket, smirking at the retreating neighbors.
Ông Bảy stopped near the door, turning back, his voice trembling with rage: “Tôi không ngờ các cô lại vô tình đến thế. Nguyễn Văn L. nằm đó, chưa đầy hai ngày mất, các cô đã bàn chuyện bán nhà chia tiền ngay trước linh cữu cha mình. Chúng tôi giúp ông ấy khi ốm đau, lo hậu sự khi các cô chẳng thèm về thăm dù ông ấy gọi ba cuộc gọi nhỡ, giờ các cô lại bảo chúng tôi bàn tán?”
Lan rolled her eyes, stepping forward, tone icy: “Chúng tôi không cần các người giúp, các người về đi, đừng có phán xét chuyện nhà chúng tôi.”
The other neighbors gasped, shaking their heads. No one argued back. They filed out of the house, some spitting on the ground near the door in disgust.
Phượng slammed the door shut once the last neighbor left, dust floating in the sunlight streaming through the cracks. Lan clapped her hands, directing Hạnh and Phượng: “Bắt đầu dọn đồ đi. Mấy cái đồ cũ của Nguyễn Văn L. để trong góc nhà, đem hết ra sân bán sắt vụn. Cái bàn thờ này để đó, mấy ngày nữa hỏa táng xong là dẹp.”
Hạnh nodded, grabbing a large sack from the corner. Phượng pulled out a roll of packing tape, starting to wrap the ceramic jars on the shelf. They moved quickly, cold and efficient, no one looking at the coffin of Nguyễn Văn L. resting on the altar behind them.
Ông Bảy walked slowly down the dirt path leading to the gate of the old wooden house. He stopped at the rusted gate, the hinges creaking as he pushed it open. He turned back, staring at the peeling paint of the house where Nguyễn Văn L. had lived alone for years, raised Lan, Hạnh, Phượng on his own after his wife passed. His brow furrowed, lips pressed into a thin line of disappointment. He shook his head, a heavy sigh escaping his lips, then turned and walked away down the dirt road, not looking back.
Tiếng cửa sập rầm vang lên vẫn còn vương vấn trong không gian, lớp bụi mịn bay lơ lửng trong vệt nắng hắt qua khe liếp. Lan phẩy tay cho bụi tan, chỉ tay về phía gian ngủ phía trong: “Đi lục đồ trong đó nữa, biết đâu Nguyễn Văn L. giấu tiền tiết kiệm ở đâu không. Mấy cái quần áo cũ, sách vở rách nát đem ra sân chung với đống sắt vụn, mau lên.”
Hạnh gật đầu, theo sau Lan bước vào gian ngủ. Phượng ném cuộn băng keo lên bàn, chạy vượt lên trước, lật tung tủ áo. Mấy bộ quần áo vải thô sờn cổ của Nguyễn Văn L. rơi lả tả xuống nền gỗ. Hạnh mở ngăn kéo tủ đầu giường, chỉ thấy mấy ống thuốc hết hạn, chiếc đồng hồ báo thức hỏng vỏ sứt mẻ, và chiếc điện thoại cũ hiện 3 cuộc gọi nhỡ khớp đúng tên ba chị em. Cô nhếch môi cười khinh khỉnh, ném chiếc điện thoại vào túi nilon đựng đồ bán sắt vụn: “Cái đồ cũ rích, để lâu cũng hỏng.”
Lan đứng ở cửa, khoanh tay quan sát. Nhìn đống đồ lộn xộn, cô nhíu mày: “Lục kỹ đi, cha làm thợ mộc cả đời, chắc chắn có dư đồng nào giấu đâu đây. Cả mấy sào rau, đàn gà đang nuôi ngoài vườn, mai cũng đem bán hết, lấy tiền chia đều cho ba chị em.”
Phượng cúi người, soi dưới gầm giường rộng vừa đủ một người nằm. Bụi bặm phủ dày trên sàn, cô dùng que cời lửa sắt gạt lớp bụi sang bên, một chiếc hộp gỗ nhỏ hình chữ nhật hiện ra. Vỏ hộp đánh vecni bóng, khóa đồng cũ kỹ chắc chắn. Cô reo lên: “Tìm thấy rồi! Hộp gỗ dưới gầm giường cha nè!”
Lan và Hạnh lập tức chạy lại. Phượng nắm lấy chiếc hộp, lau lớp bụi trên nắp, ngón tay vuốt nhẹ đường vân gỗ mịn màng — Nguyễn Văn L. làm thợ mộc, chắc chắn hộp này là do chính tay ông chế tác. Cô nhướng mày, giọng đầy háo hức: “Cha giấu gì ở đây nhỉ? Chắc là vàng bạc, tiền tiết kiệm để lại cho chúng ta.”
Lan cười toe toét, vỗ vai Phượng: “Mở nhanh lên, để xong còn mang ra ngân hàng đổi tiền, kịp chia mỗi đứa một phần về thành phố.”
Phượng mò trong túi quần áo lấy chiếc kìm cộng lực mình thường mang theo để tháo gỡ đồ đạc. Cô kẹp chặt lưỡi kìm vào ổ khóa đồng, dồn sức bẻ mạnh. “Rắc” một tiếng, ổ khóa bật ra rơi lăn trên nền nhà. Mắt Phượng sáng rực lên, tay run run mở nắp hộp, hy vọng nhìn thấy những thỏi vàng, những xấp tiền cũ mà Nguyễn Văn L. tích góp cả đời.
Phượng cẩn thận mở nắp hộp, lưỡi bàn chải nhẹ nhàng gãi sản xuất tiếng kẽm khi gỗ trượt qua. Vầng sáng mưa chiều lơ lửng qua khe cửa, thắp sáng một vài mảnh giấy tờ và tro to của vỏ hộp.
Bên trong hộp hiếm hoi những vật kỳ lạ:
– Ba tấm bằng khen mỏng manh, múa vẫy trong gió, trang trí những chữ “Nhiệt huyết”, “Sáng tạo”, “Công khiêm”.
– Ba cuốn vở ghi chép học tập cùm mốc, từng trang gấp nhẹ, bề mặt isen…
– Một phong bì gốc gỗ, dày nghẹt và nặng mùi lò mỡ, mở ra để lộ một ngăn 30 triệu đồng (đồng đáy mài khô).
Phượng lặng lẽ, tay hắn rộ lên bao vật, chợt nhận ra bộ áo cung bút, thậm chí một đoạn ghi chú: “Nguyễn Văn L. – Cha, đây là công sức ủng hộ ta, cảm ơn.”
Lan đứng quay lại, mắt trăng sáng bỗng rung loạng. Đơm cá mẽng, ánh mắt dần để lại một lớp băng mỏng. “Cha tiết kiệm cả đời, chỉ để lại cho chúng ta 30 triệu? Sao ít thế?” cô đong một tiếng, cho hương vị nhục mạn tắc rời thở.
Hạnh vào một bất ngờ; tay chạm ngã gấp cuốn vở của mình, ngập tràn ký hiệu duyên dáng. Bên trong, những dòng sổ tay – gạch thô, tay bút trông tài liệu của một người đã kiên trì ghi chép: “Ngày 5/3 – học bài lớp 10. Điểm: 9/10” “Ngày 12/3 – biểu tượng Vang “. Hạnh sụp xuống bánh bánh, mắt hướng lên trạm băng kiệt diệt của cha, lưng chống tường gỗ cũ, má sút nhạt.
Luôn hiểu: cha một mình đã nuôi công việc của mình, toàn ngày qua lại, sao lại ít tiền? Hạnh rắt ruột nặng, nhận chộ một ngày giả mạo “cấp phát bảo dưỡng trang sức, nhưng thiếu.”
Lan giật nhẹ tay khiến gương phản chiếu, lắc lư cuốn vở của mình, lặng lẽ cúi ghé, sờ lên dạ cán viên của cha. Cống kênn, lấy bút tua những chữ viết nhắng kêu.
Phượng đứng nhìn, có vẻ thịu vô vị, những chút nổi dậy. Cô nhếp dây đeo quà mái, ám chỉ rằng nỗ lực của cha được gài vào những quyển dạy học, và nước chuyển tiền là phần mô tả ổn định nhất.
Hạnh yếu nológ một dáng nốt rung chấn, lắt lịi câu “Công bù an” sau đó lûúm có ai dữ mắ, và khiến thận. “Cha nhé, chuyện ít ng ngân? ….”
Lan tì gọi tờ giấy, bóc hộp, mơ lấp sau siết nhẹ, thở dài. Họ chờ giây phút gắn kết mà xếp những chưa có làn giọt.”
Hạnh ngất ngào, tràng nước rơi. “Muốn biết cha… không?” cô sắc đôi mặt thành giã “để sấp ruột cùng lạc quan”
Lan bé lặng, nhìn lên phong bì trong 30 triệu đồng, xét suy ngẫm. “Để chịu, để cố gắng 30 tỷ đừng chi‘”, cô ờ ráng ngắt. “Mong bây giờ chúng ta khác nhau. Cha ốm tim “
Hạnh rơi xuống dưới gốc, nước mắt chảy lũ. “Cha… nghe muốn lội lòng mần”.
Phượng rủ rẽ, một nít loa hiếm ho hắt… “Chúng tôi hướng tới cách, chú~”
Lan làm chấn nửa giảm ánh cũ; cha chia tiền cho thấy sự yên tĩnh. Giới gương trời.
Vụ:
> Đánh số đi ngay 3 tấm bằng khen và 3 cuốn vở lát vỡ, để ban giai điệu thôn hiếu; bây giờ trên hết, ba cô gái hôm đang lắng rong số trời…
Hạnh đưa tay lau vội giọt nước mắt, ngón tay khẽ run rẩy lật nhẹ sang trang cuối cùng của cuốn vở cũ kỹ. Ánh sáng mờ nhạt trong căn nhà gỗ hắt lên những dòng chữ nắn nót, tỉ mỉ của người cha già Nguyễn Văn L. Bà đọc to, giọng nghẹn đắng:
– “Cha nhớ hết từng ngày con đi học, nhớ từng thành tích của con, mà con suốt 3 năm không về thăm cha một lần…”
Câu chữ như một nhát dao xoáy sâu vào lồng ngực Hạnh. Bà nhớ lại hình ảnh cha già Nguyễn Văn L. ngày ngày đạp chiếc xe đạp cũ chở ba chị em đi học, nhớ những miếng cơm cha nhịn nhường, nhớ căn bệnh tim hành hạ mà ông chưa từng than vãn nửa lời. Một cơn chấn động tinh thần ập đến, Hạnh khóc ngất đi, toàn thân bà rũ rượi, quỵ xuống sàn gỗ cũ bên cạnh linh cữu cha.
Nhìn thấy phản ứng dữ dội của Hạnh, Lan và Phượng giật mình. Phượng vội vàng với lấy cuốn vở mang tên mình. Ngón tay cô lướt nhanh qua những trang giấy ố vàng. Trang nào cũng vậy, Nguyễn Văn L. ghi lại từng ngày cô đi học, từng lần cô ốm, từng tấm bằng khen mà ông tự hào như thể đó là báu vật của đời mình.
– “Ngày 12/9, Phượng được điểm 10 Toán… Cha vui lắm…” – Phượng đọc đến đâu, nước mắt cô rơi đến đó. Tim cô thắt lại khi nhớ lại ngày cha ngã quỵ, ông Bảy gọi điện nhưng cô chỉ lạnh lùng bảo bận việc.
Lan cũng run rẩy cầm cuốn vở của mình. Những dòng chữ hiện ra: “Lan học lớp 12, sắp thi đại học. Cha phải bán mấy căn gà để có tiền tàu xe cho con”. Lan ôm chặt cuốn vở vào lòng, cắn chặt môi đến bật máu. Sự hối hận cực độ dâng trào khiến cô nghẹt thở. Họ đều đã thấy, cha mình không giàu, cha chỉ để dành tất cả những kỷ niệm về con cái vào những trang giấy này, còn ba mươi triệu đồng kia là cả đời tiết kiệm của một người thợ mộc góa vợ.
Cả ba chị em quỵ xuống dưới chân quan tài của Nguyễn Văn L., oà khóc trong cơn bão tội lỗi. Không còn tiếng bàn tán về việc bán nhà, không còn những toan tính chia chác, chỉ còn lại tiếng nức nở của những đứa con bất hiếu đang nhận ra mình đã đánh mất người cha vĩ đại nhất đời họ.
Tiếng khóc nức nở của ba chị em vang vọng trong căn nhà gỗ cũ, tan vào mùi hương trầm mộc mạc. Lan gượng dậy, đôi mắt sưng húp nhìn vào chiếc điện thoại cũ nằm cạnh linh cữu Nguyễn Văn L. Cô chạm ngón tay run rẩy vào màn hình, ba cuộc gọi nhỡ hiện ra rõ rệt như những nhát dao cứa vào lòng tự trọng.
Hạnh lau vội nước mắt, đôi mắt dừng lại ở phong bì tiền để sẵn trên bàn thờ. Cô nhớ lại lời mình từng nói: “Cha có bao nhiêu cho con hết, con bận lắm!”. Giờ đây, nhìn ánh sáng mờ ảo phản chiếu trên lớp vỏ phong bì cũ kỹ, cô nhận ra đó không phải tiền, mà là cả một đời lam lũ của một người thợ mộc góa vợ.
Lan quay sang hai em, giọng nghẹn lại nhưng quyết liệt:
– “Chúng ta sai rồi. Cha không cần tiền, cha chỉ cần chúng ta về thăm. Mấy chục triệu này là mồ hôi nước mắt của cha, là tiền thuốc chữa bệnh tim mà cha nhịn ăn nhịn mặc để dành cho chúng ta đấy!”
Phượng gật đầu, nước mắt lã chã rơi trên tay áo. Cô với lấy cuốn vở ghi chép thành tích của mình, sau đó là cuốn của Lan và Hạnh.
– “Đốt hết đi.” – Phượng thì thầm, giọng đầy thống khổ. – “Số tiền này, cha để lại cho chúng ta, nhưng chúng ta đã quá mù quáng để rồi lãng quên sự hy sinh của cha.”
Lan cầm hộp quẹt, ánh lửa bùng lên rực rỡ ngay trong lòng bàn tay. Cô hất cuốn vở vào ngọn lửa. Ngọn lửa nhanh chóng nuốt chửng những dòng chữ nắn nót của Nguyễn Văn L. rồi lan sang phong bì tiền. Khói cuộn lên, mang theo tro bụi của những toan tính, tham lam và sự vô tâm.
Hạnh siết chặt tay hai chị em, nhìn thẳng vào di ảnh của Nguyễn Văn L. với ánh mắt cương quyết:
– “Từ giờ, chúng ta giữ lại căn nhà này. Mỗi năm, dù bận rộn thế nào, chúng ta cũng phải về thăm cha một lần. Không ai được phép bán, không ai được phép lãng quên quê hương này nữa.”
Ba chị em quỳ xuống trước bàn thờ, khói hương nghi ngút bay lên. Họ nhìn di ảnh Nguyễn Văn L. cười hiền từ, tựa như ông đang gật đầu chấp nhận sự hối lỗi muộ màng của những đứa con. Căn nhà gỗ cũ kỹ ở xã nhỏ ven sông hôm nay không còn là thứ để trao đổi mua bán, mà đã trở thành nơi trú ngụ cho tâm hồn lạc lối của họ.
Lan vuốt phẳng nếp váy nhàu nhĩ, đứng lên trước tiên. Cô lấy chiếc chổi lông gà dựa ở góc tường, phẩy sạch lớp bụi dày đặc trên bàn thờ Nguyễn Văn L. Hạnh nối bước, cầm lấy chậu nước, vắt khăn lau sạch vết mờ trên di ảnh cha. Phượng nhặt chiếc búa gỗ rơi dưới chân, siết chặt cán, nhìn sang hai chị, ánh mắt đã hết vẻ hoảng loạn thay bằng sự kiên định.
– “Bắt đầu từ căn phòng khách trước đi.” – Lan lên tiếng, giọng còn nghẹn nhưng rõ ràng. – “Cha sống cả đời ở đây, chúng ta phải sửa lại cho sạch sẽ, sáng sủa, để sau này về có chỗ ngồi.”
Ba chị em chia nhau công việc. Lan cạo lớp sơn cũ bong tróc trên vách gỗ, Hạnh lau sạch cửa sổ mờ đục, Phượng đóng lại những mảnh sàn gỗ bị mối mọt ăn rỗng. Nắng chiều qua khe cửa sổ chiếu vào, bụi bay lơ lửng trong không khí, mang theo mùi gỗ mộc và hương trầm còn vương.
Ông Bảy đẩy cổng bước vào, trên tay xách một túi đinh và cuộn dây thừng. Ông nhìn thấy Lan đang leo thang sửa mái ngói, Hạnh quỳ lau nền nhà, Phượng gõ búa lách cách, khóe môi ông nhếch nhẹ, gật đầu nhẹ rồi đặt túi đồ xuống hiên, quay đi không nói lời nào.
Đến tối, căn phòng khách đã sáng bừng lên. Hạnh lấy tấm vải đỏ phủ lên bàn thờ, Lan và Phượng cùng treo di ảnh Nguyễn Văn L. lên tường chính giữa phòng khách, ngay phía trên bàn thờ. Tấm ảnh cha cười hiền, mặc chiếc áo sơ mi xanh cũ, đúng như lần cuối ông chở ba chị em đi học trên chiếc xe đạp cũ.
Lan mở chiếc rương gỗ cũ dưới chân giường cha, lấy ra ba cuốn vở bìa xanh cũ kỹ, mỗi cuốn đề tên một người: Lan, Hạnh, Phượng. Cô đưa cuốn của Hạnh cho Hạnh, cuốn của Phượng cho Phượng, mình giữ cuốn của mình.
– “Cha viết mấy cuốn này từ lúc chúng ta còn nhỏ.” – Lan lật nhẹ trang giấy ố vàng, chữ viết nắn nót của Nguyễn Văn L. hiện ra: “Ngày 12 tháng 9, Lan đi học lớp 1, khóc suốt đường, tôi phải dừng xe đạp mua cho cái kẹo mít mới chịu ngồi yên.” – “Cha ghi chép tất cả từng chút một, từ lúc chúng ta biết bò đến lúc lên thành phố lập nghiệp.”
Hạnh lật cuốn của mình, thấy dòng chữ: “Năm 2020, Hạnh sinh con gái, tôi nuôi con gà mái đẻ trứng, định để dành cho cháu ăn, nhưng mãi không thấy Hạnh về.” Nước mắt cô lại rơi, nhưng lần này không phải là khóc oan ức, mà là khóc vì hối lỗi. Phượng cũng cúi đầu, ngón tay vuốt ve dòng chữ cha viết về lần cô bị sốt xuất huyết, cha thức trắng đêm chăm sóc.
Ba chị em đứng thành hàng trước di ảnh Nguyễn Văn L., mỗi người cầm một cuốn vở của cha trên ngực. Họ cúi đầu, giọng nói đồng thanh vang lên trong căn nhà gỗ tĩnh lặng:
– “Cha ơi, con xin lỗi, từ giờ mỗi năm chúng con sẽ về đây thắp nhang cho cha, không để cha cô độc nữa.”
Ông Bảy đứng ngoài sân, nghe thấy lời hứa ấy, nhìn qua cửa sổ thấy ba chị em đứng nghiêm trang, khóe mắt ông ươn ướt. Vài người hàng xóm đi ngang qua, thấy cảnh ấy cũng dừng lại, gật đầu nhẹ, ánh mắt không còn phẫn nộ như ngày họ bàn chuyện bán nhà, thay vào đó là sự xoa dịu và thấu hiểu.
Lan nhìn hai em, siết chặt tay họ. Cơn gió nhẹ thổi qua, lật nhẹ trang sách trong tay họ, mang theo tiếng lá xào xạc ngoài bờ sông. Lần đầu tiên sau nhiều năm, ba chị em cảm thấy tâm hồn bình yên trở lại.
Những ngày sau đó, ba chị em thay nhau về quê sửa nhà mỗi cuối tuần. Căn nhà gỗ cũ dần lấy lại vẻ sáng sủa, những rãnh nhăn trên gỗ được lấp đầy, mái ngói mới thay thế cho mái cũ dột nát. Họ trồng lại hàng rau mà cha từng chăm sóc, nuôi lại đàn gà mái đẻ, như cách cha vẫn làm ngày xưa. Mỗi lần về, họ lại ngồi dưới hiên nhà, lật những cuốn vở cha để lại, đọc lại từng dòng cha viết, như được nghe cha kể chuyện ngày xưa.
Có những đêm trăng sáng, họ ngồi quây quần bên bàn thờ cha, uống chén trà nóng, nhắc lại những kỷ niệm tuổi thơ. Lan nhớ lại cha từng chở cả ba chị em trên chiếc xe đạp cũ, mỗi người ngồi một góc, cha đạp xe mồ hôi nhễ nhại nhưng vẫn cười vui vẻ. Hạnh nhớ lại lúc con gái nhỏ sinh ra, cha gọi điện thoại hỏi thăm không ngớt, nhưng cô lại lấy lý do bận việc mà cúp máy. Phượng nhớ lại lần cha ngã quỵ, cô còn nói với ông Bảy rằng cha chỉ bệnh vặt, không cần về. Những ký ức ấy không còn làm họ đau đớn, mà trở thành bài học nhắc nhở mỗi ngày.
Họ hiểu rằng tiền bạc dù nhiều đến đâu cũng không mua lại được thời gian bên người thân, không bù đắp được sự cô độc của cha già những năm tháng cuối đời. Sự hối lỗi không thể đưa cha trở lại, nhưng có thể giúp họ sửa sai, sống xứng đáng với những hy sinh cha đã dành. Căn nhà gỗ bên sông giờ không còn là tài sản để chia chác, mà là ngọn hải đăng cho tâm hồn họ, nhắc họ luôn hướng về cội nguồn, về những người thân yêu đã hy sinh thầm lặng.
Đời người, có những sai lầm không thể sửa chữa, nhưng cũng có những cơ hội để làm lại, để yêu thương nhiều hơn. Với ba chị em, mỗi lần về thăm căn nhà cũ, thắp nén nhang cho cha, là một lần họ tìm lại được chính mình, tìm lại được sự bình yên mà bao năm qua họ đã bỏ lỡ.

