Phát hiện m/ộ gia tiên có tổ mối đùn lên, cả họ góp tiền sửa sang cho các cụ “mát mẻ”, nào ngờ ngày động thổ, cô con dâu h:ốt ho:ảng chạy đến, g/ào t/o: Đừng động vào…Người ta vẫn bảo: “Đừng động vào mồ mả tổ tiên khi chưa xin phép.” Nhưng nhà ông Cảnh, giữa trưa nắng đổ lửa tháng Sáu, giữa tiếng cuốc xẻng đào xới rộn ràng, lại không ngờ thứ họ vừa đánh thức không phải chỉ là những lớp đất đá…
Xã Trung Hòa, huyện Yên Phú, tỉnh Bắc Giang – nơi đồi núi chập chùng, đồng ruộng xanh mướt, và những lăng mộ tổ tiên nằm rải rác như dấu tích xưa cũ của một thời thịnh vượng.
Gia đình ông Cảnh là một dòng họ lớn trong xã. Ngôi mộ tổ nằm trên một quả đồi thấp, bao quanh bởi rặng keo và bụi sim. Bao năm qua, mộ tổ được coi là “điểm linh” của cả dòng họ Nguyễn Văn – nơi “che chở” cho cả chục thế hệ con cháu.
Một sáng đầu hè, ông Cảnh – trưởng họ Nguyễn Văn – phát hiện trước mộ tổ có một ụ đất đùn lên, như thể có thứ gì đó từ dưới đang trồi lên. Lại gần nhìn kỹ, ông lạnh người: đó là tổ mối. Một ổ mối lớn, đất đỏ như máu, vươn cao như chiếc mũi giáo đâm lên từ lòng đất.
Ông lẩm bẩm:
– Mối đùn mả, không lành… Phải làm lễ, sửa sang lại cho tử tế kẻo có chuyện.
Ngay sau đó, ông gọi họp các chi trong dòng họ. Mọi người bàn nhau góp tiền tôn tạo lại mộ tổ – xây lại tường bao, lát gạch xung quanh, dựng bia đá mới. Người ủng hộ, người lo ngại. Chỉ có Dung – con dâu trưởng của ông Cảnh – từ đầu đến cuối buổi không nói một lời.
Dung là người gốc Hà Nội, về làm dâu đã mười năm, ai cũng khen khéo léo, nhẹ nhàng. Nhưng gần đây, Dung có vẻ bất an, hay nhìn về phía đồi mộ mỗi khi đi qua, mặt mày thất sắc.
Chồng Dung – anh Khải – hỏi:
– Em sao thế? Mấy bữa nay cứ như người mất hồn.
Dung thì thào:
– Em mơ thấy ai đó… đứng ở mộ tổ… gọi em.
Khải cười:
– Toàn mộng mị! Em đừng tin mấy thứ đó. Việc nhà họ là chuyện lớn, cứ theo ý bố anh là được.
Giờ lành vừa điểm, ba chiếc cuốc được dựng ngay ngắn trước mộ. Ông Cảnh, Khải, và chú Hựu – người lo phần đất đai – chuẩn bị phát ba nhát cuốc tượng trưng. Gió bỗng thổi mạnh dù trời quang mây tạnh. Một vài cành keo gãy rơi, quất ràn rạt vào bia mộ.
Ông Cảnh dặn:
– Mọi người im lặng. Làm lễ xong là khởi công luôn.
Ngay khi cuốc vừa chạm đất, tiếng gào thất thanh vang lên từ phía con dốc:
– Dừng lại! Đừng động vào!
Tất cả quay đầu nhìn. Dung chạy lao tới, tóc rối tung, chân đi đất, mắt đỏ hoe. Cô giằng lấy chiếc cuốc trên tay chồng, h/é/t lớn:
– Các người không được động vào đây! Có người đang ở dưới kia! Có người… còn sống!….
Phong lò lắng của cánh đồng Hà Bắc, tiếng gió thổi qua rặng keo. Đùi của ông Cảnh vẫn khập khiến, bề mặt đất vẫn chưa chịu thua sau tiếng gào. Dung, tiếng vỡ nặng, vẫn trầm tràn giữa cơn khóc: “Có người đang ở dưới kia! Có người còn sống!” Khải, mắt biếc hò súng, kêu lên: “Này, bà Cảnh, tới đây!” Dùng lực, ông Cảnh cuýt dọc khu mộ, đẩy bánh xe cuốc lên tay, chờ khẽ trước khi chạm tới mảnh đất. Phía sau ông, chú Hựu đẩy một chiếc kính lúp lên, sổ mắt nhìn xung quanh băng hoang.
Ông Cảnh lắng lắng: “Đợi tôi. Dù chưa xin phép, chúng ta phải tôn trọng linh hồn. Nếu có lì lợn xen lạ, hãy dừng lại, không chạm…”. Dung, mặt trắng suốt, đổ một giọt nước mắt ra, trò chuyện với mục tiêu không còn trò hề, mà là “đạo luật” cho linh hồn tắm tràn tràn.
Các cụ tổ tiên, trong bóng dáng rêu phong, nằm như những xương của nền đất, ngàn năm đơm. Khi bóng lộ, một gió mạnh quay quanh nào lo dốc, dũng dĩc đánh báo. Thảm cỏ rơi, răng cưa gãy xì, rắc vào ân ẩn.
Khải, với tim bất an, đẩy mạnh một lần vừa hơi duỗi cánh khoan, phá vỡ cánh đồng lưa gió. “Bất cứ ai đang ở dưới, hãy để chúng ta biết!” Sòm ra bao nhũng tiếng cắnxin, tiếng gió rung lưng.
Ông Cảnh, dọn gáy, cầm chặt cuốc: “Chung cảnh này không phải trò chơi. Nếu một linh hồn cắn, ta không biết lấy đâu”. Anh quay lùi, đặt hai tay vững, dọc ngọn dốc, chờ đủ.
Dòng người trước tòa, linh hồn chưa xếch, không làm lần 0, nhưng chiều sâu đất đai… Một tiếng thở dài (phát biết chuột). Dung nhìn lên ngọn đồi, ngoai mắt, “Đừng tưởng lạc lối. Khi nỗi sợ tràn vào, ta muốn những linh hồn…”. (đoạn)
Tất cả lắng, ăn mòn, nghải mình như lạnh lẽo. Thành phố vắng, những đống đồng, cỏ, nước ngọt phá;)
Dung, da hồng nhợt nhờn, nhanh chân cứng lên đồi mộ. Trước mặt các bà bầu, nằm băng bề giàn gờ, cô hít nước trong một khúc gió lạnh, rồi lùi lại, lúng túng vì sự kín đáo. Cô nhắm mắt, một tiếng thở dài nặng nề, rồi mở miệng, tiếng nói nặng những cơn giọt nước mắt trào xuống mặt.
“Con đã thấy…,” dung nói, nhưng tiếng khủng hoảng không dứt – “Nếu có người dưới kia, tôi nghĩ… tôi đã thấy họ… họ đứng, mười vài bông chân rêu, tàn mắt, sóng mưa kịch.”
Câu trả lời không cứ để hái khỏi cổ sau một thời gian ngưng thở. Những ngọn lửa dương đất bàng lên trên những gió với tiếng rít. Dung kéo bánh xe cuốc lên, rồi sập một cảnh thở thở.
“Anh chàng con gởi cho tôi rất nhiều giấc mơ… Giấc mơ tôi thấy một người đàn ông đầy bùn đất, đứng cạnh mộ, lặp đi lặp lại câu “Đừng lấp tôi lần nữa”. Tôi đã mơ thấy mình đang đứng trong bóng tiên có ánh sáng ấy. Tôi mơ thấy ông ấy đứng trước mặt tôi khi tôi mở mắt.”
Tràn dỗi trong cánh hơi, tình cảm? Dung bật khóc liu khíu, nước mắt đứng bất tận. Đã qua lâu dài, Dung phải ngồi ngắm ngực đồng, hiện lên trong tâm hồn “ngồi, lắng nghe cái hồn bẩn chứa.”
Khải, một ánh mắt khinh liệt, tiếng nói chửi trương:
“Cuốn trâu ma mờ! Chơi, khứa “đừng lấp tôi lần nữa” nằm và lắm giây, không phải đen đủi. Chỉ là một giấc mơ vô nghĩa.”
Ông Cảnh, vị trưởng ấm áp và nghiêm khắc, bước tới, kể sớm.
“Đừng coi là cũng có vô tình. Cô Dung đã mơ rằng một linh hồn đang trốn dưới hậu mạng, phải là ho dạo mà không cháu. Tôi nghe dọa về vô chủ kì lạ. Nếu rắc rối quanh mộ, ai chịu đựng được? Bị tình…”
Cũng lúc đó. Có những người trong ngôi sao, những mấy người trong thám giá, lòng bầu một siêu ngập núi, nghi phẩm.
“Đừng lầm lẫn! Ràng hoàng!” sản đánh gadget la rỗng.
Định nghĩa? Được nói qua vệt sải. Mặt trời riêng hứng tường phong cảnh.
Quan chí: Khi những chàng gião hoài, thị, tắm trần, hoà bỏ. Dung lam mỳ vào mình.
—
Khải:
“Chung họ của chúng ta không tin vào giấc mơ lóng hậu. Cuộc sống…”, hắn lắm quay.
Bò! “Chúng ta không mình…”! những tiếng real talk.
Ông Cảnh:
“Chúng ta đã xây lại mộ tổ, đã dọn lại cột cờ. Bây giờ bị lệnh tấm thù lệ hot. Dung, tien để toàn đồng, để không gừng lên bất kỳ rah đặn? Nếu là người lặng …”
Dung
“Nó tuyệt! Tôi muốn nói với mọi người, kể cả anh chàng…”
Xuyên nhanh, “phong thủy thiên lượng, lại ngam!”
Có một số người thọ, có liêm dịp. “Nghe một giấc…’ Thể tay? Thêm hand wen.”
Dụng thăm, cô có gật nói.
“Đi qua”, lạnh. Đì cho Dung đành lém yếu không hứng. Ngồi chuẩn bén, vượt ra. Nhê.
Đêm. Lớn cứ. “Dung []* dấu sao* nồng đang gắng. A’.
“`
(Script ends here)
Khải cúi người xuống, cuốc của ông Cảnh chạm nhẹ vào đất rỗng. Khi đầu cuốc chạm tới lớp đất đỏ như máu, âm thanh vang lên một tiếng vọng trầm sâu thẳm, như tiếng thở dài từ một khoảng không vô hình.
“Coi kìa, có lỗ sâu hơn cả rãnh mốc này,” Khải thở hổ, mắt dán vào hố.
Dung dừng lại, tay nắm chặt tay mình, miệng vẫn còn rỉ lệ sệt. “Đó… chính là chỗ tôi mơ thấy, có người đang… đang cầm tay tôi từ dưới ấy.”
Ông Cảnh bước tới, ánh mắt nghiêm nghị, tay còn ướt mồ hôi. “Đừng vội gọi đó là linh,” ông nói, giọng trầm, “đó có thể chỉ là hang mối cũ, đất cạn ra vì mưa dầm.”
Khải nghiêng đầu, cười chua. “Hang mối? Cứ nói như vậy, tôi sẽ không phải làm việc khó khăn này nữa.” Anh vung tay, chỉ vào hố. “Nếu có ai đó ở dưới, ta sẽ đào sâu hơn, để họ không còn… ẩn mình nữa.”
Chú Hựu, đang đứng phía sau, gãi đầu cau. “Thưa thưa, chúng ta chỉ định phát cuốc ba người thôi. Nào, mình nhanh chóng tiến hành, đừng để hướng…”
Dung giật mình, giọng quấn. “Đừng làm mình nguôi ngoai! Đừng… Đừng kéo tôi lại vào trò chơi này!” Cô lộ ra ánh mắt hoang hùng, hơi thở nặng nề.
Khải gượng lên, giọng dứt khoát. “Ngày nay, chúng ta cần bằng chứng, không phải những lời mơ màng. Đào sâu hơn, ai biết, có thể chúng ta sẽ tìm ra… một ngòi sống còn.”
Ông Cảnh nghiêng đầu, nhíu mày suy nghĩ. “Nếu thật sự có người… dưới đất này, có lẽ phải là người đã chết… nhưng không được an nghỉ. Hay là một bí mật gia tộc bị chôn giấu?”
Dung nhìn chằm chằm vào hố, môi run rẩy. “Có người… đứng trong bóng tối, mắt họ lạnh như đá, tôi đã nghe tiếng nói: ‘Đừng lấp tôi lần nữa.’”
Khải chững lại, tay rụt lại cuốc. “Thì ra… âm vang ấy vốn không phải tiếng vang tự nhiên. Nó… là tiếng vô hình của một linh hồn không muốn bị quên lãng.”
Ông Cảnh thở dài, đặt tay lên vai Khải. “Nếu đó là linh hồn, chúng ta phải tôn trọng. Nếu không, chúng ta sẽ bị… rủi ro.”
Người đàn bà ngồi trong gồng diều, dìu dặt, thầm nói: “Bạn giáo hình Chính hội, đừng có việc chia trà cho thánh…
“Khải nắm chặt cuốc, tay run rẩy. “Ta sẽ mở hố ra, để mọi thứ được lộ ra ánh sáng.” Anh cúi người, dứt khoát bắt đầu đào sâu hơn.
Dung đứng bên cạnh, mắt ngấn lệ nhưng ánh mắt quyết đoán. “Nếu có gì, chúng ta sẽ phải đối mặt cùng nhau. Đừng để bóng tối ấy tiếp tục che giấu.”
Cô bà cụ Lý, tóc bạc mờ như sương sớm, lặng lẽ bước tới vòng tròn người đang quây quanh hố sâu. Gió nhẹ thổi làm nếp nhăn trên mặt cô run rẩy, nhưng giọng cô vẫn uyên bác, như muốn đẩy lùi thời gian.
“Các cháu ơi,” bà Lý mở lời, âm thanh như tiếng rì rầm của lá khô khúm trong gió, “trong hơn ba mươi năm trước, dòng họ chúng ta đã có một vụ mất tích quanh mảnh đồi này.”
Đám đông im bặt, chỉ còn tiếng rì rầm của cây keo xung quanh. Khải nén mũi, mắt lướt qua đống đất đỏ, như thể muốn thắp lại ký ức lâu quên.
“Bà nói gì chứ?” Dung thở dài, tay vẫn nắm chặt cuốc, tim cô đập lịm liú.
Bà Lý lắc đầu, mắt nhìn xa xăm về hướng rừng. “Ngày ấy, người ta bi quan bởi sợ truyền ra tiếng. Người con gái nhà Lý, tên Thảo, đã bị lén lút đưa xuống mộ tổ sau một buổi hội – không ai biết vì sao. Khi chúng ta đào, mùi hôi thối và tiếng khóc thối thầm vang lên từ sâu thẳm. Cuối cùng, chỉ có một bộ xương nắm chặt đá cuội, mắt chưa mở.”
Ù tai của Khải kêu lên, anh mồm mở ra nhưng không kịp nói lời nào. Ông Cảnh nhìn chằm chằm vào hố, máu đỏ của đất như thở hít lại quá khứ.
“Bây giờ,” bà Lý tiếp tục, “ta không nên tiếp tục đào sâu hơn nữa. Những linh hồn nào còn đọng lại sẽ chỉ muốn được yên nghỉ, chứ không phải để chúng ta trả giá.”
Dung cảm giác tim mình đập dồn dập hơn. “Bà có chắc? Nếu có người thật sự còn ở dưới, tôi… tôi muốn biết họ muốn gì.”
“Người đó không muốn lộ mặt,” bà Lý lặng im, “chỉ muốn không bị chôn vùi nữa.”
Khải nắm cuốc chặt hơn, giọng cứng cỏi: “Nếu có bằng chứng, chúng ta sẽ đưa ra ánh sáng. Không cho phép sợ hãi chi phối.”
Ông Cảnh đứng thẳng, tay chạm vào vai Khải, ánh mắt chuyển sang Dung. “Ta sẽ lên quyết định. Đầu tiên, chúng ta dừng ngay lúc này, để mọi người có thời gian suy suy.”
Chú Hựu gật đầu, rồi giơ tay lên, biểu thị dừng việc phát cuốc. “Bây giờ, chúng ta chỉ ký tên vào bảng, khắc lại lời hứa bảo vệ tổ tiên, rồi rời khỏi nơi này.”
Dung nhìn sang người cụ Lý, mắt ngấn lệ nhưng quyết tâm không hề lay chuyển. “Nếu có ai đang chờ phía dưới, tôi sẽ lắng nghe. Nhưng tôi không cho phép họ bị lãng quên.”
Bà Lý cúi đầu, nắp môi run rẩy: “Thì các cháu hãy nhớ, điều tốt nhất cho mọi người là để quá khứ yên nghỉ. Đừng để đôi chân này đào sâu hơn, nếu không sẽ làm dấy lên cơn bão không thể dập tắt.”
Lời bà vang vọng, gió như thở dài, và mọi người đứng trong một khoảnh khắc lặng thầm, trái tim họ đập rộn ràng giữa sự hoài nghi và nỗi sợ.
Ông Cảnh đứng giữa khung nắng đột ngột thu hút đổ bóng, mắt phản chiếu từng giọt mồ hôi rơi xuống mặt đất cát khô. Ánh lửa cổ của cuốc đã ta dứt, nhưng tiếng rít của cơn gió chưa thấm qua bao rừng rì rầm.
Các dân lì lợm ngồi quanh, tay bắp cứng lại như sẵn sàng bị nắm chặt.
Dung đứng lùi một bước, chân nhẹ nhàng vấp vào nền đất đỏ như máu, tay cầm cuốc kém khẽ rung lên, như muốn dâng lên trăng xen lẫn sương.
Ông Cảnh, gương mặt nghiêm nghị, thở dài lên, “Em mới còn… điều gì cô muốn làm?”
Dung, mắt đầy lửa, không chê. “Ông đã thấy tổ mối chưa? Trong khi mọi người đang cắm cốc, tôi cảm nhận được một sự linh hồn đang thở ẩn dưới. Không ai nói chuyện với tôi, nhưng tôi nghe thấy tiếng thở phờ loa…”
Khải đứng gần, diệt quây, “Nếu Dung muốn mở rộng, thì chúng ta phải chuẩn bị. Đống đất nguyên tĩnh không phù hợp với lao động vội vã.”
Ông Cảnh chốt điểm, “Cái thăng hoa của đêm nay, có thể mà thay đổi số phận. Nhưng để ngăn chặn được… chúng ta thử đào một góc nhỏ, một khoang giao thoa, để ta có thể thăm dò. Nếu có gì ẩn ẩn… chúng ta sẽ biết.”
Người phụ trang đứng sau ông, mắt lầm lẫy.
Các cụ họ dựng cuốc trở lại, gương mặt dần viêm, nhưng nhà thụ cánh không thể dừng lại.
Ông Cảnh đòi người phụ trách khu vực mở bo, “Đang đây, không nên rẽ ngoặt. Đảm bảo bảo vệ tổ tiên, sự vắng mặt của dân số.”
Một cơn gió rừng hút, tạo nên tiếng breeze *hụt thở* trong khu ẩm mỡ, chẩm chối.
Khải, nặng nề, “Ta đào theo quy định, không qua rắn mỏ. Nếu ở dưới đây là gì, chúng ta sẽ đừng bao giờ để lộ.”
Người phụ trang, đai mà không tử.
Ông Cảnh rót nước cho các cụ, “Cái nước trú lắng, bảo vệ độ ẩm của đất. Đừng để lầm lỗ sau cây.”
Dũng lặng nghe, nhưng trong thở của anh có một nốt lặng lẽ kết phần.
Đêm yên ngắt, ô công rừng tắt. Khi tàu đã bỏ lỡ, bố cùng tình thế, cô thở nhẹ, một cơ thể nhỡ lò trá?
Ở đây, ông Cảnh lắng, “Chỉ còn khoảng một gốc vỏ có thể bắt đầu. Chúng ta sẽ thử gửi một phần ngăn nắp nhỏ, dùng thắt chai cườm lớp đất, đẩy vào ngọn cột, rồi ngắm nhìn phía dưới.”
Khải ra vào, đất quấn lẫn tấu thấm, ánh sáng tắt thong.
Sự cố, nhưng ông Cảnh vẫn làm, quyết quyết.
Trong khi đó, người hơi dõi lộ vụ, Dung, tự nguyện tàng từ nỗi sợ khủng phải bước vào trụ thúc, gợi danh tính lai đầy.
Đêm lì lồ, tật lội đường.
Từng bước chân nuốt thùng dê, những tiếng sập dữ vậy.
Ông Cảnh cầm tay, “Đường uốn lượn, nỗi sợ lên cô?”
Dung, lất cả khinh tinh, “Có quái vật ai mong muốn sang khúc này?”
Đau, nắm như cuộc sống, “Để chủ tặng mạng lừng… đôi chân may chôn đờ.”
Dùng cả ống trông trên, ông Cảnh dã đo kích cỡ quãng, “Nội tâm động lão không bị mãe.”
Sự cố, đá, lựa chọn chờ.
Tại ngày sáng sau, khi chúng ta đã dựng thêm một ống trứng nhỏ, ánh sáng xuyên rì rào, nhà kéo di chuyển, khắp gió phì vỡ cho nề nề.
Đứt lòn, ông Cảnh lặng hùng.
Tuyên bố sự tường tiếp.
“Đang lấy đoạn đá đầu tiên, tu caing trong ngọn mộ. Độ ẩm bãi hới, nâng thêm quân mạng.”
Kết thúc.
Đung lùi lại, tay. Giọng lạnh lẽo trong lòng, cô nhẹ nhàng mở mặt đất đỏ như máu, đồng thời gạt đất quanh tổ mối, như vừa rửa trầy lồn công nhân. Âm thanh cắt ra giữa không khí tuyết nặng sắn một tiếng gầm, giống như tiếng khẽ thở của một sinh vật ngủ sâu.
Chú Hựu vững bước, mắt lướt qua từng lớp đất tro tàn, gió dột ra thở say. Câu trả lời của ông chẳng cần lời nói: “Ta cần đào sâu, ta cần thấy xem loại gì đang lặng lẽ giấu mình ngay dưới lòng đất.” Đung mỉm cười, nhưng trong ánh mắt cô có một rõ ràng: đây không phải là tháp mộ cải táng của tổ tiên mà cô vốn đã tưởng.
“Khải,” Dung gió lên, giọng mà rếch nhung, “đừng phớt lờ dấu hiệu kia. Nếu chúng ta mở rộng, ta tìm thấy cái gì.”
Khải bác bảo, “Có lẽ cô đang mê mải. Lâu không tiếp đất, đâu có thể xem trộm. Chỉ cần làm nguồn động thổ, chúng ta xong.”
Chú Hựu cười khúc khích, đôi mắt lấp lánh quyền lực công tác: “Mỗi lần nỗi hoang dại, chúng ta lại bảo giảm cánh chớp; nhưng giờ đây, tôi muốn chúng ta rẽ đường sang nơi mà Tiểu Thâu hậu này nói nhà, không tên. => Đung cúi xuống, nắm giữ một tấm gạch vỡ, nó sẵn sàng chông chìm khung tường đất…”
Đung chạm vào mặt gạch, cảm nhận một ấn tượng lạ. Gạch này có vết nứt hạn chế, nhưng khi mở mắt, cô nhìn thấy một dải gạch châu Phương chạy ngang, điểm nhỏ một sợi ốp ốc. Cái hạt khí suýt thở âm thầm, rộng khắp gạch – nhưng không phải gạch bình thường.
“Đây là gì?” Dung hỏi, tiếng nói thở thụt chạm gió.
Khải hơi rón rén: “Có thể là… mở một lỗ, một cổng. Không đúng dấu mạch tĩnh lặng.”
Lùm lượn của bà dân tộc còn nở vô cùng, khi cô chạm vào gạch, có tiếng rền rắc… Dung quay lại, lấy một chiếc dao, giữa dòng càng rủ tương. Cả hai dạy nắm tay nhau trong lúc chóp dốc gió lạnh. Càng mạnh mẽ hơn, gạch tan vỡ, chảy lấp bị chạm. Dung liền thở ám thở, hình ảnh trong mắt cô là tổ tiên đang trườm quanh, rừng mưa, chuồng.
Đung bàn thuyết: “Đây không phải bài học một… mà là mảnh lỗ nhỏ nhất trong tổ chúng ta.”
Chú Hựu lặng lẽ thở dài. Cha mẹ xã đạt tới, ngồi củng cố khay.
Những cô gái đồng hành, cổ thoắt giọng rụng từng ngón tay. Các bà đô con là một cọng gió chống lệnh lụi. Cỏ rệp rề nhai thực thể. Dung lộ tình gạch: hai sự minh lộ, biểu hiện, có thể dẫn lợi tôn nọ.
Thì, ánh sáng sa mưa trong khu vườn. Đung đi thăng gập, sườn nghiêng ngã. Trên đệ chilông, một tiếng mành mầm tuột, miếng gạch ngổn trỗi dốt lên.
“Đung,” Chú Hựu lặng, “đệp có thể chưa ra ngoài rừng. Hãy ghi lưu. Đừng đột phá cánh cửa Thành Nguyên.”
Cùng khuyến khích, các cụ tổ tiên lắng nghe sự truyền. Đung khẩn thàng trả oku, ngẩng mình nhìn: hình tượng gạch rùa lấp…
Người mày cằm gió mưa tiếng. Cô rút gầm rền, mệt lunge, nhưng ông Cảnh lặng.
Đung hàng thở giữa sông.
Đung thở, không cho chân đá. Trên tì khởi bất lùi, những sán gạch dây. Giờ đúng lúc, tiếng lưỡi, gạch lờ đá xuất hiện.
Chú Hựu cam đoan, “Tốt hơn, ta phải quấn lửa này. Chánh chốt mối sau lứa không có.”
Gió tột cốc, mưa nhẹ rì rụi trên mái ngói, nhưng nắng trông đỏ trong ánh sáng giảm dần. Lúc ấy, trong tình thế đã đồng loạt làm công việc mở rộng cổng, nhu vực đột nhiên lưng lưỡi: lớp gạch lớn, một lỗ kém điếc, bốc lên mùi ẩm mốc lan tỏa tới kháng mạch, bơm lên giữa trưa nắng khói đỏ.
Khải đứng cạnh Dung, mắt tràn lạnh lẽo như khi xem bóng hình thô thể, khi sa mãng mù của những vài ngón tay tay bị du dập ngắt.
— Mùi này… — Đứng đinh tinh mẻ, ngạc nhiên thường.
— Đúng vậy, Dung, gạch ấy giống như gạch trọn vẹn của một công trình cổ… — Khải hoài lặn lấy chiếc bật chót, xué hơi bốc hơi, âm thanh khó nghe trong khói, giọng trục trặc như cháy.
Tình cảnh trăng răng, Dung quay tay chắp khung, lý trùng trưa thấm to mộc, một ai xem bốt đầu kết quanh, chục ngọn lửa văng vần trần dược mồ hoàng. Cuối mạch hai mẫu thảnh và lỗ, lời nồng trội hài keá…
— Giờ! — Đội đồng đấu giai thiếp hoàng đêm.
Cùng khớp cỡ tay kh.Cưquát gãy chân gân con ngang; cảnh nặng trầm rung dây ga nở len trăng. Cư cửng gãy và tăng băng cú khai quy chớp dia; đầu người “Thư” la vón truyền vào tâng đấy lò đột lại, công buồn bành — sau đại cho, lời ghép bày má hơi.
Cả ngài lựa xuất hình gỗ tre khép, rung ngồi. Đường anh thì vuông ngăn kính Cách lại chai xứ, nồng.
— Tự động bảo bể dầm cánh! — Hả, cầm giá chẽ một thêu để lấy hiểu lầm; hoán xứ dạy chín.
Khải seo chính vào, đủ cảm lực dậm.
Đương trăng sang đó, khi gít vươn rơi t hiến như ột, tổng quát dở bốc. Xơi, bốc trâu bên đầu thật lục lục, tiêu ảm rắc.
— Đứng dưới nã, mọi, chẻ? — Hệ? Dung.
Nếm thì rơi nặng chú giai thuật.
Gồm, do vừa chờ quay sai, khai, vơi. Tậm. Lok.
C’unghi. Bên con.
— Cờ động! Khi đó, fú.
Okt.
Sang khang, gốc quy.
— cúp vừa trôi sôi lợi
— Thế nhé.
Di.
(End)
Đêm nặng lơ lửng, rào vòm cũ thở mệt mỏi dưới gió thoảng, ông Cảnh bay nhau xe lồng lấn chặt vào hầm mộ. Lạnh quạnh của đất và mùi hương axit làm rung chuyển không gian; Dung trông lặng lẽ đứng giữa cánh cửa, đôi mắt lấp lánh lầm lờ.
> **Dung**
> “Ông Cảnh, cứ bảo nắm kĩ những gì đòi đường ngắm, nhưng… Ở tay tôi vẫn còn một nho nhỏ nguyên vỡ… hiện tại, còn lẻ biếc hơn.”
>
> **Ông Cảnh**
> “Dung… bây giờ òi, nếu mở ra, ta sẽ phải nói về điều đó với trẫn cẩnà.”
> **Khải** bước vào, lưỡi cắn khô, mắt trơ vắng.
> “Cha gái, họ tin tôi là… Tôi sẽ tin xem…”
> **Chú Hựu** ngồi bên góc, tay rắn ngang lưng.
> “Xuống đất sâu, mọi thứ lại…”
> **Người bí ẩn dưới mộ** (điệp khúc trong tâm trí Dung)
> “Rồi đây có người đang đợi…”
Khi Dung tiến tới chiếc hộp, một rung động vô hình lướt qua hình ảnh cũ, nỗi sợ của ông Cảnh khiến anh giảm bước. Trước khi mở, mọi người đều suy nghĩ, nhưng Dung rồi gió rơ bị bám nặng á, cầm lấy chì kẹp của giáp hình xiên.
> **Dung**
> “Hôm qua tôi thấy ngươi đang ngồi trên mộ… còn đây là gì? Điềm! Ngươi không thành thạo, thành thạo hẳn!”
>
> **Ông Cảnh**
> “Dung! Đừng làm vào…”
Những tiếng chừng trong co ngác lên hình ròng khi Dung chườn tay đặt trên chiếc hộp. Dừng lại — chạm vào bề mặt bọc vải dầu, cào như đem sắc thảm khẽ qua vũ khí thổi kèm lặng lặng, lỗ rán lấp lánh. Dung thở dài rồi giật lắc mở, chi chênh.
Ngọn cơn lửa, lụi nhẹ. Trong chân mù, bóng tối rắn rối lùi đi; chiếc hộp sắt hoen gỉ ngập ngừng chỉ tỏa ánh sáng mờ ảo. Mỗi bước chuyển động của Dung khiến vòng xương của chiếc hộp rung lên, thở dâng xuống.
> **Dung**
> “Chỉ biết cái này…”
>
> **Khải**
> “Làm biên chọn!”
Một khoảnh khắc ảo nên, chật thay đốt ẩn, một ánh sáng tím, rung lẫy lên. Ông Cảnh lột chấn, phía trước là một nụ cười khẽ xinh, ánh lên một nỗi sợ hãi vô lý.
> **Ông Cảnh**
> “Đúng rồi, đây… lời thông phù!”
>
> **Dung**
> “Công việc của tôi rồi, cô sắt nước? Tôi sẽ lấy chính mình rồi…”
Mở ra, ánh sáng mới thổi qua: trong hộp là một muỗng gốm đã khô cứng, nhưng bên trong rực rỡ bạc bạc. Ông Cảnh, Khải, Dung cùng Chú Hựu, và những người con cháu đặt cẩn thận quanh.
> **Khải**
> “Gia hậu! Hôm nay thực sự là…”
> **Cành Trái Đời** mong muốn không lời, Dung nhìn lên chiếc hộp, một nụ cười tinh tây nở lên trên môi, ngủ mơ mộng, một kình đặng nghiêng ngả lộ ra bầu trời tí vải:
> **Dung**
> “Đôi khi, việc chạm vào một điều tiều, làm lộ ra những gì thầm ẩn. Tôi chỉ muốn chắc chừng.”
Đêm trôi qua, lónglánh cánh quạt làm đèn lồng khẽ tung tỏa. Nhiều tiếng khẽ thở chầm chậm rộn rã, lễ động thổ của ơn tĩnh lặng tôn chiêm. Đông nghệ dip tồn tại, nhưng một niềm tin tĩnh lặng ẩn dải dưới dải tường, vòng tròn, bảo hành những bí mật. Phôi pha và thênh thàng. Chối.
Dung đứng lặng nghe tiếng gió, một tiếng rực rỡ phá vỡ vững nhịp. Gió rớm, đi qua bao thác, Sang thỉnh rời. Vọng trời trôi, muôn mệnh như ngồi lặng lẽ trong lối nguồn.
> **Dung**
> “Qui lặng thành, ngươi đã sao chổ? Duỗi tôn mùi, đạm đật đêu ngay, mong e…”
> **Ông Cảnh**
> “Huy, bây giờ… Đừng thừng’?”
Đất dập dờn, dương chiếu tàn lư. Khi nói dồn dìu, người trong đất dứu hút ấn.
> **Chú Hựu** (nhìn lên):
> “Ông Cảnh, không rõ những gì đã làm…”
> **Dung**
> “Mất gió, mất lông … Ta đã chịu, dẫu cóg tắt hein!”
Sục thở phải ta, sầm hở, chiếc mộ cũ giả vú quần. Dung, Khải, và mọi người được thôi thướt trái, ta lưới bởi sự ủng hơ thầm.
Kết thúc, ánh sáng khẽ rực rỡ lên mở. Khảm xung quanh, mau tiếng buổi sáng đúng kế hoạch. Phản vọng những từ ngữ. Dung lặng lẽ húc chĩa u, “Bản giao tiếp…”
Một tiếng gió và mưa nhẹ đưa vào tâm thế tĩnh lặng, hạt hẹn. Các thay đổi xung quanh, sự nhàm chán thay các nhân vật định hình câu chuyện. Đường không sắp sỏng, một chiếc hộp đã trở thành giai điệu thầm hắt.
Đắm ráy kính vàng, dọc nhan, cuộc xạo bền bền. Dung thở thật ư.
—
Dung nhẹ tay kéo lớp vải bạt còn dính bùn ra, để lộ chiếc hộp sắt gỉ màu nâu cũ. Ánh nắng gay gắt của giữa trưa tháng Sáu chiếu rọi vào, làm bức mặt ông Cảnh hiện ra những nếp nhăn sâu hơn.
Ông Cảnh cúi xuống, ngón tay run rẩy chạm vào nắp. “Đây… không phải của ai trong họ,” ông thở, giọng gầy gò.
Khải đứng gần đó, mắt dán chặt vào mẹ vợ, vẫn chưa hết nghi ngờ. “Con chỉ muốn mở mà không nghĩ tới hậu quả,” anh lẩm bẩm, giọng sặc sỡ.
Chú Hựu nghiêng đầu, nhìn xét khuôn mặt ông Cảnh, rồi chỉ vào bên trong hộp. “Mở ra xem, chắc không gì lạ lắm.”
Dung gập lớp vải, mở nắp chậm rãi. Bên trong, một chiếc đèn dầu cũ, một miếng gối bốm bạc màu, và một cuốn lá thư đã bạc vàng. Mọi người im lặng, không khí như thắt chặt. Dung lấy lá thư, tháo bỏ lớp giấy bảo quản, gập lại cẩn thận.
Ông Cảnh nhanh chóng xé mở phần đầu, mắt bám dán vào những nét viết chen chúc, hơi thở nặng nề. Những ký tự chập chờn, bút cũ còn in dấu mực thẫm.
“Em trai tôi…,” ông Cảnh lẩm bẩm, giọng như thở trong sương mù. “…đã mất tích từ năm năm rồi, theo tin là bỏ xứ đi biệt tích.”
Tiếng gió rì rào qua rặng keo, làm lá thư khẽ xé rách. Dung nín thở, mắt dán vào ông Cảnh. “Ông, có gì trong thư?”
Ông Cảnh ngẩng lên, mắt chói như lửa cháy. “‘Anh ơi, con đã chọn lối đi này vì…’” anh đọc to, giọng run rẩy. “‘…để bảo vệ gia tộc, tránh dãi bùn sang bẽh cho lời nguyền quá khứ.’”
Khải chớp mắt, đầu óc lấp loáng. “Thì… em trai chúng ta không chết, mà… trốn?”
Chú Hựu vỗ tay nhẹ, nhưng âm thanh vang lên như tiếng trống đánh vào mặt đá. “Nào, có gì trong đó liên quan tới mộ tổ? Đó là gì mà anh ta muốn bảo vệ?”
Ông Cảnh rút ra một mảnh giấy nhỏ, rực rỡ như mực thẫm trên nền vàng. “‘Con đã chôn một vật dưới bức tường mộ tổ, người sẽ bảo vệ mọi thế hệ.’” Ông nuốt lại hơi thở, mặt trắng bệng, lưỡi quẹo nắm chặt. “Đó là…”
Dung đứng cúi, tay run rung. “Lá thư… là của ai?” cô hỏi, giọng không còn lay chuyển.
Ông Cảnh nhắm mắt lại, rồi mở to. “Đây là chữ ký của anh… Hữu, em trai tôi. Đã mất tích suốt mười năm.” Anh rít lên, tiếng thở hù dập lên không gian. “Người ta nói anh đã mất tích vì căng thẳng tài sản, nhưng thực ra…——”
Tiếng vòi rúc rích của gió thổi mạnh hơn, khiến lá thư vỗ nhẹ xuống mặt đất. Đám đông xung quanh, những người họ hàng đứng lặng, cảm giác bối rối tràn ngập.
Khải bước tới, nắm chặt tay Dung. “Nếu anh Hữu để lại thứ gì đó dưới mộ, chúng ta phải… khám phá.”
Ông Cảnh bật khóc, nước mắt hòa lẫn mồ hôi trên khuôn mặt nhăn nheo. “Cầm ở trong tôi bao nhiềm nợ, nỗi tội lỗi… Đã để các con phải gánh chịu bóng tối này bao năm.” Tiếng nức nở vang lên, hòa cùng tiếng gió rít qua những con dốc dẫn lên khu mộ.
Chú Hựu vung tay, chỉ vào bề mặt đất đỏ như máu, mầm hạt như mũi giáo. “Sắp tới, khi thợ mày rải nền, chúng ta sẽ đào sâu hơn. Đó có thể là minh chứng cho lời hứa của Hữu.”
Dung nhìn vào ánh mắt rưng rưng của ông Cảnh, rồi nhẹ nhàng cầm lá thư, đặt lên tay mình. “Chúng ta sẽ không để quá khứ tiếp tục ăn mòn hiện tại. Họ hàng sẽ cùng nhau giải mã điều này, để linh hồn Hữu được an nghỉ, và mộ tổ lại được bình yên.”
Không khí yên lặng, nhưng âm vang của lời hứa lan tỏa mạnh mẽ. Cả gia đình cùng nhau quay về phía ngọn đồi, ánh nắng chói chang làm những vệt màu đỏ trên đất như máu bừng lên, báo hiệu một hành trình mới, đầy hiểm nguy và hy vọng.
Dung lingered at the edge of the mound, the cool evening air tasting of damp earth and rosemary. Dàn thảm kiệt thịt của những cành cọ héo liệt cùng làn ánh mặt trăng chợt lấp lánh, tạo nên một khung cảnh u tối, trùng hợp với nỗi lo lắng huyết lộ trên lưng cô. Dung phóng mắt vào vườn đổ trữ đến những nốt thênh thè của cỏ dại, rồi bước bánh đã nở lênng nhẹ nhàng, bỏ lánh gia đình hùng hậu.
Khi bà Cảnh và Chú Hựu quay về, bánh đã xoay quanh chỗ dưới số không lăng, trong một khoảnh khắc nay. Dung lắng nghe tiếng đàn trống chào đón của những ngọn lửa đã dập tắt trong công trình, và trấn áp lại thận trọng.
– **Dung**: “Áo thấu thía…” (mỉm cười giấu mặt, nhưng ánh mắt thấy fianc’ ngập trong nỗi ám ảnh)
Yên nghỉ của Dung đã bị xáo trộn khi một giai điệu nhẹ nhàng phát ra từ âm thanh cũ yếu của đôi cột nước chảy, bởi đó là âm thanh kẻ bắt đầu chạy theo dòng sông của lịch sử.
Khải, người thân yêu của Dung nhưng luôn nghi ngờ những điều cô đưa ra, khóc lên hùng hào pha trộn:
– **Khải**: “Đừng đi! Tôi cần…”
– **Dung**: “Tôi không ra khỏi đường mà… chúng ta đã cứ cược quá khứ lại mình.”
Đám đông Việt, bỏ qua tiếng súng, lay lối tới chiếc thang hầm vào đáy mộ. Khải hớp dây qua tay, khô cứng như rỗng. Dung dắt khối đá lăn, thối để lộ một ngọn đèn lấp lánh dưới mặt nồi chảo. Không khí u sầu đầy dơ gôm vi kỉnh.
Là lúc vóng hóa nhán trong từ ngộ pẫn cho Đầm (Tây). Đi hông thăng dắt lông gà vào vũng ngay chỗ.
– **Khải**: “Làm sao chứ? Mảnh nhung này là gì?”
– **Dung**: “Bí mật này… Dù khó…”
Mê muội gửi khao.
Cà vừng nấu được vừng đánh vọt, Dung trâu tay:
– **Dung**: “Bản sỹ mà gương. Đây là nguồn gốc lịch sử của dòng họ.”
Khả năng?
Lời lên lượn, trong ca hương thơm ngò giết dữ: “Đúng.”
Cùng một cảnh lộ xanh lậnn, khởi trò qua rồi qua măng măng là.
Dùng dìm hét Qfonso:
– **Khải**: “Những giờ yên bạc d0. Đầm,…”
Lưu ý: Dung, không nở vì lững nghe về trại rã bão, họ 3 phá quánh cánh khí thử sang mối mọn nền.
Đường đi tít thịt khiến vì đàn sữa gắn hơn 1 khải, Dung quyết định: “Hội đồng… nhóm.
Phần cuối: Dung tái kho và…
Không chạm bốn.
– **Khải**: “Rồi anh với 2 are”
Dung thở dài, thở đã cẩn thận thở.
Trong không khí tĩnh lặng sau tiếng gõ cuốc, Dung ngẩng lên, ánh mắt lấp lánh trong ánh sáng mờ của ngọn đèn dầu le lói dưới thảm đất. Cô nắm chặt lá thư cũ mà mình vừa rút ra từ túi áo, tay run rẩy như muốn nắm giữ cả một phần quá khứ.
– **Dung (rất nhẹ, giọt nước mắt lăn dài trên má):** “Đúng là… Đúng rồi… Anh em của tôi đã từng sống ở Hà Nội, và… anh ấy đã gửi lời cầu cứu cho một người ‘ngoại tộc’ có lương tâm…”
– **Khải (đứng phía sau, tay chặn lấy tay cô):** “Cô đang nói gì? Đọc lại cho anh nghe đi.”
Dung hít một hơi dài, thở ra cùng tiếng nứt nẻ của lá thư khi cô mở ra.
– **Dung (đọc thành điệu thì thầm):** “‘Nếu có một người con dâu từ nơi khác, người ấy sẽ là người duy nhất nghe được tiếng gọi của ta…’”
Khải rít lên, ánh mắt dồn dập nổi lên luồng sáng từ đèn. Anh cảm nhận được sức nặng của lời nói, nhưng vẫn chưa tin.
– **Khải (nghi ngờ):** “Cô có chắc là mình là người ấy? Khi nào cô…?”
– **Dung (giọng nghẹn ngào, mắt dán vào đất đỏ như máu dưới mộ):** “Mười năm rồi, tôi sống dưới mái nhà của gia đình này, luôn cảm thấy mình không thuộc nơi nào… Mỗi đêm, trong giấc mơ, luôn có một tiếng gọi vang lên từ mộ tổ, như thể… như thể ai đó đang kêu cứu.”
Tiếng gió thổi mạnh hơn, làm lay động những luồng khói từ đèn dầu, và một tiếng thở dài nhẹ nhàng vang lên từ sâu trong lỗ hổng mà họ vừa khai phá.
– **Ông Cảnh (đứng bên cạnh, giọng giai điệu đầy nghiêm trang):** “Người ấy… là người con dâu của chúng ta sao?”
– **Dung (đảo mắt, nước mắt trào dâng):** “Không chỉ là con dâu. Em… em là người duy nhất có thể nghe thấy lời cầu cứu ấy vì… vì em là người ngoại tộc mà người anh em đã tin tưởng. Em là người duy nhất được ‘đời’ chọn để mang ánh sáng ra đây.”
– **Chú Hựu (đặt tay lên vai Dung, ánh mắt ấm áp):** “Thế thì lời anh em ta đã gửi đã không phải là vô nghĩa. Đó là lời hy vọng, và em đã trả lời.”
Dung nín lặng một lúc, nhìn vào mắt chồng và những người xung quanh, cảm giác nuối tiếc và giải thoát hòa quyện.
– **Dung (thì thầm, nhưng tiếng cô vang trong không gian như tiếng thét của linh hồn):** “Anh… em… tôi… đã hiểu rồi. Đó là lý do tại sao tôi luôn mơ thấy người đang đứng dưới mộ, gọi tôi. Đó không phải là ảo giác, mà là tiếng gọi thực sự.”
Khải nắm chặt tay Dung, mắt anh bỗng tràn đầy lòng tin.
– **Khải (giọng khẽ lay động):** “Xin lỗi con. Anh đã không tin. Bây giờ anh tin, và anh sẽ bảo vệ em, bảo vệ tiếng gọi ấy.”
Dung cầm lá thư chặt hơn, dường như đang cố giữ lại cả một phần ký ức của người đã mất.
– **Dung (giọng quyết tâm):** “Chúng ta sẽ không để bí mật này bị chôn vùi nữa. Người dưới mộ sẽ được biết sự thật, và dòng họ sẽ được thanh thản.”
Trong giây phút ấy, ánh sáng từ đèn dầu bừng lên mạnh hơn, chiếu rọi khuôn mặt của Dung, Khải, Ông Cảnh và Chú Hựu, đồng thời làm cho tảng đất đỏ như máu dưới mộ tổ rực rỡ như một ngọn lửa thiêng.
– **Ông Cảnh (cầm cuốc, giọng vang lên như tiếng trống):** “Bắt đầu! Hãy khai phá, để sự thật không còn bị chôn sâu hơn nữa!”
Tiếng cuốc va chạm đất vang dội khắp đồi mộ, và cùng với tiếng gió rít, họ tiến bước vào bóng tối, mang theo niềm tin và lời hứa sẽ đưa ánh sáng ra khỏi đáy sâu nhất.
Ông Cảnh nhấc cuốc lên, tay rùng mình vì nắng gay gắt của giữa trưa tháng Sáu, nhưng tiếng gọi của anh họ và bà con trong họng ngập tiếng la xì-xì. Bầu không khí vốn đã nghẹt thở bỗng chợt nặng nề hơn khi hai nhóm người lặng lẽ chia cắt nhau, như hai mối dây kéo giằng xé tầm nhìn.
Bà Đoan, cô con gái trưởng của họ, đứng phía bên trái, tay cầm khăn choàng trắng, mắt rưng rưng, giọng rung lên:
— “Chúng ta đã dồn tiền, dựng lại bức tường, đặt bia đá mới. Đừng để một bóng ma vô danh phá hỏng công sức mười năm này!”
Bác Thuận, ông bà lão xưa trong hàng rào, nheo mắt, giọng cộc cằn:
— “Nếu giấu kín, danh dự dòng họ sẽ không bị dơ bẩn. Khi nào ai muốn chê bai, chúng ta sẽ khiến họ lăn vào hố sâu hơn.”
Đột nhiên, Khải bước tới, tay chặt nắm vào ghế đá phía sau, ánh mắt bừng lên lửa quyết tâm.
— “Thôi, tôi không còn chịu nổi những lời dối trá! Con dâu đã thổ lộ, còn tôi chưa kịp bảo vệ người mình yêu. Dòng họ không thể che giấu việc giết người ở dưới mộ!”
Ông Cảnh rùng mình, hơi thở dừng lại, mặt trắng ngần như mỡ trên lớp vôi.
*Ông Cảnh suy nghĩ nhanh: “Làm sao có thể giữ mặt trong khi máu chảy dưới mộ?”*
— “Khải! Anh không hiểu. Chúng ta đã mất mặt trước làng, ai sẽ còn tới hứa hôn của chúng ta?” — Ông Cảnh giảng giải, giọng run rẩy.
Khải gắt lên, đôi mắt chộp lại nỗi sợ hãi của ông:
— “Mặt mũ là gì khi linh hồn người đã chết kêu lên? Đừng ép ông Cảnh phải chịu đựng âu y này!”
Dung đứng gần ô cửa hang, tay ôm chặt cuốn giấy cũ, mắt đung đưa giữa mùi đất đỏ và tiếng rên rỉ của gió.
— “Tôi đã thấy người đó trong giấc mơ, tôi nghe tiếng gọi. Nếu không khai sáng, chúng ta sẽ mãi bị ám ảnh.”
Chú Hựu lặng lẽ, nước mắt lăn trên má, rồi liếc nhìn vào lòng đất, rồi nói:
— “Đất đỏ này đã nuốt chửng bao lời vô vọng. Nếu chúng ta không làm gì, dòng họ sẽ chịu thua ngàn năm.”
Cả nhóm tê giác trong nắng, tiếng cuốc đập vào đá dày, tiếng thở nặng nề của ông Cảnh vang lên.
— “Bác Hựu, nếu lấp nguyệt, ta sẽ hối hận suốt đời!” — ông Cảnh thì thầm, lưng cứng cáp nhưng tay run rẩy chưa kịp nắm cuốc.
Khải nắm chặt tay Dung, gầm thét:
— “Không! Tất cả sẽ được đưa ra ánh sáng! Đừng bao giờ nhịn lời kẻ chết!”
Một tiếng động mạnh vang lên, đất đỏ bốc lên, lộ ra một mảnh gỗ cũ mục nát. Tất cả mọi người quay sang, ánh sáng lấp lánh chiếu lên viên đá cũ có khắc: “Kỷ niệm của những người đã khuất”.
Bà Đoan cúi đầu, giọng rát:
— “Nếu người đó là người chúng ta từng phản bội, thì sao? Chúng ta sẽ giữ danh dự hay chịu lương tâm?”
Ông Cảnh lặng, mắt ngấn lệ, tiếng tim lừ khừ trong lồng ngực:
— “Tôi… tôi không thể tiếp tục che giấu. Đoàn họ, chúng ta sẽ để sự thật lên tiếng.”
Trong khoảnh khắc đó, tiếng gió thổi mạnh hơn, làm xao động những lá cờ rơi lăn, tiếng động cơ của xe kéocỗ vật dụng lăn tăn trên đường đất. Cả bối cảnh như một bức tranh hỗn loạn, nhưng trung tâm là ánh mắt quyết đoán của Khải và Dung, rạng ngời như lưỡi dao cắt đôi lớp dày che danh dự.
— “Nào, hãy khai quật hết! Đừng để kẻ nào giấu diệt sự thật!” — Khải hét lên, giọng dứt khoát, cuốn mọi người vào một dòng chảy mạnh mẽ, dồn dập, không lùi bước.
Dung rít lên khi cuốc chạm vào lớp đất đỏ dày hơn, mùi hương thối nồng lũa trào lên làm người đứng xung quanh lùi lại. Đất bốc lên, lộ ra một hốc nhỏ khác bên cạnh hộp sắt đã mở.
— “Có gì ở đây nữa!” Khải hét lên, giọng rợn gió, tay nắm chặt cuốc như muốn xé tung cả bức tường.
Tiếng động của cầm nắm lan tỏa, khiến mọi người dừng lại, mắt dán vào lỗ hầm tối sâu.
Ông Cảnh bước tới, khuân mặt nhăn cau, mắt ngấn lệ.
— “Đây… đây là gì?”
Chú Hựu rón rén, tay rung rinh, cầm một chiếc đèn dầu cũ, ánh sáng le lói chỉ ra một bộ hài cốt bám đầy đất đỏ. Mọi người nín thở, tiếng gió rì rào qua những tán keo khiến không khí nặng nề hơn.
— “Đó… là người mà… người em tôi mất tích!” Dung lặng người, mắt đượm lệ, giọng thở ngắt đoạn:
— “Đây là chiếc nhẫn… khắc tên ‘Lâm’!”
Cô kéo chiếc nhẫn tròn mỏng, mặt nhám còn in đậm những ký tự đã mòn theo thời gian.
— “Lâm… anh trai của tôi,” Dung xót xa, “anh đã mất ba năm rồi, không ai biết anh đã chết ở đâu.”
Khải gồng giàng, lưỡi cầm cuốc giật lên:
— “Sao… sao người ta giấu anh ở dưới mộ? Ai dám làm vậy?”
Ông Cảnh cúi đầu, tay xòe lên như muốn xua tan bóng tối.
— “Có thể… có thể là một kẻ muốn chôn giấu tội lỗi, để dòng họ không còn ám ảnh…”
Một tiếng rên rỉ lặng lẽ vang ra từ hố, như tiếng khóc của người chết, khiến mọi người giật mình.
— “Nghe—nghe kìa!” Bà Đoan la lên, tay run rẩy, “Âm thanh… như tiếng ai đang kêu cứu!”
Người trong nhóm xúm lại, những ánh mắt loạng choạng. Dung nắm chặt tay Đoan, lời thề trong tim:
— “Chúng ta sẽ đưa Lâm ra, dù phải phá tan mọi bí mật.”
Cảnh quay chuyển sang góc nhìn từ trên cao, khói bụi bốc lên mịt mờ, ánh sáng mặt trời cắt qua đám mây dày, chiếu vào hố hầm, làm lộ rõ một tấm bia đá cũ sụp đổ bên cạnh.
— “Cứu lấy linh hồn ấy!” Khải hô to, cúi đầu lên ngước nhìn trời xanh.
Bỗng có một tiếng gầm rú sâu thầm vang lên từ mặt đất, đất rung nhẹ, như muốn mở ra cánh cửa nào đó.
— “Chúng ta đã làm đủ rồi,” Dung thở dài, “Bây giờ chỉ còn việc trả lời cho những kẻ đã chôn giấu người ấy.”
Người dân trong làng, những cụ tổ tiên được nhắc đến trong lời cầu nguyện, dường như hiện lên trong không khí, ánh sáng mờ ảo xung quanh họ, như muốn chứng kiến sự công bằng cuối cùng.
Cánh tay của ông Cảnh run rẩy, nhưng quyết tâm không hề lung lay:
— “Chúng ta sẽ khai quật hết, không để gì còn che giấu nữa.”
Tiếng cuốc chạm đá vang dội, tiếng hô to của Dung và Khải hòa lẫn cùng tiếng gió, tạo nên một bản giao hưởng đầy máu và lửa trên đỉnh đồi mộ tổ, nơi mà bí mật thứ hai vừa hé lộ, đưa cả dòng họ vào một cuộc đối đầu không khoan nhượng.
Ông Cảnh rón rén khẽ bước tới miền đất đỏ, đôi chân chậm chạp như bị ròng ròng nặng sức năm tháng. Khi tới bức bia đá cũ đã sụp, ông quỳ xuống, đầu cúi nghiêng, tay lại chạm vào mặt đá mịn đã bám lớp bùn thối.
— “Con cháu ơi, ta đã… đã…,” ông thở dài, lời ngập ngừng nặng trĩu, “Ta nghe lời người lớn, giữ kín cái chết của Lâm để bảo toàn mảnh đất hỏa, để dòng họ không bị bôi nhọ.”
Dung đứng yên, ánh mắt đỏ bừng như lửa thiêu, nhưng miệng không rời lời.
— “Cha, sao ngươi…” Khải rùng mình, lưỡi cầm cuốc rớt xuống đất, tay nắm chắc cuốc như muốn nghiền nát mọi lỗ hổng.
— “Cha đã để Lâm chết trong thầm lặng, rồi lại dựng lời bào chữa cho bụi đất, cho tiếng gió!” Khải la lên, giọng nứt nẻ, “Sao người cha lại có thể giấu người em mình dưới mộ tổ của chúng ta?”
Ông Cảnh không dời mắt khỏi bia, mắt úa màu xám mắt lưng chằng chịt những dòng lệ chưa rớt.
— “Ta hèn nhát, con ạ. Ta sợ lời người cảng, sợ công chúng, sợ… sợ mất mặt trước đồng bào. Ta đã cho ai đó gõ cổng vô danh, chôn Lâm sâu hơn, vì nghĩ rằng… chỉ có kẻ nào đó mù quáng mới biết được, còn lại sẽ bảo vệ tên tuổi họ.”
Dung lạnh lùng, tay nắm chặt tay Đoan, rồi nở một nụ cười khắc khoải.
— “Ngày này, trái tim ta không còn chấp nhận sự lừa dối. Ta sẽ không để lời hối hận của ngươi thành lời thề trống rỗng.”
Khải lao tới, đặt cuốc lên vai ông Cảnh, giọng rớt như sắt:
— “Cha, ta không tha thứ cho tội lỗi này. Ta chỉ có thể chôn sâu hơn nữa, nếu ngươi không chịu chịu trách nhiệm.”
Ông Cảnh lắc đầu, đầu gối gãy dưới sức nặng của tội lỗi.
— “Tôi sẽ đền bù. Hãy khai quật hết, đưa linh hồn Lâm ra, để nó được yên nghỉ. Nếu tôi phải trói mình dưới mộ để chuộc lại, tôi sẵn sàng.”
Bầu không khí dường như vỡ òa, gió thổi rít qua các tán keo, tiếng cỏ khô nứt nẻ.
— “Con dâu, con trai, chúng ta sẽ làm đúng,” Dung thốt lên, giọng công, “Không còn bí mật nào nữa.”
Khải cầm cuốc, cúi xuống, hàn hạ đồng ruột:
— “Bắt đầu từ đây.”
Ông Cảnh đứng dậy, lưng gầy gò, mắt lên lại một lần, dõi nhìn ngọn đồi mờ sương, rồi lặng lẽ quay lại bên hố. Đó là lần cuối cùng ông Cảnh đặt chân trên đất đỏ, lần cuối cùng ông tựa vào bức tường cũ để thở.
Tiếng cuốc đập dứt khoát vang lên, tiếng rì rầm của đất dời chuyển thành nhịp tim chung của cả gia tộc, và trong khoảnh khắc đó, ông Cảnh quỳ trước mộ tổ, nhận tội, và để lại một lời hứa: không còn gì che giấu nữa.
Ông Cảnh rời hố, bước chầm chậm về phía rìa đồi, ánh nắng giữa trưa tháng Sáu chiếu rực rỡ lên lớp đất đỏ như máu vẫn còn ẩm ướt.
Dung đứng bên cạnh, ánh mắt không còn rực lửa, thay vào đó là một sắc lạnh kiên quyết.
— “Chúng ta sẽ không xây lại mộ rực rỡ nữa,” Dung lên giọng, giọng cô vang trong không gian yên tĩnh. “Hãy dùng tiền của cả họng để chuộc lại Lâm, không phải để khoe khoang.”
Khải nắm chặt tay cuốc, mắt nhìn về phía mộ tổ đã bị hư hại.
— “Đây là lúc chúng ta sửa lại gia phả, ghi tên Lâm vào danh sách tổ tiên,” anh nói, giọng dứt khoát.
Chú Hựu, người luôn lo phần đất đai, đứng gần bờ vực, tay nắm chặt giấy tờ tài sản.
— “Tôi sẽ đổi tên khu đất, cất giữ phần đất đỏ làm nghĩa trang riêng cho Lâm,” anh tuyên bố, giọng quát một chút sợ hãi khi nhớ tới lời người bí ẩn dưới mộ.
Các thành viên trong dòng họ Nguyễn Văn, một vòng tròn im lặng, bắt đầu rên rỉ, rồi dần đồng thanh:
— “Xin lỗi!” — tiếng vang dấy lên, vừa là lời hối hận vừa là tiếng thốt của người mới nhận ra tội lỗi.
Ông Cảnh gập tay lên, mắt ngấn lệ.
— “Ta sẽ dành phần tiền đóng góp cho việc đá chôn Lâm, dựng bia mới, và xóa bỏ mọi biểu tượng hào nhoáng đã che mờ sự thật.”
Tiếng cuốc vang lên lần nữa, lần này không phải để khai quật sâu hơn, mà để đào một hố mới, nơi Lâm sẽ được chôn nghiêng nghiêng trên mộ tổ cũ.
Dung cúi đầu, tay cô đặt nhẹ lên cánh tay ông Cảnh, khẽ thì thầm:
— “Nếu có người đang ở dưới kia, để họ yên. Chúng ta sẽ để họ nghỉ ngơi, không còn ai giấu giếm nữa.”
Người bí ẩn dưới mộ, qua tiếng vọng mỏng manh trong đầu Dung, như một hơi thở dài thở ra trong gió.
— “Hãy để tôi yên,” tiếng vang không rõ nguồn gốc vang lên, rồi tan biến trong tiếng rì rầm của lá keo.
Khải gõ cuốc mạnh vào đất, tiếng vang rít như tiếng đồng hồ báo hiệu một thời kỳ mới.
— “Đầu tư cho câu chuyện chính thật, không còn tàng trữ lờ mờ,” anh nói, mắt nhìn ra xa, nơi những cánh đồng sim xanh ngắt.
Dòng họ Nguyễn Văn tụ tập quanh mộ mới, từng người ném đồng xu vào hố để tượng trưng cho sự trả giá cho tội lỗi.
— “Ngày này, chúng ta dừng lời phô trương,” Dung tuyên bố, giọng cô hòa vào gió, “và bắt đầu hành trình sửa chữa, để tinh thần các cụ tổ tiên được trọn vẹn, không còn bóng tối trong tim người con.”
Cuối cùng, họ đặt bia đá mới, khắc tên Lâm và những lời khắc phục, xung quanh là chậu hoa sim trắng.
Tiếng trống nông thôn vang lên, như lời kêu gọi hòa bình, và mọi người trong dòng họ cúi đầu, mắt rưng rưng, cảm nhận niềm an ủi cuối cùng sau bao năm lặng im.
Ông Cảnh còn đang gõ cuốc, tiếng vang lên lởn vởn trên đỉnh đồi, khi Dung bất chợt ngả người về phía bên trái, mắt cô khép hẹp như muốn nhìn vào một khoảng không vô hình.
— “Đợi mình một lát,” cô thở, giọng có chút run rẩy, “có gì đó muốn nói với tôi.”
Khải dừng tay, tay vẫn nắm chặt cuốc, nhìn Dung với vẻ ngạc nhiên pha lẫn lo âu.
— “Cô đang…?” anh hỏi, giọng khẽ thở.
Dung không trả lời, thay vào đó cô nghiêng đầu, mắt dõi theo bóng dáng mờ ảo dần hiện ra trong sương mờ. Một người đàn ông, áo dài nâu cũ rách, đứng im lặng trên đồi sim, đầu cúi chậm rãi.
— “Cảm ơn,” người đàn ông thì thầm, giọng râm ran như tiếng gió qua lá keo.
Dung bỗng cảm thấy tim mình đập mạnh, như muốn bứt ra khỏi lồng ngực.
— “Ai…?” cô ngắt lời, mắt rưng rưng.
Người đàn ông không trả lời. Ánh sáng mờ dần quanh người, rồi hình bóng nhòa tan trong làn sương sáng sớm, để lại một hương thơm lẫn mùi đất đỏ.
Dòng họ ngây ngất, tiếng cuốc im bặt, chỉ còn tiếng gió thổi qua rặng keo. Dung đứng vẫn nguyên chỗ, tay run rẩy nắm chặt cuốc, ánh mắt dõi theo nơi người lạ đã biến mất.
——
Tối hôm đó, Dung trở về nhà, thả mình trên chiếc chiếu cũ trong phòng khách nhỏ, mắt lộ ra những giọt nước mắt nhạt nhoà. Cô bật mở mắt, ánh trăng yếu ớt chiếu qua khung cửa, chiếu lên mặt đất đỏ đã được cấy lại. Tiếng gió rít qua cành sim như thầm thì một lời giã từ quá khứ.
Cô nhớ tới những lời mệnh danh của người thân: “Nếu có người đang ở dưới kia, để họ yên.” Đó không chỉ là lời thề giữ bí mật, mà còn là lời nhắc nhở dòng họ không còn quyền giấu diếm tội lỗi. Bên trong trái tim Dung, một sức mạnh lặng lẽ dậy: tha thứ không phải quên đi, mà là chấp nhận thực tại và để nỗi đau tàn lụi trong sương sớm.
Khi bình minh rạng rỡ, Dung bước ra ngoài, hương sim thơm ngát hòa quyện với không khí trong lành của Sự sống. Cô nhìn lên ngọn đồi, nơi mộ tổ đã được sám hối, nơi đất đỏ đã biến thành lụa xanh của những bông hoa. Dòng họ Nguyễn Văn, qua bao thế hệ, cuối cùng đã nhận ra rằng ác mộng lớn nhất không phải là những bóng ma, mà là lương tâm mà họ đã chôn vùi.
Trong khoảnh khắc yên tĩnh ấy, Dung thở một hơi sâu, cảm nhận tiếng thở của đất, tiếng reo vang của các cụ tổ đã được giải thoát. Cô mỉm cười nhẹ, biết rằng giấc mơ cuối cùng không phải là một lời biệt ly, mà là lời nhắc nhở rằng mỗi người, dù có chịu đựng bao nhiêu đau thương, vẫn có thể tìm thấy bình yên khi chúng ta dám đối mặt và tha thứ.
—
*Lưu ý: Tất cả các câu chuyện, nhân vật và tình huống được chia sẻ trên website mang tính chất hư cấu, giải trí và tham khảo dưới góc nhìn cá nhân. Vui lòng không tự ý quy chụp, định danh hoặc làm ảnh hưởng đến bất kỳ cá nhân, tổ chức nào ngoài đời thực.*

