“Lên thăm con trai ở rể nhà vợ, con trai từ trong bếp đi ra nói “Bố mẹ vợ con đi tập thể dục, chắc lát nữa sẽ về đấy ạ. Còn vợ con thì vẫn đang ngủ”, con tôi cười trả lời khiến tôi càng t::ức, ngay hôm sau tôi về bán hết đàn lợn ở quê….“Thằng Tú là đứa con trai duy nhất của tôi. Từ ngày nó lấy vợ trên phố và ‘ở rể’ theo lời người ta nói, tôi cũng đành ch;ặc l;ưỡi. Người làm cha, miễn con mình sống tử tế là được. Nhưng đến khi lên thành phố thăm nó, nghe cái câu đầu tiên nó cười cười nói ra, tự dưng tôi thấy cả đời mình ở quê hóa ra chỉ là chuyện cười cho người ta kể lại.”
Trời mới hửng sáng, tôi đã kéo chiếc ba lô cũ, lưng áo còn d;ính m/ùi c;ám l;ợn, bắt xe từ quê lên thành phố thăm thằng Tú. Gọi là thăm, chứ thật ra là tôi nhớ nó. Từ ngày lấy vợ, nó hiếm khi về quê. Vợ chồng tôi già rồi, mảnh vườn sau nhà quạnh hiu, chỉ có đàn lợn là còn vui. Mỗi lần nghe tiếng lợn kêu, tôi lại nhớ cái giọng thằng Tú thuở nhỏ, nhõng nhẽo gọi “bố ơi”.
Chuyến xe dài hun hút, vừa dằn xóc vừa ngột ngạt. Nhưng lòng tôi thì háo hức, tay vẫn ôm khư khư túi quà – vài lạng giò quê, ít măng khô, với con gà mái mơ mẹ nó nhốt từ chiều hôm qua. Của quê ít ỏi, nhưng đậm tình.
Đến nơi, tôi đứng trước cánh cửa sắt của một căn chung cư cao tầng. Tôi gọi điện cho nó, một lát sau cửa mở. Thằng Tú ló ra, tay còn cầm cái thìa, mùi trứng chiên vương trên áo. Thằng bé gầy đi, nhưng mắt vẫn sáng, chỉ là nụ cười nó hôm nay… khác lạ quá.
– Bố? Ơ bố lên mà không báo trước…
– Báo trước để mày viện cớ à? – tôi cười nhẹ, trêu cho vui.
– Không có đâu, không có đâu… – nó gãi đầu – Bố mẹ vợ con đi tập thể dục, chắc lát nữa sẽ về đấy ạ. Còn vợ con thì vẫn đang ngủ…
Tôi chết lặng.
Không phải vì câu “vợ con vẫn đang ngủ”, mà là cách nó nói cái câu ấy. Nhẹ hều, dửng dưng, như thể chuyện thường tình. Con trai tôi, vốn là đứa lễ độ, chưa từng để tôi đụng tay vào nước lạnh khi ở nhà. Nay lại cười cười, kể chuyện vợ ngủ nướng trong khi nó cặm cụi dưới bếp.
Tôi bước vào. Nhà đẹp, tiện nghi đủ đầy. Nhưng sao lòng
tôi thấy trống rỗng. Bố mẹ vợ nó ở đâu? Vợ nó đang ngủ? Còn nó thì hì hục chiên trứng cho ai?
Thằng Tú bày bữa sáng ra bàn – toàn món đơn giản: trứng, bánh mì, sữa đậu nành. Tôi nhai từng miếng mà như nhai sự cam chịu. Thằng con tôi, người tôi dạy lớn lên bằng mồ hôi đất ruộng, giờ lại sống thế này sao?
– Thế… mày nấu ăn sáng hàng ngày à?
Nó gật đầu.
– Vâng, vợ con dậy muộn. Với cả bố mẹ vợ quen ăn theo giờ của họ. Con tranh thủ nấu sớm cho tiện…
Tôi đặt đũa xuống. Bỗng thấy miếng trứng như ng;hẹn ở cổ.
Trưa hôm đó, tôi chẳng gặp được ai ngoài nó. Vợ nó ngủ đến hơn 10 giờ, bước ra gật đầu chào rồi… lên phòng cắm cúi vào laptop. Mẹ vợ nó về, thấy tôi thì chỉ cười xã giao: “Ông lên chơi à? Lâu lắm mới thấy ông đấy…” rồi biến mất vào phòng bếp, như thể nhà này không phải của tôi cũng chẳng phải của con trai tôi.
Tôi ngồi lặng trong góc sô pha, nghe tiếng nồi niêu va chạm trong bếp, không phải do thằng Tú nấu – mà là mẹ vợ nó. Còn nó thì tất bật rửa bát, lau nhà.
Tối đến, sau bữa cơm, tôi kéo nó ra ban công.
– Tú… – tôi ngập ngừng – mày sống thế này ổn không?
Nó cười, mà nụ cười chua chát như vị nước chè đặc.
– Bố à, thời nay không giống ngày xưa. Ở rể cũng là một cách sống. Vợ con có công việc tốt, nhà này là của nhà vợ, con chỉ cần không làm phiền họ là được. Con cũng có lương, có đóng góp. Bố mẹ đừng lo…
Tôi gằn giọng:
– Tao không lo chuyện tiền. Tao lo mày sống không ra thân đàn ông. Đàn ông gì mà vợ ngủ còn mình h;ì h;ục nấu nướng? Vợ mày… có c//oi mày ra gì đâu!
Nó quay đi, không nói gì. Tôi bỗng thấy lòng mình đầy giận, đầy buồn. Tự nhiên tôi thấy… tôi thất bại. Một đời làm lụng, dạy con biết sống biết tự trọng, giờ nó lại cười cười làm người giúp việc không công trong chính “nhà của vợ nó”.
Đêm đó, tôi không ngủ. Sáng sớm hôm sau, tôi bỏ về.
Vừa về đến quê, tôi vào chuồng lợn, nhìn đàn lợn béo ục ịch đang ăn cám mà lòng ngổn ngang. Từng con, từng con, tôi nuôi như nuôi con. Nhưng giờ tôi thấy, tôi cần dứt.
Tôi bán hết đàn lợn hôm ấy…. Xem tiếp 👇”
“… Người mua lợn đến tận cổng, chiếc xe tải to đỗ xịch. Ông dẫn người ta ra sau chuồng. Đàn lợn ục ịch, con nào con nấy béo tròn, lông da mượt mà. Chúng là mồ hôi, nước mắt, là cả sự nghiệp còm cõi của ông suốt mấy chục năm qua. Ông nhìn chúng lần cuối, lòng thắt lại. Người mua ngắm nghía, gật gù, đưa ra cái giá. Ông không mặc cả nhiều. Gật đầu cái rụp.
“”Cân lên đi,”” ông nói, giọng khản đặc.
Tiếng lợn kêu eng éc khi bị lùa ra khỏi chuồng, tiếng chân chạy thình thịch trên nền xi măng, rồi tiếng cửa xe tải sập lại nghe chói tai. Từng con, từng con một, niềm tự hào của ông, nguồn sống của cả nhà, bị lùa lên xe một cách thô bạo. Ông đứng nhìn, ánh mắt dõi theo từng bước chân run rẩy của lũ lợn, cảm giác như có ai đó đang xẻo thịt từ chính da thịt mình.
Người mua đưa tiền, xấp tiền dày cộp, nhưng trong mắt ông, nó không có giá trị bằng một sợi lông của lũ lợn. Đây không phải là tiền bán lợn. Đây là cái giá cho nỗi uất hận đang gặm nhấm lòng ông. Đây là sự dứt khoát đau đớn của một người cha cảm thấy mình đã thất bại. Ông cần tiền. Không phải để xây nhà hay mua sắm, mà là để chứng minh. Để có cái để chống lại cái sự khinh khỉnh, dửng dưng ông đã thấy trên thành phố. Để có cái để… đòi lại con trai.
Chiếc xe tải nổ máy, từ từ lăn bánh. Nó mang đi không chỉ mấy tấn thịt. Nó mang đi cả một phần cuộc đời ông, mang đi những ký ức gắn liền với tiếng lợn kêu, mùi cám, và những hy vọng đơn sơ về tương lai của con trai. Ông đứng đó, nhìn theo chiếc xe khuất dần sau rặng tre, nắng sớm chiếu vào mặt, mà sao thấy buốt lạnh tận tâm can. Quyết định này, nó tàn nhẫn, nhưng cần thiết. Nó là phát súng đầu tiên cho một cuộc chiến mà ông không biết liệu mình có thắng nổi không.”
“Ông Người cha không nhớ mình đã đi bộ về nhà như thế nào. Bước chân cứ lầm lũi, nặng trịch. Cổng nhà hiện ra trước mắt, quen thuộc nhưng hôm nay lại mang theo một cảm giác lạ lẫm. Ông bước vào sân. Nắng trưa vẫn gay gắt. Mùi cám vẫn còn thoang thoảng trong không khí, nhưng không còn tiếng ục ịch quen thuộc. Mắt ông hướng về phía sau nhà. Chuồng lợn. Nó trống hoác. Sạch trơn. Chỉ còn nền xi măng và những vệt nước nhỏ chưa khô hẳn. Sự tĩnh mịch bao trùm. Nó đáng sợ hơn bất kỳ âm thanh nào.
Vợ của người cha đang ngồi vá áo ngoài hiên. Bà ngẩng đầu lên khi thấy bóng chồng bước vào. Bà hơi giật mình. Giờ này ông lẽ ra vẫn còn ở chợ hoặc đang làm việc gì đó ngoài đồng. Nhưng quan trọng hơn là bộ dạng của ông. Khuôn mặt khắc khổ, ánh mắt xa xăm, bờ vai trĩu nặng. Bà không nói gì. Bà chỉ nhìn ông. Ánh mắt bà đầy lo lắng, xen lẫn sự thắc mắc tột cùng. Chuyện gì đã xảy ra? Sao ông lại về sớm? Đàn lợn đâu?
Ông Người cha cũng không nói gì. Ông chỉ đứng đó, nhìn vào cái chuồng lợn trống rỗng, rồi lại nhìn vào ánh mắt vợ. Có quá nhiều điều muốn nói, nhưng cổ họng ông nghẹn ứ. Tất cả sự uất hận, thất vọng, và cả sự dứt khoát đau đớn từ sáng sớm cứ cuộn trào trong lòng. Ông không biết phải bắt đầu từ đâu. Cả hai đứng trong im lặng, chỉ có tiếng quạt trần quay rì rì và tiếng chim chóc ngoài vườn. Sự im lặng này còn nặng nề hơn cả những lời buộc tội. Bà Vợ của người cha vẫn kiên nhẫn nhìn ông, chờ đợi. Bà biết, chỉ cần nhìn vào mắt ông, bà sẽ hiểu chuyện gì đó rất lớn đã xảy ra. Và bà đúng. Ánh mắt ông không chỉ có mệt mỏi. Nó còn có sự quyết tâm lạnh lùng, và một nỗi đau âm ỉ.”
“Đêm xuống thật chậm và nặng nề. Người cha nằm trên chiếc giường quen thuộc, nhưng không sao chợp mắt được. Bóng tối bao trùm căn phòng, nhưng trong đầu ông lại sáng rõ mồn một những hình ảnh.
Đó là Tú của ngày xưa, một thằng bé gầy nhẳng, chạy lon ton sau lưng ông ra chuồng lợn. Nó ngoan ngoãn, lễ phép, vâng dạ từng tiếng. Nhớ những buổi chiều hè, hai cha con cùng ra bờ ao thả câu, thằng bé cứ tíu tít kể chuyện trường lớp. Tú ngày ấy hồn nhiên và đầy sức sống. Nỗi nhớ đứa con ngoan cứ day dứt trong lòng ông.
Rồi khung cảnh lập tức chuyển sang buổi sáng hôm qua ở thành phố. Cái căn chung cư chật chội, cái bếp lạ lẫm. Ông lại thấy cảnh Tú đứng lúi húi bên nồi cháo, dáng vẻ hơi khom lưng, có vẻ không quen thuộc lắm với công việc bếp núc. Bên cạnh, mẹ vợ của Tú lại thao tác thoăn thoắt, chiếm hết không gian. Và nụ cười gượng gạo của Tú khi ông hỏi về vợ. “”Vợ nó còn ngủ””. Câu nói ấy cứ văng vẳng trong tai ông.
Một đứa con trai lớn tướng, có vợ có con, mà sáng sớm vẫn phải tự tay nấu ăn, còn vợ thì ngủ vùi. Cảnh tượng đó cứ như một nhát dao cứa vào tim ông. Nó mâu thuẫn với tất cả những gì ông từng nghĩ về con trai mình, về tương lai của nó. Ông đã bán hết đàn lợn, bán cả cơ nghiệp tích cóp bấy lâu, chỉ mong con có vốn liếng ra ở riêng, tự chủ cuộc sống. Để rồi chứng kiến cảnh này.
Cảm giác thất vọng len lỏi, rồi biến thành một nỗi uất hận âm ỉ. Uất hận vì đứa con ông hết lòng vun đắp lại sống một cuộc đời có vẻ lép vế đến vậy. Uất hận vì công sức, vì sự hy sinh của ông dường như trở nên vô nghĩa. Ông lật mình, tiếng cọt kẹt của giường gỗ trong đêm tĩnh mịch nghe thật chói tai. Ông muốn hét lên, muốn hỏi Tú, muốn hỏi trời đất, tại sao lại ra nông nỗi này?
Ông nhắm mắt lại, cố xua đi những suy nghĩ nặng nề. Nhưng càng cố, những hình ảnh và cảm giác ấy càng bám riết. Tú ngày bé. Tú ngày hôm qua. Cái chuồng lợn trống hoác. Ánh mắt lo lắng của vợ. Tất cả trộn vào nhau, tạo thành một gánh nặng nghẹt thở đè lên lồng ngực người cha. Đêm nay, giấc ngủ là một thứ xa xỉ.”
“Sáng hôm sau, người cha vừa bước ra khỏi buồng đã thấy vợ ngồi sẵn ở bàn nước. Bà đã thức dậy từ lâu, vẻ mặt đầy lo lắng, đôi mắt quầng thâm vì đêm không ngủ. Cái vẻ bồn chồn của bà khác hẳn mọi ngày khiến người cha cảm thấy nặng trĩu thêm. Ông ngồi xuống đối diện bà, không nói gì, chỉ lặng lẽ nhìn cái ấm nước trên bếp.
Vợ ông nhìn thẳng vào mắt ông, giọng bà run run, không kìm được nữa: “”Ông này, sao tự dưng ông lại bán hết lợn đi thế? Không nói với tôi một tiếng nào cả.””
Người cha cúi gằm mặt: “”Thì… thì bán rồi.””
“”Bán rồi là sao?”” Vợ ông gằn giọng hơn một chút, sự bồn chồn biến thành bực tức: “”Cả cơ nghiệp nhà mình đấy ông ạ! Nuôi mấy năm trời, giờ đùng cái bán hết! Tiền nong đâu? Ông tính toán thế nào?””
“”Tiền… tôi giữ đấy.”” Ông trả lời cụt lủn, không muốn nói thêm.
“”Ông định làm gì? Giờ không còn đàn lợn nào, hai thân già ở quê trông vào đâu? Rồi còn thằng Tú…”” Giọng bà nghẹn lại: “”Ông bán đi như thế, nó có biết không? Liệu nó có buồn không?””
Người cha ngẩng phắt dậy, ánh mắt thoáng qua sự đau đớn và uất hận từ đêm qua chưa tan: “”Nó… nó chẳng cần đâu. Tôi làm gì, nó quan tâm gì đâu!””
“”Sao ông lại nói thế?”” Vợ ông bất ngờ trước phản ứng gay gắt của chồng: “”Nó là con mình mà. Ông bán lợn đi như vậy, chẳng phải vì lo cho nó sao?””
“”Lo cho nó?”” Người cha cười khẩy một tiếng đầy chua chát, đó là tiếng cười khô khốc của sự thất vọng: “”Tôi lo cho nó, nhưng có lẽ nó không cần cái sự lo của tôi.””
“”Ý ông là sao? Ở thành phố có chuyện gì à?”” Bà càng lúc càng lo lắng hơn, linh cảm có điều chẳng lành: “”Ông lên đấy, thằng Tú nó thế nào? Vợ chồng nó có đối xử tệ bạc gì với ông không?””
“”Không có gì cả!”” Ông gắt lên, đứng phắt dậy, đi ra ban công. Ông không muốn đối diện với ánh mắt đầy mong chờ và lo lắng của vợ, không muốn phải nói ra cái cảnh tượng mà ông đã chứng kiến, cái cảnh tượng cứa nát lòng ông. “”Bà đừng hỏi nữa! Tôi bán rồi, tiền đây, bà cầm lấy mà chi tiêu. Còn chuyện khác, đừng bận tâm!””
Ông nói rồi quay lưng lại, nhìn ra khoảng sân trống vắng phía sau nhà. Nơi đó, lẽ ra là chuồng lợn nhộn nhịp, giờ chỉ còn nền đất lạnh lẽo. Vợ ông ngồi chết lặng ở bàn nước, nhìn theo bóng lưng cô đơn của chồng, sự lo lắng trong lòng dâng lên như nước lũ. Bà biết có điều gì đó rất nghiêm trọng đã xảy ra ở thành phố, điều gì đó đã khiến chồng bà, người đàn ông cả đời chỉ biết cắm cúi làm lụng vì con cái, trở nên lạnh lùng và đầy uất hận đến vậy. Mối quan hệ giữa ông và Tú, liệu có rạn nứt thật rồi sao?”
“Tiếng chuông điện thoại vang lên bất ngờ, cắt ngang sự im lặng nặng trĩu. Người cha vẫn đứng ở ban công, nghe tiếng chuông dồn dập từ trong phòng. Ông chậm rãi quay người lại, bước vào. Chiếc điện thoại đặt trên bàn, màn hình hiện lên chữ “”Tú””. Ông chần chừ một lát, rồi cầm máy lên, đưa vào tai. Vợ ông vẫn ngồi đó, ánh mắt nhìn ông đầy mong chờ.
“”A lô,”” ông nói, giọng khô khốc.
Đầu dây bên kia, Tú cất tiếng, giọng có vẻ gấp gáp: “”Bố à? Bố đấy à? Con Tú đây.””
“”Ừ,”” người cha đáp cụt lủn.
“”Sao… sao bố lại bán hết lợn đi thế ạ?”” Tú hỏi thẳng, giọng rõ sự ngạc nhiên và lo lắng: “”Ai báo cho con… Con tưởng bố còn để ăn Tết chứ ạ? Sao tự dưng bố bán nhanh vậy?””
Người cha nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi từng là chuồng lợn. “”Thì… thì bán rồi.””
“”Bán rồi ạ? Nhưng mà sao bố không nói với con một tiếng nào cả?”” Tú dường như không hiểu: “”Có chuyện gì xảy ra hả bố? Lợn có bị bệnh gì không? Hay là… bố đang cần tiền ạ?””
Sự lo lắng trong giọng Tú như càng xoáy sâu vào nỗi đau và sự uất hận của người cha. Cần tiền? Ông đã từng nghĩ sẽ bán bớt để cho nó. Nhưng bây giờ… Ông hít một hơi thật sâu.
“”Không có gì,”” ông trả lời, giọng lạnh lùng hơn: “”Không bệnh gì cả. Bán thì bán thôi.””
“”Nhưng…”” Tú lắp bắp: “”Bao nhiêu tiền hả bố? Bố cất ở đâu đấy ạ? Có nhiều không? Lỡ có chuyện gì…””
“”Tiền đây,”” người cha ngắt lời, ánh mắt liếc về phía vợ đang ngồi sững sờ: “”Bà ấy giữ rồi. Đừng hỏi nữa.””
Cuộc nói chuyện đột ngột chững lại. Tú im lặng một lúc, có vẻ bối rối trước thái độ của bố. Rồi nó lại lên tiếng, giọng nhỏ hơn, như cố thăm dò: “”Bố có khỏe không? Dạo này ở quê thế nào ạ?””
“”Khỏe.””
“”Vâng… Thế… bố có lên chơi với vợ chồng con không ạ? Lâu rồi bố không lên.””
“”Không lên.””
Lại một khoảng im lặng. Lần này dài hơn. Người cha cảm thấy mệt mỏi. Ông không muốn nói chuyện với nó lúc này. Mọi lời nói của nó lúc này đều nghe như giả dối sau những gì ông đã thấy ở cái thành phố hào nhoáng đó.
“”Thôi… thôi con tắt máy đây nhé bố,”” giọng Tú nghe có vẻ hụt hẫng. “”Bố giữ gìn sức khỏe nhé.””
“”Ừ.””
Ông đặt điện thoại xuống bàn, không nói thêm lời nào. Vợ ông nhìn ông, ánh mắt đầy câu hỏi và sự thất thần. Bà không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Cuộc điện thoại đáng lẽ là cầu nối giữa hai cha con, giờ lại chỉ để lại một khoảng trống lạnh lẽo. Người cha quay lưng lại, đi ra ban công một lần nữa, nhìn vào khoảng không trống trải. Lòng ông nặng trĩu, nỗi uất hận vẫn âm ỉ cháy. Ông biết, mối quan hệ cha con đã không còn như xưa nữa rồi.”
“Người cha ngồi một mình bên hiên nhà cũ kỹ. Ánh chiều tà ngả bóng dài, nhuộm vàng mảnh sân đất. Ông nhìn ra xa, đôi mắt nhăn nheo chất chứa bao suy tư. Cuộc điện thoại với Tú vẫn còn văng vẳng trong tai, như một nhát dao xoáy vào lòng.
Ông suy ngẫm. Suy ngẫm về cái gọi là “”đàn ông””. Cả đời ông sống theo nếp cũ, theo những gì ông cha dạy lại. Đàn ông là trụ cột, là người làm lụng nuôi sống gia đình, là người gánh vác trách nhiệm. Đàn ông là phải mạnh mẽ, không được yếu mềm, không được dựa dẫm. Ông đã dạy Tú như thế. Ông luôn muốn con trai mình phải rắn rỏi, phải biết bươn chải bằng chính sức mình.
Nhưng có phải ông đã sai? Có phải những giá trị ông cố chấp giữ lấy đã lỗi thời trong cái xã hội hiện đại này? Ông nhìn thấy Tú ở thành phố. Thằng bé có nhà lầu (dù là nhà vợ), có xe hơi, có công việc nhàn hạ nơi công sở. Nó sống tốt về vật chất, tốt hơn ông rất nhiều. Nó không phải dãi nắng dầm mưa, không phải vật lộn với con lợn, con gà. Vợ nó lo cho nó từng bữa ăn, từng giấc ngủ. Mẹ vợ, bố vợ nó chăm sóc chu đáo.
Nhưng sao trong mắt ông, Tú lại không còn cái “”chất đàn ông”” nữa? Cái dáng vẻ dựa dẫm, cái sự thụ động trước những vấn đề của chính gia đình mình (như chuyện bán lợn), cái sự ỷ lại vào nhà vợ… Tất cả những điều đó khiến ông đau đớn. Cơn đau không chỉ vì thất vọng về con trai, mà còn vì sự tự vấn chính mình. Phải chăng chính cách dạy của ông, sự kỳ vọng của ông đã tạo ra khoảng cách này? Hay là ông quá cố chấp, quá bảo thủ để hiểu rằng thế giới đã thay đổi, và định nghĩa về “”đàn ông”” cũng có thể khác đi?
Ngồi đó, giữa không gian quen thuộc của quê nhà, nơi mồ hôi, nước mắt và cả niềm tự hào về sự vất vả, sự tự chủ đã thấm đẫm, ông cảm thấy lạc lõng. Tú đang sống theo một cách mà xã hội hiện đại coi là thành công, nhưng cách sống đó lại đi ngược lại mọi thứ ông tin tưởng. Và nỗi đau của người cha không chỉ là nhìn thấy con đi chệch hướng, mà là nghi ngờ chính con đường mình đã đi, chính những giá trị mình đã sống trọn đời. Sự uất hận trong lòng vẫn còn đó, nhưng giờ đây, nó hòa lẫn với một vị đắng của sự băn khoăn và nỗi buồn sâu sắc.”
“Ông già bước vào căn nhà cũ, tấm lưng còng hơn thường lệ. Không gian im ắng, chỉ có tiếng côn trùng rả rích ngoài vườn. Ông đến bên chiếc tráp gỗ cũ kỹ đặt dưới gầm giường, cẩn thận kéo nó ra. Bên trong là một bọc vải sờn màu. Ông run run mở bọc vải.
Xấp tiền dày cộp hiện ra. Mùi giấy bạc mới lẫn cũ xộc lên. Đây là toàn bộ số tiền thu được từ việc bán hết cả đàn lợn. Đàn lợn mà ông đã đổ bao mồ hôi, công sức, thức khuya dậy sớm chăm bẵm. Đàn lợn là niềm hy vọng về một khoản tiền đủ để sửa sang nhà cửa, hoặc ít nhất là có chút vốn liếng tuổi già. Giờ thì tất cả đã ở đây.
Ông bắt đầu đếm. Từng tờ, từng tờ một. Ba mươi triệu. Bốn mươi triệu. Năm mươi triệu… Con số cứ lớn dần lên. Đó là một khoản tiền không nhỏ đối với một lão nông như ông. Đủ để trang trải cuộc sống tằn tiện ở quê trong vài năm, hoặc nếu khéo léo, có thể đầu tư vào thứ gì đó sinh lời.
Nhưng kỳ lạ thay, nhìn xấp tiền dày cộp trên tay, lòng ông không hề gợn chút vui sướng hay thỏa mãn nào. Ngược lại, một cảm giác trống rỗng, nặng trĩu đè lên lồng ngực. Cái giá của số tiền này, ông biết, không chỉ là công sức vật vã với đàn lợn, không chỉ là mồ hôi đã đổ xuống chuồng trại tanh hôi. Cái giá thật sự là sự đánh đổi. Đánh đổi hy vọng vào con trai. Đánh đổi cái mong muốn nhìn thấy Tú tự đứng vững trên đôi chân mình. Đánh đổi cả niềm kiêu hãnh về cái “”chất đàn ông”” mà ông hằng tâm niệm.
Số tiền này đến từ sự yếu đuối, sự dựa dẫm của Tú. Nó đến từ cuộc gọi bất lực, từ sự thật phũ phàng rằng Tú không lo được cho chính gia đình nhỏ của mình mà phải cần đến tiền bán lợn của ông. Mỗi tờ tiền như một nhát cứa nhắc nhở ông về sự thất vọng, về khoảng cách ngày càng lớn giữa ông và con trai, giữa thế giới ông thuộc về và nơi Tú đang sống.
Ông nắm chặt xấp tiền trong tay. Tiền nhiều thật đấy. Nhưng nó có mua được sự tự hào của một người cha không? Có mua được sự an tâm về tương lai của con trai không? Có mua được giấc ngủ ngon khi nghĩ về nó không? Không. Chắc chắn là không. Nỗi uất hận và thất vọng không tan đi, mà như đặc lại, thấm vào từng đồng tiền lạnh ngắt. Ông nhìn chằm chằm vào xấp tiền, đôi mắt đục ngầu chất chứa bao suy tư ngổn ngang, cay đắng.”
“Ông già vẫn ngồi đó, xấp tiền trên tay, đôi mắt đục ngầu nhìn xa xăm. Tiếng lạch cạch quen thuộc ở cổng khiến ông giật mình. Ông vội vàng nhét xấp tiền vào lại chiếc tráp gỗ, đẩy nhẹ vào gầm giường.
Một người hàng xóm thò đầu qua cổng, ánh mắt tò mò. “”Ông Tư ơi, có nhà không đấy?””
Ông Tư, tức người cha, gượng gạo đứng dậy. “”Có, có. Ai đấy? À, ông Sáu.””
Ông Sáu bước vào sân, dáng vẻ nhàn tản của người đang rảnh rỗi. Ông đảo mắt quanh sân, rồi liếc về phía chuồng lợn trống hoác. “”Tưởng ông đi thành phố thăm thằng Tú chưa về chứ? Thấy cửa mở.””
Ông Tư nén tiếng thở dài. “”Về rồi… về mấy bữa rồi.””
“”À thế à? Sao không thấy tiếng đàn lợn ủn ỉn nữa? Bán hết rồi hả? Bán được giá không ông?”” Ông Sáu vừa hỏi vừa tiến lại gần.
Ông Tư cảm giác như có cái gì đó đang siết chặt lồng ngực. Cái nhìn của ông Sáu, tưởng chừng vô tư, nhưng sao lại như mũi kim châm vào chỗ đau. Bán hết rồi. Bán vì thằng con trai ở thành phố. Bán vì nó bất lực. Bán vì sự thất vọng của ông. Ông gật đầu nhát gừng. “”Ừ, bán hết rồi.””
“”Chà! Cả đàn cũng được kha khá nhỉ? Chắc ông tính làm gì lớn đây? Sửa sang nhà cửa hay mua sắm gì hả?”” Ông Sáu cười xởi lởi.
Ông Tư chỉ muốn gào lên rằng tiền này là tiền bán đi cả niềm tin của ông. Tiền này là tiền cứu vớt thằng con trai không có nổi một đồng lo cho vợ con. Nhưng ông nuốt khan. “”À… thì cũng… để đấy thôi.””
“”Thằng Tú giờ làm ăn nên làm ra chứ? Nghe đâu nó trên đó vất vả lắm hả? Mà sao cái đợt giỗ bà nhà trước không thấy vợ chồng nó về? Bận việc quá à?”” Ông Sáu tiếp tục khai thác, mỗi câu hỏi như một nhát dao nhỏ.
Ông Tư cảm thấy cả người nóng ran. Vất vả ư? Nó không lo được cho vợ con. Nó sống dựa. Nó để ông già ốm yếu ở quê phải bán đi công sức cả năm trời. Vợ nó thì đến cái lễ cũng không về được, hay là không muốn về? Ông lảng tránh cái nhìn xoáy sâu của ông Sáu. “”À… chúng nó… cũng bận rộn ấy mà. Trên thành phố, công việc nó khác ở quê mình.””
“”À thế à… Tôi cứ tưởng… Tại thấy lâu lâu không thấy nó về, cũng ít gọi điện hỏi thăm ông. Hay tại bận thật?”” Ông Sáu vẫn chưa chịu dừng, giọng hơi hướm suy đoán.
Ông Tư đứng im, lưng còng hơn. Ông biết ông Sáu không ác ý, chỉ là sự tò mò của người hàng xóm, thói quen bình phẩm, bàn tán chuyện thiên hạ. Nhưng lúc này, sự tò mò đó giống như hàng trăm con mắt đang nhìn chằm chằm vào ông, vào cái quyết định bán lợn bộc phát, vào sự thật ê chề về thằng con trai ông hằng tự hào. Ông cảm thấy trần trụi, cô đơn, bị soi mói trong chính cái vỏ bọc mà ông cố tạo ra.
“”Thôi… tôi vào nhà đây ông ạ. Trời nắng quá.”” Ông Tư lật đật quay lưng đi, không muốn đối diện với ánh mắt của ông Sáu thêm một giây nào nữa.
Ông Sáu nhìn theo bóng lưng gầy guộc của ông Tư, khẽ lắc đầu. “”Lạ thật… Bán hết lợn… đi thăm con về mà mặt cứ rầu rầu…”” Ông lẩm bẩm một mình, ánh mắt vẫn đầy vẻ suy tư.
Ông Tư bước vào nhà, cảm giác nặng nề còn hơn lúc ông đếm tiền. Xã hội ở quê là thế. Không có gì qua được mắt hàng xóm. Họ sẽ bàn tán gì sau lưng ông? Chắc chắn rồi. “”Thằng Tư bán lợn cho thằng con ở thành phố đấy.”” “”Nghe đâu nó làm ăn không ra gì, phải để ông già tiếp tế.”” “”Thấy bảo vợ nó ghê gớm lắm, nó sống ở rể khổ sở…””
Những lời đàm tiếu tưởng tượng như từng nhát búa gõ vào trái tim ông. Ông ngồi thụp xuống cái ghế mộc, hai tay ôm lấy mặt. Tiền có rồi. Con trai tạm thời được cứu. Nhưng ông lại mất đi sự bình yên, sự tự hào, và giờ đây, cả cái vẻ ngoài vững chãi trước hàng xóm láng giềng. Cái giá phải trả sao mà đắt thế này…”
“Ông Tư lảo đảo đứng dậy khỏi ghế, cảm giác nặng trĩu vẫn bám lấy ông. Ánh nắng gay gắt bên ngoài như đang chế giễu sự bất lực của ông. Ông không thể ngồi yên. Chân tay ông quen với công việc, quen với sự vận động. Ông bước ra sân, nhìn về phía chuồng lợn trống hoác. Một nỗi buồn thắt lại. Công sức của ông, hy vọng của ông, giờ chỉ còn là cái chuồng lạnh lẽo và một xấp tiền nằm dưới gầm giường.
Ông quyết định làm gì đó để quên đi. Vẫn còn những việc đồng áng lặt vặt cần làm. Ông vớ lấy chiếc cuốc, đi ra vườn sau, nơi có vài luống rau cần vun xới.
Ông còng lưng làm việc dưới cái nắng trưa gay gắt. Từng nhát cuốc xuống đất, từng nhúm cỏ dại bị nhổ bỏ. Nhưng tâm trí ông lại không ở đây. Nó lơ lửng đâu đó, giữa cái nóng bỏng rát của thành phố và cái lạnh lẽo trong căn hộ của con trai.
Hình ảnh Tú, thằng con trai cao lớn ngày nào, giờ lom khom đứng trong cái bếp nhỏ, trước cái chảo đang chiên trứng. Nó vụng về lật quả trứng, khuôn mặt hơi nhăn nhó vì mỡ bắn. Một hình ảnh nhỏ bé, lạc lõng, khác xa với thằng Tú ông từng biết, từng tự hào. Nhát cuốc của ông khựng lại giữa chừng.
Rồi lại là nụ cười. Cái nụ cười gượng gạo, thiếu tự nhiên của Tú khi ông hỏi vợ nó đâu. “”Vợ con… vợ con còn ngủ, bố ạ.”” Giọng nó nhỏ xíu, như sợ làm phiền ai đó đang ngủ trong phòng. Cái cách nó né tránh ánh mắt ông, cái vẻ ngại ngần như một đứa trẻ mắc lỗi. Nụ cười ấy không phải là hạnh phúc. Nụ cười ấy là sự cam chịu, là nỗi khổ tâm bị che giấu vụng về.
Những chi tiết vụn vặt ấy, khi ở đó ông chỉ thấy lạ lẫm, thì giờ đây, khi một mình đối diện với công việc quen thuộc ở quê, chúng lại hiện về rõ mồn một. Như những đoạn phim cứ lặp đi lặp lại trong đầu. Tú trong căn bếp ấy, Tú với nụ cười gượng gạo ấy.
Từng nhát cuốc, từng hình ảnh. Chúng cứa vào lòng ông. Nỗi thất vọng không chỉ là việc thằng Tú không lo nổi cho vợ con, không phải là việc ông phải bán lợn để “”cứu”” nó. Nỗi thất vọng lớn hơn là nhìn thấy con trai mình sống như thế. Mất đi vẻ tự tin, mất đi sự ngang tàng, sống một cuộc đời cúi đầu, gượng gạo.
Ông quẳng mạnh chiếc cuốc xuống đất. Nó kêu cạch một tiếng khô khốc. Ông chống tay vào đầu gối, thở dốc. Khuôn mặt ông nhăn lại vì đau đớn, không phải vì cái nắng hay công việc, mà vì những hình ảnh ám ảnh đang bóp nghẹt trái tim ông. Hình ảnh thằng con trai bé mọn, bất lực của ông. Tất cả những gì ông thấy, chỉ càng củng cố thêm một sự thật tàn nhẫn: ông đã nuôi dạy một thằng con thất bại. Và cái giá của sự thất bại đó, giờ đây, ông là người gánh chịu một phần.”
“Ông Tư đứng đó, thở dốc, chiếc cuốc nằm chỏng chơ dưới đất. Nỗi thất vọng cuộn lên như một cơn bão trong lòng. Ông quay người, lảo đảo bước về phía nhà. Vừa đi, ông vừa ngước nhìn về phía sau. Đó là căn nhà ông đã dựng lên bằng mồ hôi nước mắt, từng viên gạch, từng cây gỗ đều thấm đẫm kỷ niệm.
Bước vào sân, ông thấy Vợ của người cha đang cặm cụi nhóm bếp, chuẩn bị bữa tối. Bà lom khom bên đống củi, khuôn mặt lấm lem khói bụi nhưng ánh mắt vẫn ánh lên sự kiên nhẫn. Ông đứng lặng nhìn bà, như thể lần đầu tiên nhìn thấy vợ mình sau bao nhiêu năm chung sống.
Bà vẫn vậy. Tần tảo, chịu thương chịu khó. Hình ảnh bà nhóm bếp bỗng đưa ông về những ngày xa lắc, khi cả hai vợ chồng mới cưới, tay trắng dựng nghiệp. Cái nghèo bủa vây, nhưng họ chưa bao giờ than thở. Bà lo việc nhà, ông lo việc đồng áng. Bà chăm sóc đàn lợn, ông làm lụng ngoài vườn. Mỗi người một vai, gánh vác trách nhiệm rõ ràng, không ai tị nạnh ai. Bát cơm tuy đạm bạc nhưng ấm áp tiếng cười. Giấc ngủ tuy trên manh chiếu cũ nhưng bình yên, đầy ắp tình nghĩa.
Ông nhớ như in cái cách bà lo toan mọi thứ trong nhà, từ bữa ăn đến tấm áo. Ông cũng nhớ cái cách ông hùng hục làm lụng, chỉ mong cho vợ con được đủ đầy hơn một chút. Họ là một đội, cùng nhau chiến đấu với cuộc sống khắc nghiệt ở Quê.
Rồi ông lại nhớ đến Tú. Thằng con trai cao lớn của ông, giờ đây đang ở trong cái Căn chung cư chật chội giữa Thành phố ồn ào. Tú của ngày hôm qua, đang loay hoay với cái chảo trứng trong bếp, cái bếp không phải của nó, mà là bếp nhà bố mẹ vợ. Tú của ngày hôm qua, với nụ cười gượng gạo khi nói Vợ của Tú còn ngủ. Tú của ngày hôm qua, sống một cuộc đời ở rể, mọi thứ đều phải nhìn sắc mặt người khác.
Ông Tư cảm thấy như có ai đó đang bóp nghẹt tim mình. Cuộc sống ngày xưa của ông và vợ, dù nghèo khó, nhưng họ là chủ cuộc đời mình. Họ cùng nhau xây dựng, cùng nhau vun đắp. Còn Tú? Tú đang sống cuộc đời của ai? Cái vai trò làm chồng, làm trụ cột gia đình mà ông vẫn luôn dạy dỗ, giờ đây nó vứt đi đâu rồi?
Sự sẻ chia của họ là cùng nhau gánh vác khó khăn. Sự sẻ chia của Tú là nhường hết mọi việc cho vợ con (hoặc thậm chí là bố mẹ vợ) còn mình thì… nấu bữa sáng?
Nghĩ đến đây, một cơn uất hận trào lên. Ông không hiểu, không thể chấp nhận được. Cái hình ảnh thằng con trai ông từng đặt biết bao kỳ vọng, giờ đây lại bé nhỏ, lạc lõng đến vậy trong chính cuộc hôn nhân của nó. Cái cảm giác thất bại, đắng ngắt nơi cuống họng càng trở nên rõ rệt. Đó không chỉ là thất bại của Tú, mà là thất bại của chính ông, của cả cuộc đời ông.”
“Cái cảm giác thất bại, đắng ngắt nơi cuống họng càng trở nên rõ rệt. Đó không chỉ là thất bại của Tú, mà là thất bại của chính ông, của cả cuộc đời ông. Đúng lúc ấy, chiếc điện thoại cũ trong túi quần ông lại rung lên. Màn hình hiện tên thằng con trai.
Ông Tư do dự một chút, rồi cũng ấn nghe. Giọng Tú ở đầu dây bên kia nghe có vẻ căng thẳng, pha lẫn chút vội vã.
“”Bố à? Bố vẫn đấy chứ?”” Tú hỏi, giọng hụt hơi.
“”Ờ, bố đây,”” Ông Tư đáp cộc lốc.
“”Bố nghe con nói này. Cái lúc nãy… bố thấy thế nào con biết. Nhưng mà cuộc sống Thành phố nó là như vậy đấy bố ạ. Nó không giống ở Quê mình đâu.”” Tú bắt đầu, cố gắng giải thích.
Ông Tư im lặng, chỉ nghe. Ánh mắt ông hướng ra Chuồng lợn trống trải.
“”Con… con và vợ con vẫn thương nhau mà bố,”” Tú tiếp tục, giọng nhỏ lại, như thể đang tự trấn an mình hơn là nói với ông. “”Chỉ là cách thể hiện nó khác. Công việc của con áp lực lắm, bố ạ. Nhiều khi về đến nhà là chỉ muốn nằm vật ra thôi.””
“”Vậy là nó đúng như lời người ta đồn, mày sống ở rể, mọi việc trong nhà đều để vợ nó lo, ngay cả bữa sáng cũng phải xuống bếp hầu?”” Ông Tư cắt ngang, giọng trầm đục, đầy vẻ hoài nghi.
“”Đâu có! Bố nghe ai nói lung tung đấy!”” Tú vội vã phủ nhận, “”Con… con chỉ phụ vợ thôi. Vợ con đi làm cũng vất vả. Về đến nhà cũng mệt. Con làm được gì thì con làm. Là đàn ông, mình cũng phải chia sẻ chứ bố?””
“”Chia sẻ?”” Ông Tư cười khẩy, tiếng cười khô khốc. “”Chia sẻ cái gì? Chia sẻ cái việc ngủ nướng đến trưa à? Hay chia sẻ cái việc để bố mẹ vợ nhìn với ánh mắt khác?””
“”Bố! Bố không hiểu đâu!”” Tú gần như hét lên. “”Con có những áp lực riêng! Con phải lo cho gia đình nhỏ của con, còn phải lo cho cả nhà mình ở Quê nữa! Rồi bên nhà bố mẹ vợ nữa! Ai cũng có kỳ vọng vào con!””
“”Kỳ vọng? Kỳ vọng của tao là mày làm tròn cái bổn phận làm chồng, làm cha! Cái trách nhiệm làm trụ cột gia đình! Không phải là cái cảnh lom khom nấu nướng trong cái Bếp không phải nhà mình, trong khi vợ thì còn chưa dậy!”” Ông Tư không kiềm chế được cơn giận.
“”Nhưng đấy là cách sống của bọn con! Bọn con thấy thoải mái như thế! Bố đừng áp đặt suy nghĩ của bố lên cuộc sống của con nữa!”” Tú cãi lại.
Ông Tư im lặng. Ông nghe những lời con trai nói, nhưng nó không lọt vào tai ông. Tất cả những gì ông thấy vẫn là hình ảnh Tú nhỏ bé, lạc lõng giữa Căn chung cư xa lạ, và hình ảnh Vợ của Tú ung dung nằm ngủ. Ông không hiểu được cái “”cách yêu thương riêng””, cái “”chia sẻ”” theo kiểu của bọn trẻ. Trong mắt ông, đó là sự nhu nhược, là mất gốc.
“”Thôi,”” Ông Tư thở dài, giọng nói nặng trĩu sự thất vọng. “”Tao không nói với mày được nữa. Mày cứ sống cái kiểu đấy đi.””
Ông không đợi Tú kịp nói thêm lời nào, lập tức tắt máy. Ném điện thoại lên chiếc ghế đá cũ kỹ trong sân, Ông Tư đứng bất động, nhìn về phía cổng làng, nơi con đường dẫn ra Thành phố xa xôi. Lời giải thích của Tú không những không xoa dịu được ông, mà còn như đổ thêm dầu vào lửa. Cái cảm giác bất lực và uất hận lại dâng lên mạnh mẽ hơn. Ông không hiểu con trai ông, và có lẽ, thằng Tú cũng chẳng bao giờ hiểu được nỗi lòng của ông.”
“Ông Tư vẫn đứng bất động, mắt dán chặt vào con đường hun hút dẫn ra Thành phố. Cái điện thoại nằm chỏng chơ trên ghế đá như một vật vô tri, lạnh lẽo. Ông nghe những lời Tú nói, về áp lực công việc, về chia sẻ với vợ, nhưng những lời đó lướt qua tai ông, không chạm đến được cái lõi sâu thẳm trong suy nghĩ của ông. Trong tâm trí người cha già, cuộc sống ở Thành phố của con trai cứ hiện lên mờ ảo, xa lạ, không chút dính dáng gì đến những giá trị mà cả đời ông theo đuổi.
Ông quay đầu lại, nhìn về phía Chuồng lợn trống. Một tháng trước, nơi đó còn ồn ào tiếng lợn kêu, mùi cám, mùi phân. Một tháng trước, ông còn là người đàn ông bận rộn, tay lấm chân bùn, nhưng tâm trí đơn giản, chỉ nghĩ đến lứa lợn lớn nhanh, đến vụ mùa bội thu. Đó là cuộc sống ông quen thuộc, cuộc sống mà ông cho là “”thật””, là “”đúng đắn””.
Còn cuộc sống của Tú? Ngủ dậy muộn, vợ ngủ nướng đến trưa, chồng xuống Bếp nấu ăn sáng, sống nhờ nhà bố mẹ vợ trong cái Căn chung cư chật chội giữa Thành phố ồn ào. Đó là cái gì vậy? Là hạnh phúc? Là chia sẻ? Ông không hiểu nổi. Cái “”chia sẻ”” của ông là cùng nhau cày cấy, cùng nhau chăm lợn gà, cùng nhau xây dựng cơ ngơi từ đôi bàn tay. Cái “”hạnh phúc”” của ông là nhìn vợ con no đủ, khỏe mạnh. Cái “”trách nhiệm”” của người đàn ông là ra ngoài kiếm tiền, lo cho cả nhà, là trụ cột vững vàng.
“”Nó nói mình không hiểu,”” Ông lẩm bẩm một mình, giọng khan đặc. Đúng là ông không hiểu thật. Ông không hiểu sao con trai ông lại thấy thoải mái với cái cảnh sống ấy. Ông không hiểu cái áp lực Thành phố nó lớn đến mức nào mà khiến một thằng đàn ông phải trở nên như thế. Ông không hiểu cái “”cách yêu thương riêng”” của bọn trẻ là gì, khi mà tình yêu trong mắt ông phải được thể hiện bằng sự quan tâm, chăm sóc, và sự gánh vác trách nhiệm rõ ràng của người chồng, người cha.
Khoảng cách không chỉ còn là dăm ba trăm cây số đường bộ. Khoảng cách giờ đây là vực sâu thăm thẳm giữa hai thế hệ, giữa hai lối sống, giữa hai thế giới quan hoàn toàn khác biệt. Ông là đất, là rơm rạ, là mồ hôi, là những giá trị truyền thống ăn sâu bén rễ. Tú là bê tông, là khói bụi, là những tiện nghi hiện đại, là những khái niệm mới mẻ mà ông chưa từng nghe, chưa từng thấy.
Ông đứng đó, như một pho tượng đá giữa sân nhà mình. Nỗi uất hận ban đầu giờ chuyển thành sự bất lực và cô đơn. Ông cảm thấy mình như người thừa, như kẻ ngoại đạo trong chính cuộc sống của con trai mình. Những món quà quê ông mang lên Thành phố – giò, măng, gà – bỗng trở nên thật nhỏ bé và vô nghĩa trước cái khoảng cách vô hình đang lớn dần lên, nuốt chửng cả tình thương cha con. Ông nhận ra, có những điều con trai đang trải qua mà ông, với tư cách là một người cha nông dân, có lẽ sẽ chẳng bao giờ hiểu được.”
“Ông Tư vẫn đứng đó, cảm giác như có một bức tường vô hình vừa sụp xuống giữa ông và con trai. Cái điện thoại vẫn nằm đó, vật vạ. Ông nhìn nó. Ý nghĩ gọi lại, nói thêm vài lời, mắng mỏ, hay năn nỉ, thoáng hiện lên rồi vụt tắt. Để làm gì? Lời nói nào bây giờ còn có trọng lượng? Lời khuyên nào còn lọt tai? Ông đã nói hết những gì cần nói, đã cố gắng giải thích cái “”đúng đắn”” theo quan niệm của ông, nhưng tất cả đều bật ngược trở lại như những viên đá ném vào bức tường bê tông lạnh lẽo.
Ông đưa tay nhặt chiếc điện thoại lên. Màn hình vẫn sáng. Ông nhìn chằm chằm vào số của Tú. Ngón tay cái lơ lửng trên biểu tượng cuộc gọi. Một giây, hai giây, rồi năm giây. Bàn tay ông run nhẹ. Nỗi thất vọng nặng trĩu hơn cả nỗi uất hận lúc nãy. Nó như một tảng đá đè lên lồng ngực. Thôi. Buông. Ông nghĩ thầm. Mặc kệ nó. Cứ để nó sống cái cuộc sống mà nó cho là đúng. Cứ để nó tự trải nghiệm. Nếu nó vấp ngã, nếu nó nhận ra, đó là bài học của nó. Còn mình, nói nữa cũng chỉ như muối bỏ biển.
Ông thở dài. Tiếng thở nghe nặng nhọc như kéo cả cái mệt mỏi của cuộc đời. Ông không nhấn gọi. Thay vào đó, ông vuốt màn hình tắt đi, rồi cầm điện thoại nhét vào túi quần một cách dứt khoát. Quyết định đã được đưa ra. Ông sẽ không gọi nữa. Không liên lạc. Không hỏi han. Không khuyên bảo. Không trách móc. Đây là sự im lặng của một người cha bất lực, đồng thời cũng là một hình phạt ngầm. Một sự rút lui đầy cay đắng. Một cách để Tú phải đối diện với sự lựa chọn của mình, mà không có cái lưới đỡ hay tiếng cằn nhằn quen thuộc từ quê nhà.
Ông quay người lại, bước chậm về phía căn nhà. Bóng lưng ông còng xuống dưới cái nắng chiều gay gắt. Cái nhìn cuối cùng về phía Thành phố xa xôi không còn là sự giận dữ, mà là sự trống rỗng. Khoảng cách ấy, bây giờ, đã được chính ông xác nhận và đóng lại bằng sự im lặng.”
“Ông Tư bước vào nhà. Cái không khí nặng nề ông mang theo như một đám mây đen vần vũ. Vợ ông, bà Hoa, đang ngồi vá áo trên bộ phản gỗ cũ. Bà ngẩng lên nhìn chồng, thấy rõ sự thất vọng hằn sâu trong đôi mắt và cả cái cách ông đi đứng, nặng nề và mệt mỏi. Bà biết ngay lại có chuyện gì đó liên quan đến thằng con trai. Suốt mấy hôm nay, bà vẫn lẳng lặng quan sát ông. Bà thấy ông cầm điện thoại lên, lại đặt xuống, đi ra đi vào không yên. Bà thừa hiểu nỗi mong ngóng và cả sự tức giận âm ỉ trong lòng ông.
Nhìn ông ngồi phịch xuống ghế, không nói năng gì, chỉ thở dài, bà Hoa khẽ đặt tấm áo xuống, bước lại gần. Bà ngồi xuống cạnh ông, nhẹ nhàng đặt tay lên cánh tay chồng.
“”Ông lại gọi cho thằng Tú đấy à?”” Bà hỏi khẽ, giọng đầy lo lắng.
Ông Tư không nhìn vợ, mắt nhìn xa xăm ra khoảng sân trước nhà. “”Gọi làm gì?”” Ông trả lời cộc lốc. “”Nói nữa nó cũng có nghe đâu.””
Bà Hoa cảm thấy một nhói đau trong lồng ngực. Bà biết tính chồng, một khi đã nói “”không nghe đâu”” tức là ông đã thất vọng đến cùng cực, thậm chí đã có quyết định nào đó rồi. Bà hiểu sự uất hận của ông, sự tổn thương khi đứa con trai duy nhất không nghe lời, không làm theo kỳ vọng của mình. Nhưng bà cũng hiểu Tú, cái bướng bỉnh của tuổi trẻ và có lẽ, cả những khó khăn riêng ở chốn Thành phố xa xôi đó.
“”Thôi ông ạ,”” bà thủ thỉ. “”Nó lớn rồi, nó có cuộc sống riêng của nó. Mình cứ giận vậy thì ai khổ? Con khổ, mà mình cũng khổ. Ông là bố, ông không thương nó à?””
“”Thương?”” Ông Tư quay phắt lại nhìn vợ, ánh mắt sắc lạnh. “”Thương mà để nó cãi lời? Thương mà để nó làm những việc trái với ý mình? Thương mà không biết nghĩ cho cái thân già này đã vất vả vì nó thế nào à?””
Bà Hoa khẽ rụt tay lại, cảm thấy cái bức tường vô hình giữa chồng và con trai còn lạnh lẽo hơn cả bức tường bê tông trong câu chuyện điện thoại của ông lúc nãy. Bà biết, khi ông đã nói đến nước này, rất khó để thay đổi. Nhưng nhìn ông đau khổ, bà lại càng xót xa. Bà là người mẹ, nỗi đau của con là nỗi đau của bà, sự giận dữ của chồng cũng khiến bà mệt mỏi. Bà gánh cả hai đầu nỗi buồn.
Đêm đó, sau khi ông Tư đã ngủ say trong sự im lặng nặng nề của mình, bà Hoa lại lén cầm chiếc điện thoại cũ. Bà ra góc bếp, nơi ánh đèn vàng vọt chiếu xuống, đủ để bà nhìn thấy màn hình. Bà dò tìm số của Tú trong danh bạ. Tay bà run run. Bà biết, nói chuyện với Tú lúc này cũng không dễ dàng gì. Nó đang giận bố, và có lẽ, cả bà cũng bị vạ lây. Nhưng bà không thể không làm gì cả.
Bà nhấn gọi. Tiếng tút tút vang lên trong không gian tĩnh mịch của căn bếp đêm. Bà hồi hộp chờ đợi. Mấy hồi chuông trôi qua. Bà tưởng Tú không nghe máy. Rồi, tiếng “”Alo”” khe khẽ vang lên từ đầu dây bên kia.
“”Alo? Mẹ đấy à?”” Giọng Tú có vẻ ngái ngủ.
“”Ừ, mẹ đây.”” Bà Hoa cố gắng giữ cho giọng bình tĩnh, không để lộ sự lo lắng trong lòng. “”Mẹ gọi hỏi thăm con thôi. Con ngủ chưa?””
“”Con… con chưa ạ.”” Giọng Tú có chút ngập ngừng. Có lẽ nó biết mẹ gọi vì chuyện gì.
Bà Hoa hít một hơi thật sâu. “”Mẹ biết con đang giận bố. Bố con nóng tính, con biết rồi đấy. Nhưng con ơi, dù gì ông ấy cũng là bố con. Ông ấy nói vậy cũng vì lo cho con thôi. Con đừng giận ông ấy lâu quá.””
Đầu dây bên kia im lặng một lúc. Rồi Tú nói khẽ: “”Con biết ạ… Nhưng con… con cũng có cái khó của con mà mẹ. Bố không hiểu con.””
Nghe câu nói đó, nước mắt bà Hoa bỗng trào ra. Bà cố nuốt nghẹn. “”Mẹ hiểu. Mẹ hiểu cả hai bố con mà. Mẹ là người đứng giữa, mẹ biết hết.”” Bà dừng một chút, giọng càng lúc càng nghẹn ngào. “”Con ạ, bố con giờ già rồi. Cái mong muốn lớn nhất của ông ấy là con sống tốt, con thành đạt, để ông ấy yên lòng. Có thể cách ông ấy nói làm con không vui, nhưng cái tâm ông ấy là thương con thôi.””
Bà Hoa tiếp tục thủ thỉ, kể về nỗi buồn của ông Tư, về việc ông đã vất vả thế nào, về những đêm ông trằn trọc suy nghĩ về Tú. Bà không trách móc, chỉ nhẹ nhàng động viên, khuyên Tú hãy hiểu cho bố, hãy xuống nước một chút. Bà nói bằng tất cả nỗi lòng của một người mẹ đang tan nát khi thấy gia đình không yên ấm. Bà nói, mong sao những lời nói đó có thể xoa dịu được sự căng thẳng giữa hai cha con, nối lại sợi dây tình cảm đang đứng trước bờ vực đứt lìa. Bà chỉ mong sao gia đình lại được hòa thuận như xưa, dù chỉ là trong mơ ước.”
“Tú buông thõng chiếc điện thoại cũ xuống bàn bếp. Tiếng tút tút kéo dài rồi tắt lịm, để lại khoảng không im lặng đặc quánh. Anh đứng đó, trong ánh đèn vàng vọt của căn bếp chung cư, cảm giác như vừa gánh lên vai một tảng đá vô hình. Giọng nói nghẹn ngào của mẹ, lời van xin thê thiết ấy cứ văng vẳng bên tai anh. Mẹ nói bố đau khổ, nói bố già rồi, nói bố thương anh theo cách của bố. Mẹ nói bố đã vất vả vì anh thế nào.
Những lời ấy, thường ngày anh sẽ gạt đi, cho rằng bố không hiểu mình, cho rằng mẹ đang đứng về phía bố. Nhưng đêm nay, sau cơn giận dữ bùng phát và giờ là sự tĩnh lặng sau cú điện thoại nửa đêm, những lời của mẹ bỗng thấm vào anh một cách lạ lùng. Anh nhớ lại thái độ hằn học của bố, cái cách bố nói như muốn từ mặt anh. Anh nhớ về những tin tức lướt qua từ quê, về việc bố đã bán hết đàn lợn – cái sinh kế mà ông gắn bó cả đời, cái biểu tượng của sự tần tảo và hy vọng vào tương lai của con cái. Ngày xưa, bố vẫn hay bảo giữ lợn, giữ của là để sau này lo cho anh, cho các em. Vậy mà giờ, bố bán hết. Cái hành động dứt khoát đến tàn nhẫn đó, giờ anh mới hiểu, không chỉ đơn thuần là giận dữ bộc phát. Đó là sự tổn thương sâu sắc đến mức ông không còn thiết tha gì nữa, không còn muốn níu giữ cái gì có liên quan đến kỳ vọng vào anh nữa.
Tú chợt cảm thấy một cơn nhói buốt trong lồng ngực. Anh đã quá vô tâm thật sao? Quá quen với cuộc sống dễ dàng hiện tại ở Thành phố này mà quên mất gốc gác, quên mất những giá trị mà bố đã cố gắng truyền dạy? Bố dạy anh phải sống có trước có sau, phải biết ơn người sinh thành, phải biết giữ gìn nếp nhà. Còn anh thì sao? Anh đang sống một cuộc sống của riêng mình, xa rời những điều đó, thậm chí còn cãi lời bố một cách phũ phàng.
Anh ngước mắt nhìn quanh căn hộ chung cư hiện đại. Bốn bức tường bê tông lạnh lẽo, đồ đạc tiện nghi nhưng trống trải. Ánh đèn neon từ các tòa nhà cao tầng chiếu qua cửa sổ ban công, tạo nên khung cảnh nhộn nhịp nhưng xa lạ. Anh nhìn vào phòng ngủ, nơi vợ anh vẫn đang say giấc. Cô ấy trẻ trung, năng động, quen với cuộc sống thành phố, không hề biết đến những gian khó, những giá trị mà bố mẹ anh đã sống và giữ gìn. Cuộc sống của anh giờ đây là căn nhà này, là công việc ở thành phố, là những mối quan hệ mới…
Nhưng cái giá phải trả là gì? Là bỏ lại sau lưng người cha già đang đau khổ, người mẹ đang tan nát? Là đánh mất đi cái gọi là “”gốc”” của mình? Tú đứng lặng giữa căn bếp, trong đầu anh bắt đầu có những suy nghĩ khác. Cái cuộc sống anh đang theo đuổi, nó có thật sự mang lại hạnh phúc trọn vẹn không, khi mà nó được xây dựng trên sự tổn thương của những người yêu thương mình nhất? Anh cảm thấy bối rối. Lần đầu tiên, anh nhìn lại cuộc sống của mình bằng một ánh mắt khác, không còn là sự tự mãn của người trẻ thành đạt nữa, mà là sự chiêm nghiệm đầy nặng trĩu.”
“Gió tháng mười se lạnh mơn man qua mảnh vườn trước nhà. Không còn cái mùi hăng hắc đặc trưng của Chuồng lợn vương vấn trong không khí. Không còn tiếng ủn ỉn đòi ăn mỗi sớm mai hay tiếng lạch cạch máng ăn lúc chiều tà. Chuồng lợn giờ đây trống huếch, chỉ còn lại nền xi măng ẩm ướt và vài cọng rơm mục. Người cha ngồi lặng lẽ trên bậc thềm, đôi mắt đục ngầu nhìn xa xăm về phía cổng. Ông vừa hoàn thành công việc đồng áng, tấm lưng còng xuống theo năm tháng và những nhọc nhằn.
Ông vẫn làm vườn, vẫn chăm bẵng mấy luống rau, mấy gốc cây ăn quả. Chúng vẫn xanh tốt đấy, nhưng dường như thiếu đi một sức sống mãnh liệt như khi xưa. Ngày trước, mỗi khi làm xong vườn tược, ông lại ra Chuồng lợn, xem xét đàn lợn lớn nhanh đến đâu, ước tính xem lứa này sẽ mang lại bao nhiêu tiền để lo cho con cái ăn học, để xây sửa nhà cửa. Giờ thì không còn gì để tính toán, không còn gì để hy vọng theo cái cách đó nữa. Tiền bán lợn ông cất kỹ trong tủ, không thiết tha dùng đến.
Ông đứng dậy, bước vào nhà. Bữa cơm chiều chỉ có một mình. Vợ của người cha giờ ở với con gái út dưới huyện, thỉnh thoảng mới về thăm. Bữa cơm đạm bạc, món nào cũng thấy quen thuộc nhưng ăn vào lại chẳng thấy ngon. Ông nhai chậm rãi, đôi mắt vẫn vô hồn. Cái khoảng trống trong lòng cứ lớn dần lên mỗi ngày, một nỗi buồn âm ỉ không có cách nào xua đi được. Bán lợn rồi, ông đúng là rảnh rang hơn thật. Không còn phải dậy sớm thức khuya, không còn phải lo cám bã, bệnh tật. Cuộc sống đúng là bình yên hơn.
Nhưng đó là một thứ bình yên chua chát, nhuốm đầy màu tiếc nuối. Tiếc nuối đàn lợn đã bán, tiếc nuối bao nhiêu công sức đổ vào đó, và tiếc nuối nhất là mối quan hệ rạn nứt với đứa con trai mà ông đã đặt hết hy vọng. Tú giờ ở Thành phố, sống cuộc sống của nó. Thỉnh thoảng nó gọi điện về, hỏi thăm vài câu chiếu lệ rồi lại vội vàng tắt máy. Ông biết nó bận, biết nó có cuộc sống riêng, nhưng sao lòng vẫn nặng trĩu.
Cái hành động bán hết lợn của ông không chỉ là sự giận dữ nhất thời, mà là một lời tuyên bố đầy cay đắng về sự thất vọng. Ông không còn muốn giữ thứ gì gắn liền với hy vọng vào Tú nữa. Ông đã kỳ vọng quá nhiều chăng? Hay Tú đã thay đổi quá nhiều khi lên Thành phố? Những câu hỏi cứ luẩn quẩn trong tâm trí người cha già. Ông nhớ về Tú những ngày còn bé, quấn quýt bên chân bố, tập tễnh theo bố ra vườn, ra Chuồng lợn. Nhớ về những lời hứa hẹn của Tú khi vào đại học, khi ra trường. Giờ thì mọi thứ dường như đã xa vời lắm rồi.
Ông đặt bát đũa xuống, tiếng va chạm nhẹ vang lên trong căn nhà tĩnh mịch. Ông ra hiên ngồi, nhìn màn đêm buông xuống. Ánh đèn vàng vọt từ nhà hàng xóm hắt sang, chiếu lên khuôn mặt khắc khổ của ông. Bình yên đây rồi, bình yên thật đấy. Không còn gánh nặng kinh tế, không còn lo toan cho tương lai con cái theo cách cũ. Nhưng cái giá phải trả cho sự bình yên này là quá đắt. Đó là sự cô đơn, là nỗi đau về một sợi dây liên kết bị đứt gãy, là sự nhận ra rằng có những thứ, một khi đã đánh mất, sẽ không bao giờ tìm lại được trọn vẹn nữa. Cuộc đời không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái, và những quyết định trong lúc nóng giận hay tổn thương sâu sắc có thể để lại những vết sẹo không bao giờ lành. Ông ngồi đó, giữa màn đêm tĩnh lặng, lắng nghe tiếng dế kêu rả rích như lời thủ thỉ về những gì đã qua, về một cuộc sống khác mà ông từng mơ ước cho con mình, và về một thứ bình yên mà ông không bao giờ nghĩ lại có ngày phải đón nhận nó với một trái tim nặng trĩu đến vậy.”

