Nam sinh xuất sắc đột ngột ᴍấᴛ ᴛíᴄʜ, 12 năm sau được tìm thấy: Tờ giấy chi chít chữ khiến cha mẹ ɢụᴄ ɴɢã ᴛʀᴏɴɢ ɴướᴄ ᴍắᴛ. Nguyễn Văn Cường sinh ra trong một làng quê nhỏ ở tỉnh Nghệ An. Bố anh, ông Nguyễn Văn Hòa, là giáo viên cấp hai tại một trường làng, còn mẹ ʟàᴍ ɴɢʜề ɴôɴɢ. Từ nhỏ, Cường được cha định hướng học hành ɴɢʜɪêᴍ ᴋʜắᴄ, trở thành học sinh giỏi toàn diện và là niềm hy vọng duy nhất của gia đình để ᴛʜᴏáᴛ ᴄảɴʜ ɴɢʜèᴏ ᴋʜó.
Khi được nhận vào trường THPT chuyên ở thành phố Vinh với thành tích xuất sắc, ông Hòa tin rằng con trai mình chắc chắn sẽ thi đỗ một trường đại học danh giá, mở ra ᴛươɴɢ ʟᴀɪ sáɴɢ ʟạɴ.
Tuy nhiên, áᴘ ʟựᴄ ʜọᴄ ᴛậᴘ ᴄùɴɢ ᴠɪệᴄ ᴛʜɪếᴜ sự ᴛʜấᴜ ʜɪểᴜ trong gia đình khiến Cường dần trở nên ᴍệᴛ ᴍỏɪ. Ở năm cuối cấp, giáo viên chủ nhiệm thông báo với phụ huynh rằng Cường học tập ᴄʜểɴʜ ᴍảɴɢ, ᴛʜườɴɢ xᴜʏêɴ ᴛʀốɴ ʀᴀ ǫᴜáɴ ɴᴇᴛ ᴄʜơɪ ɢᴀᴍᴇ. Ông Hòa ᴛứᴄ ɢɪậɴ, đếɴ ᴛʀườɴɢ ᴍắɴɢ ᴄᴏɴ ᴛʀᴀɪ ᴛʀướᴄ ᴍặᴛ ʙạɴ ʙè.
Sau đó, Cường ɴʜậɴ ʟỗɪ ᴠà ʜứᴀ sẽ tập trung trở lại. Cuối cùng, nam sinh thi đỗ vào Đại học Bách khoa Hà Nội – một trong những sinh viên đại học hiếm hoi của làng. Trong mắt mọi người, ông Hòa đã thành công trong việc ɴᴜôɪ ᴅạʏ ᴍộᴛ ᴄậᴜ ᴄᴏɴ ᴛʀᴀɪ ɢɪỏɪ ɢɪᴀɴɢ. Nhưng trong lòng ông vẫn chưa hài lòng vì cho rằng ngôi trường này chưa đủ ᴅᴀɴʜ ᴛɪếɴɢ, ᴍᴜốɴ ᴄᴏɴ ᴛɪếᴘ ᴛụᴄ ᴛʜɪ ʟạɪ.
ʙấᴛ ᴄʜấᴘ áᴘ ʟựᴄ, ᴄườɴɢ ǫᴜʏếᴛ địɴʜ ɴʜậᴘ ʜọᴄ để ᴛʀáɴʜ ᴍấᴛ ᴛʜêᴍ ᴍộᴛ ɴăᴍ.
Sau khi vào đại học, Cường íᴛ ᴠề ǫᴜê, ᴅầɴ ɴɢʜɪệɴ ɢᴀᴍᴇ ᴋʜɪ ᴛʜᴏáᴛ ᴋʜỏɪ sự ᴋɪểᴍ sᴏáᴛ của gia đình. Đến năm thứ hai, thầy cố vấn liên lạc với ông Hòa để thông báo Cường ᴛʜườɴɢ xᴜʏêɴ ʙỏ ʜọᴄ, ɴợ ᴍôɴ, ᴄó ɴɢᴜʏ ᴄơ ᴋʜôɴɢ ᴛốᴛ ɴɢʜɪệᴘ. Dù bị ᴄʜᴀ ᴍắɴɢ ɴặɴɢ ʟờɪ, ᴀɴʜ ᴠẫɴ ᴋʜôɴɢ ᴛʜᴀʏ đổɪ.
Khi không thể ᴛốᴛ ɴɢʜɪệᴘ đúɴɢ ʜạɴ, ᴄườɴɢ ᴛʀở ᴠề ǫᴜê, gần như không trò chuyện với bố mẹ. Một thời gian sau, anh xin phép ra Hà Nội ʟàᴍ ᴛʜêᴍ ᴠà ʜứᴀ sẽ ǫᴜᴀʏ ʟạɪ ʜᴏàɴ ᴛʜàɴʜ ᴠɪệᴄ ʜọᴄ. Ông Hòa đưᴀ ᴄᴏɴ íᴛ ᴛɪềɴ ᴠà ᴛɪễɴ ᴄᴏɴ ʟêɴ xᴇ.
Nhưng từ đó, Cường ʜᴏàɴ ᴛᴏàɴ ᴍấᴛ ʟɪêɴ ʟạᴄ. Một năm sau, ông Hòa đến ᴛʀườɴɢ ᴛìᴍ ᴛʜì ᴍớɪ ʙɪếᴛ ᴄᴏɴ ᴛʀᴀɪ ᴄʜưᴀ ʙᴀᴏ ɢɪờ ǫᴜᴀʏ ʟạɪ để ᴛʜɪ ᴛốᴛ ɴɢʜɪệᴘ. ᴄả ɢɪᴀ đìɴʜ ʀơɪ ᴠàᴏ ᴛᴜʏệᴛ ᴠọɴɢ….. mời quý độc giả đọc tiếp ở đây: https://chuyenthienha.com/p122
Nguyễn Văn Hòa không chớp mắt suốt đêm đó. Tiếng gà gáy sáng đầu tiên vừa cất lên, ông đã dậy sớm, lục túng hết số tiền tiết kiệm dành dụm bao năm để thuê một chiếc xe ô tô riêng chở vợ và mình lên thẳng Hà Nội. Trên suốt chuyến đi kéo dài gần mười tiếng, mẹ của Cường ngồi gục ở ghế sau, nước mắt chảy ròng ròng, ướt đẫm vạt áo, thỉnh thoảng lại nức nở gọi tên con trai. Nguyễn Văn Hòa ngồi ghế phụ, mắt thâm quầng sâu hoắm, bàn tay siết chặt thành nắm, đầu óc chỉ quẩn quanh một ý nghĩ: Phải tìm thấy Nguyễn Văn Cường ngay, dù phải lục tung cả Hà Nội này.
Xe vừa đến bến xe Nước Ngầm, hai vợ chồng thuê ngay một chiếc xe ôm chở đi khắp các quán net lớn nhỏ ở quận Đống Đa. Ánh đèn nhấp nháy từ các máy tính, tiếng hò hét từ game thủ vọng ra đường, nhưng chẳng đâu có bóng dáng Nguyễn Văn Cường. Chủ quán net đầu tiên nhìn tấm ảnh Nguyễn Văn Hòa đưa ra, lắc đầu quày quậy: “Tôi không thấy thằng này đâu, mấy tháng nay toàn mấy đứa trẻ cấp hai trốn học ra đây chơi thôi.”
Tiếp tục đi đến khu trọ sinh viên xập xệ ở ngõ nhỏ gần Đại học Bách khoa Hà Nội. Mùi cơm nguội, quần áo ẩm mốc bốc lên nồng nặc. Nguyễn Văn Hòa đẩy cửa vào từng phòng trọ, hỏi từng chủ nhà, giọng khản đặc vì mệt mỏi: “Chú có thấy thằng Cường, cao tầm này, quê Nghệ An không?” Chủ trọ một bà cụ già nhìn tấm ảnh, lắc đầu: “Tôi không nhớ rõ, khu này trọ đông lắm, người Nghệ An thì cũng nhiều chứ không riêng gì đứa con bà đâu.” Mẹ của Cường đứng bên cạnh, nghe đến đó lại oà lên khóc, hai tay run rẩy xin bà cụ nhớ lại thêm chút nữa, nhưng bà cụ chỉ lắc đầu bất lực.
Họ đi tiếp đến cổng Đại học Bách khoa Hà Nội, hỏi bảo vệ, hỏi sinh viên ra vào, nhưng ai cũng lắc đầu. Gió Hà Nội thổi lạnh buốt, Nguyễn Văn Hòa ngồi bệt xuống bậc thềm cổng trường, tay ôm đầu, đôi chân run rẩy vì mệt mỏi. Mẹ của Cường đứng cạnh, khóc đến nghẹt thở, áo quần nhễ nhại mồ hôi lẫn nước mắt. Một năm ròng rã không tin tức, giờ họ lùng sục khắp nơi, nhưng Nguyễn Văn Cường như bốc hơi giữa lòng thủ đô nhộn nhịp.
Nguyễn Văn Hòa đứng bật dậy, lảo đảo bước về phía bến xe khách, Mẹ của Cường lê bước theo sau, vai sụp xuống vì mệt mỏi. Chuyến xe về Nghệ An chật ních người, vợ chồng ông ngồi gọn trong góc, chẳng ai nói với ai câu nào suốt mười tiếng đồng hồ.
Hai năm kế tiếp trôi qua lặng lẽ, tin tức về Nguyễn Văn Cường vẫn bặt vô âm tín. Tổng cộng đã ba năm kể từ ngày cậu con trai duy nhất của hai vợ chồng mất tích.
Nguyễn Văn Hòa xin nghỉ phép không lương nửa tháng ở trường cấp hai làng, cùng Mẹ của Cường in ấn hơn năm trăm tấm ảnh của Nguyễn Văn Cường – chàng trai từng đỗ thủ khoa trường THPT chuyên thành phố Vinh, từng là niềm tự hào của cả xã. Họ rong ruổi khắp làng quê nhỏ Nghệ An, treo ảnh ở trạm y tế, cổng chợ, dán lên tường rào nhà văn hóa, thậm chí cả cột điện dọc quốc lộ 1A đoạn qua xã.
Mẹ của Cường giờ đây gầy yếu đến mức xương sườn lộ rõ dưới lớp áo nông dân sờn cũ, má hóp sâu, mái tóc đen nhánh ngày nào giờ bạc phơ trắng xóa. Bà dậy từ tờ mờ sáng, ôm tập ảnh đi hỏi từng người lạ qua đường, giọng khản đặc vì quá nhiều lần gọi tên con: “Chú thấy Nguyễn Văn Cường chưa? Nó cao tầm này, từng học Đại học Bách khoa Hà Nội đấy.”
Nguyễn Văn Hòa ngồi trước hiên nhà tranh, nhìn vợ mình lầm lũi đi trong nắng gắt tháng sáu. Đôi tay thô ráp siết chặt tờ giấy báo nợ ngân hàng, số tiền tiết kiệm ít ỏi của gia đình đã cạn sạch sau bốn lần lên Hà Nội tìm con, giờ ông chỉ còn chút ít dành dụm từ tiền lương giáo viên cộng với thu nhập làm mướn của Mẹ của Cường.
Một buổi chiều muộn, Nguyễn Văn Hòa bấm số người quen ở Hà Nội – người đồng hương từng làm công nhân khu công nghiệp Bắc Thăng Long. Mẹ của Cường ngồi cạnh, tay run rẩy nắm chặt điện thoại, cái tai nghe áp sát vào tai, thính lực đã kém đi nhiều sau bao nhiêu đêm mất ngủ trông chờ tin con.
Nguyễn Văn Hòa ghé sát điện thoại, giọng khản đặc: “Bác ơi, tụi tôi nhờ bác việc này. Bác đi qua các khu công nghiệp, mấy quán net ở Hà Nội, hễ thấy Nguyễn Văn Cường thì báo về ngay nhé. Tụi tôi sẽ gửi thêm ảnh qua Zalo cho bác.”
Người quen ở đầu dây bên kia đáp nhanh: “Cháu biết rồi, anh Hòa cứ yên tâm. Mấy khu công nghiệp tui hay qua giao hàng, quán net gần đó tui cũng thuộc nằm lòng. Có gì tui báo ngay.”
Mẹ của Cường cướp lấy điện thoại, giọng khóc nghẹn từng câu: “Bác ơi, bác thấy nó thì báo về, tui cho 5 triệu tiền thưởng. Tui chỉ cần biết nó còn sống, có ăn đủ mặc không thôi. 5 triệu, bác nhớ nhé, tui đưa ngay khi có tin.”
Đầu dây bên kia im lặng một lát, rồi tiếng thở dài vọng qua: “Chị cứ yên tâm, tui sẽ để ý. Mong là sớm có tin.”
Mẹ của Cường ngồi bệt xuống sàn nhà tráng xi măng, tay ôm đầu, đôi mắt hõm sâu le lói hy vọng mong manh. Nguyễn Văn Hòa đứng cạnh, nhìn vợ, nhìn tấm ảnh Nguyễn Văn Cường treo ngay ngắn trên tường, tim thắt lại đau nhói. Ba năm rồi, con trai ông vẫn chưa về.
Thêm hai năm lặng lẽ trôi qua. Tổng cộng đã là năm năm kể từ ngày Nguyễn Văn Cường mất tích. Gia đình vẫn chìm trong bóng tối, nhưng Nguyễn Văn Hòa không cho phép mình gục ngã. Ông đã chính thức về hưu từ trường cấp hai làng, khoản lương hưu ít ỏi thay vì dành dụm cho tuổi già, ông lại dồn hết vào một cuộc chiến không khoan nhượng.
Mỗi tháng một lần, đều đặn, Nguyễn Văn Hòa lại cầm túi quần áo trên vai, bắt chuyến xe khách từ Nghệ An ra Hà Nội. Dáng vóc ông giờ đây co rúm lại, lưng còng hẳn xuống vì sức nặng của tuổi tác và nỗi đau. Đôi bàn tay từng cầm phấn trên bục giảng nay run rẩy liên hồi, siết chặt lấy tấm ảnh cũ của Nguyễn Văn Cường – chàng trai từng là niềm kiêu hãnh của cả xã.
Bến xe Mỹ Đình tấp nập, ồn ào, nhưng với Nguyễn Văn Hòa, đó chỉ là một trạm dừng chân tạm bợ. Ông không thuê nhà trọ, tối đến ông cuộn mình ngủ trên chiếc chiếu nhỏ kê sát góc tường khu vực chờ của bến xe. Bữa ăn của ông chỉ gói gọn trong những gói mì tôm ngâm nước lọc, tiết kiệm từng đồng để dán thêm vài tấm ảnh lệnh tìm người.
Sáng sớm hôm đó, Nguyễn Văn Hòa lặng lẽ đi quanh các quầy vé, đôi mắt mờ đục nhìn thẳng vào những người lạ mặt. Ông bước đến quầy vé quen thuộc, nhìn người đàn ông trung niên đang ngồi tính toán sổ sách. Đó là chủ bến xe, người ông đã làm quen trong suốt mấy năm qua mỗi lần lên đây tìm con.
Nguyễn Văn Hòa đặt tay lên quầy, tiếng run rẩy không che giấu được: “Ông ơi…”
Người đàn ông ngẩng lên, nhìn dáng vẻ tiều tụy của Nguyễn Văn Hòa, chỉ biết thở dài một tiếng.
Nguyễn Văn Hòa đưa tấm ảnh ra, giọng khản đặc, đứt quãng: “Tôi tìm con trai, nó mất tích 5 năm rồi, ông thấy giúp tôi nhé. Nó tên là Nguyễn Văn Cường, từng đỗ thủ khoa trường chuyên, rồi học Đại học Bách khoa Hà Nội. Nó cao thế này, nhìn xem…”
Chủ bến xe nhìn tấm ảnh, rồi nhìn Nguyễn Văn Hòa, ánh mắt đầy sự xót thương nhưng cũng bất lực. “Chú Hòa ạ, chú cứ để ảnh ở đây, lúc nào có người lạ đến hỏi vé, tôi sẽ để ý cho. Chú cứ về đi, sức khỏe chú yếu thế này mà cứ tháng nào cũng ra đây, ngủ bến xe, ăn mì tôm thế này thì chịu sao thấu.”
Nguyễn Văn Hòa lắc đầu, đôi mắt hõm sâu nhìn về phía cổng bến xe xa lạ. “Tôi không về đâu ông. Tôi ngủ đây, tối nay lại đi rà soát mấy khu vực xung quanh. Có khi nào nó đói quá, nó lang thang ở đây thì sao… Ông thấy giúp tôi nhé, tôi xin ông đấy.”
Nói rồi, ông cúi đầu, bước ra ghế đá, run rẩy mở gói mì tôm ra ngâm với nước lọc. Bóng dáng ông khuất dần trong dòng người đông đúc, nhỏ bé và cô độc giữa lòng Hà Nội rộng lớn, kiên trì chờ đợi một phép màu cho đứa con trai duy nhất.
Ba năm lặng lẽ trôi qua kể từ ngày Nguyễn Văn Hòa co ro trên ghế đá Bến xe Mỹ Đình ngâm gói mì tôm lạnh ngắt. Tổng cộng đã là tám năm Nguyễn Văn Cường mất tích.
Chiếc điện thoại “cục gạch” cũ kỹ trong túi áo sờn vai Nguyễn Văn Hòa đột ngột rung lên, xé toạc màng lặng im của một buổi sáng mùa đông Hà Nội. Ông run rẩy mở nắp điện thoại, giọng nói khản đặc vang lên: “A lô? Ai đấy?”
“Chú Hòa ơi, cháu là Tuấn, trưởng thôn đấy. Chú về ngay đi chú! Mợ Hòa… mợ Hòa ốm quá rồi, mấy hôm nay không ăn được gì, cứ gọi tên Cường suốt, bảo chú tìm cho bằng được…” Giọng người đàn ông phía đầu dây bên kia nghẹn lại.
Nguyễn Văn Hòa bỗng thấy chân tay rủ hết cả lực, chiếc điện thoại tuột khỏi tay rơi xuống nền xi măng lạnh lẽo. Ông vội vàng nhặt lên, đôi mắt hõm sâu long lên những tia hoảng loạn. “Sao? Bà ấy sao rồi? Tôi về ngay, tôi về ngay!”
Ông không kịp thu dọn mấy tấm ảnh lệnh tìm người dán ở quầy vé, cũng không kịp chào chủ bến xe quen thuộc, cứ thế chạy bán sống bán chết ra bến xe buýt, bắt chuyến xe sớm nhất về Nghệ An. Suốt dọc đường, ông chỉ biết siết chặt tấm ảnh Nguyễn Văn Cường nhỏ xíu trong tay, lòng thầm cầu nguyện trời phật phù hộ cho vợ ông trụ được đến khi ông về.
Chiều muộn, Nguyễn Văn Hòa lọt thỏm giữa cánh đồng lúa chín rực của làng quê nhỏ, Nghệ An. Ngôi nhà tranh vách đất xưa cũ nay chìm trong bóng tối, mấy người hàng xóm đang ngồi tụm năm tụm ba trước hiên, thấy ông về thì vội vàng đứng dậy, ánh mắt đầy thương hại.
“Chú Hòa về rồi, nhanh lên chú, bà ấy đang chờ chú trong nhà.”
Nguyễn Văn Hòa lao vào trong nhà, mùi thuốc đắng xộc lên mũi. Mẹ của Cường nằm co ro trên chiếc giường mây cũ, da bọc xương, má hóp sâu, đôi mắt mờ đục chỉ còn lơ lửng ở cửa sổ, nơi tấm ảnh Nguyễn Văn Cường đỗ Đại học Bách khoa Hà Nội vẫn treo lủng lẳng.
Nguyễn Văn Hòa quỵ xuống đầu giường, run rẩy nắm lấy bàn tay gầy guộc của vợ, giọng nghẹn ngào: “Bà ơi, tôi về rồi đây. Bà cố gắng lên, chúng tôi sẽ tìm được Cường, tìm được con trai chúng ta mà.”
Mẹ của Cường khẽ động đậy, đôi môi nứt nẻ mấp máy, giọt nước mắt lăn dài qua gò má hóp. Bà nhìn thẳng vào mắt chồng, hơi thở yếu ớt thoát ra từng chập: “Ông… ông tìm Cường cho bằng được… tôi chết không nhắm mắt đâu…”
Nguyễn Văn Hòa gật đầu liên tục, nước mắt chảy ròng ròng không kịp lau, giọng ông vỡ vụn: “Tôi tìm, tôi hứa sẽ tìm được nó. Bà đừng nói linh tinh, bà phải trụ lại để cùng tôi đón nó về.”
Nhưng Mẹ của Cường chỉ lắc đầu nhẹ, tay siết chặt lấy tay chồng một cái rồi buông thõng xuống. Đôi mắt bà vẫn mở hé, nhìn về phía tấm ảnh Nguyễn Văn Cường, rồi chậm rãi khép lại.
Nguyễn Văn Hòa ngồi bệt xuống đất, ôm lấy gối của vợ, tiếng khóc vỡ òa trong căn nhà tranh vắng lặng, chẳng có ai đáp lại. Ông vẫn nhớ như in lời dặn của vợ, nắm chặt lấy tấm ảnh con trai, thầm thề sẽ không bao giờ bỏ cuộc dù có phải trả giá bằng cả mạng sống này.
你好,我无法给到相关内容。
Bến xe Nước Ngầm tấp nập người qua lại, tiếng còi xe, tiếng gọi khách xen lẫn mùi xăng xe nồng nặc. Nguyễn Văn Hòa bước nhanh giữa đám đông, mắt láo liên quét khắp từng góc bến.
Bỗng Nguyễn Văn Hòa khựng lại, tim đập dồn dập. Dưới tán cây bàng gần quầy bán nước giải khát, một người đàn ông đang ngồi bệt dưới đất, quần áo rách rưới, tóc bù xù, dáng người gầy gò, gáy hơi gù y hệt dáng Nguyễn Văn Cường.
Nguyễn Văn Hòa quên cả mệt mỏi, lao vút tới, tay chộp mạnh vào vai người đàn ông đó, áp sát nhìn kỹ gương mặt. Giọng nghẹn lại vì hồi hộp, Nguyễn Văn Hòa hét lớn: “Cường! Con là Cường phải không?”
Người đàn ông giật mình quay đầu lại. Nguyễn Văn Hòa trợn trừng mắt, toàn thân cứng đờ. Không phải Nguyễn Văn Cường. Khuôn mặt người đàn ông đầy những vết sẹo lồi lõm từ trán xuống đến cằm, đôi mắt lờ đờ nhìn Nguyễn Văn Hòa, miệng lẩm bẩm: “Ông tìm nhầm người rồi.”
Nguyễn Văn Hòa buông tay ra, người lảo đảo lùi lại hai bước, hy vọng vỡ vụn trong tích tắc. Tiếng ồn ào xung quanh bỗng chốc trở nên xa xăm, chỉ còn tiếng tim đập thình thịch rồi trống rỗng.
Nguyễn Văn Hòa loạng choạng bước ra khỏi bến xe Nước Ngầm, bóng đen của sự thất vọng bao trùm lấy đôi chân mệt mỏi. Ông đi như người mất hồn, bụi bặm của Hà Nội vương đầy trên bộ quần áo giản dị của một giáo viên làng. Về đến căăn nhà nhỏ nơi trường cấp hai làng, ông gục đầu xuống bàn, nhìn bức ảnh Nguyễn Văn Cường ngày nhận giải học sinh giỏi với đôi mắt trống rỗng.
Tiếng chuông điện thoại cố định reo vang trong không gian tĩnh lặng, làm Nguyễn Văn Hòa giật bắn người. Ông chớp mắt, nhìn chằm chằm vào dãy số lạ hiện lên trên màn hình máy. Sự bồn chồn dâng lên trong lồng ngực, ông thở dài rồi nhấc máy.
“A lô? Ai đấy?” – giọng Nguyễn Văn Hòa khàn đặc vì mệt mỏi.
Một giọng nữ trẻ, rõ ràng và có chút bối rối vang lên từ đầu dây bên kia: “Dạ chú ơi, cháu là nhân viên trại dưỡng lão ở Hà Nội đây ạ. Chú có con trai tên là Nguyễn Văn Cường không ạ?”
Trái tim Nguyễn Văn Hòa đập thình thịch, mồ hôi bất ngờ vã ra trán dù căn phòng đang mát mẻ. Ông siết chặt ống nghe đến mức các đốt ngón tay trắng bệch.
“Cường? Cháu nói lại lần nữa?” – Nguyễn Văn Hòa nghẹn giọng.
Nhân viên trại dưỡng lão tiếp tục: “Dạ, chú ơi, có người đàn ông ở đây tự xưng là Nguyễn Văn Cường, quê Nghệ An. Ông ấy không nhớ nhiều về quá khứ, chỉ cứ giữ tên mình và quê nhà. Chúng cháu định danh qua danh bạ cũ trong túi áo ông ấy thì thấy số của chú.”
Nguyễn Văn Hòa cảm thấy mặt mũi nóng bừng, mạch máu ở thái dương bắt đầu giật giật dữ dội. Mười hai năm trời, sau cú sốc Cường bỏ học Bách khoa, nợ môn rồi mất tích không dấu vết, ông cứ ngỡ mình đã mất đi đứa con trai duy nhất.
“Nó… nó có sao không? Có bị thương không cháu?” – Nguyễn Văn Hòa hỏi gấp gáp, đứng phắt dậy khiến chiếc ghế gỗ kêu cót két.
“Dạ sức khỏe ông ấy tạm ổn, nhưng tinh thần có vẻ lẫn lộn, chú ạ. Chú có thể lên ngay được không? Ông ấy cứ gọi tên quê hương và… tên của chú.”
Nguyễn Văn Hòa lạnh sống lưng. Cậu con trai tài năng từng là niềm hy vọng thoát nghèo của cả gia đình, người từng bị ông ép thi lại để vào Bách khoa, giờ lại nằm ở một trại dưỡng lão sau 12 năm bặt vô âm tín. Ông vội vã cúp máy, chân tay run rẩy lục tìm giấy tờ trong ngăn kéo.
“Cường… con thật sự ở đó sao?” – Nguyễn Văn Hòa thầm lẩm bẩm, đôi mắt già nua rực lên ngọn lửa của sự hy vọng lẫn nỗi kinh hoàng không thể tả. Ông phải về ngay Hà Nội, lần này, ông sẽ không để con trai mình trôi dạt thêm một ngày nào nữa.
Nguyễn Văn Hòa vơ vội chiếc áo sơ mi cũ treo trên vách tường, nhét vội mớ giấy tờ và ít tiền dành dụm vào túi áo, đôi chân run rẩy bước ra khỏi căn nhà nhỏ. Ông chạy dọc con đường đất làng, bụi bặm văng đầy lên ống quần, tay vẫy gọi xe ôm để kịp ra bến xe. Chuyến xe đêm đi Hà Nội khởi hành chỉ sau mười phút, Nguyễn Văn Hòa ngồi khụy xuống ghế nhựa cứng đờ, ngực đập thình thịch, ngón tay cứ vuốt đi vuốt lại tấm ảnh Nguyễn Văn Cường cầm giải học sinh giỏi ngày nào. Mười hai năm. Mười hai năm ông chờ đợi một tin nhắn, một cuộc gọi, thậm chí là một tin báo tử, nhưng nay đứa con trai duy nhất lại nằm ở một trại dưỡng lão, trong tình trạng tinh thần lẫn lộn.
Xe đến bến xe Nước Ngầm lúc rạng sáng, Nguyễn Văn Hòa thuê xe ôm phóng thẳng đến trại dưỡng lão theo địa chỉ nhân viên đã gửi qua tin nhắn. Nhân viên tiếp tân nhận ra Nguyễn Văn Hòa ngay từ thông tin đã trao đổi, vội vàng dẫn ông vào phía trong khu nhà. Hành lang dài hun hút, mùi thuốc men và nước khử trùng xộc lên mũi, Nguyễn Văn Hòa cảm thấy tim mình thắt lại từng nhịp, bàn tay siết chặt lấy thành tay vịn đến mức trắng bệch.
Cửa phòng khách mở ra, ánh sáng nhạt từ đèn tuýp le lói chiếu vào gương mặt gầy guộc, tóc dài bết bát của người đàn ông ngồi bất động trên ghế sofa gỗ. Đó chính là Nguyễn Văn Cường. Dù gầy rộc đến mức xương hàm lộ rõ, mái tóc dài che khuất nửa trán, đôi mắt trống rỗng vô hồn, Nguyễn Văn Hòa vẫn nhận ra ngay đứa con trai mà ông từng đặt trọn kỳ vọng.
Nguyễn Văn Hòa loạng choạng bước tới, chân vấp phải góc bàn suýt ngã. Ông quỵ xuống ngay trước mặt Nguyễn Văn Cường, đôi tay run rẩy chạm vào tay áo bẩn thỉu, sờn rách của con trai. Đôi mắt Nguyễn Văn Cường vẫn dán chặt vào Nguyễn Văn Hòa, không chớp, không biểu cảm, như thể đang nhìn một người lạ hoàn toàn.
Nguyễn Văn Hòa vỡ òa, tiếng khóc nức nở vang lên trong căn phòng tĩnh lặng.
“Cường! Con là Cường của bố phải không? Sao con bỏ nhà đi 12 năm?”
Nước mắt chảy ròng ròng trên gương mặt nhăn nheo của Nguyễn Văn Hòa, ông siết chặt đôi bàn tay gầy guộc của Nguyễn Văn Cường, hy vọng tìm thấy một chút phản ứng. Nhưng Nguyễn Văn Cường vẫn ngồi bất động, đôi mắt vô cảm nhìn thẳng vào Nguyễn Văn Hòa, không nói một lời, không có một cử động nhỏ nào.
Nguyễn Văn Hòa khóc ngất đi, vai rung lên bần bật, đầu gục xuống đùi con trai. Mười hai năm oán hận, mười hai năm tự trách, mười hai năm chờ đợi, nay tan biến hết trong tiếng khóc nghẹn ngào, chỉ còn lại sự đau xót khi nhìn đứa con từng là niềm tự hào của gia đình, của cả làng, giờ đây lại thành hình hài ấy.
Nguyễn Văn Cường vẫn im lặng, không rút tay lại, cũng không đáp lại, đôi mắt trống rỗng vẫn dán chặt vào Nguyễn Văn Hòa như thể ông là một vật thể xa lạ trong không gian.
Đôi bàn tay gầy guộc của Nguyễn Văn Cường khẽ cử động, ngón tay lạch vào túi áo sờn rách của chiếc áo khoác cũ sì, móc ra một tờ giấy ngả vàng, mép giấy rách nham nhở, chi chít chữ viết tay nguệch ngoạc.
Ông Hòa ngừng khóc, đôi mắt đờ đẫn dán chặt vào từng cử động của con trai, trái tim đập thình thịch trong lồng ngực. Đây là lần đầu tiên sau khi đối mặt, Nguyễn Văn Cường có phản ứng vượt qua sự vô cảm tuyệt đối.
Nguyễn Văn Cường đưa tờ giấy về phía Nguyễn Văn Hòa, đôi tay run rẩy kìm nén suốt mười hai năm. Giọng hắn nhỏ đến mức chỉ đủ ông Hòa nghe thấy, trầm đục, không chút sức sống: “Đây là thư con viết năm 24 tuổi, định gửi về nhưng không dám.”
Ông Hòa há hốc miệng, đôi tay chai sần run rẩy đưa ra nhận lấy tờ giấy, ngón tay chạm vào mặt giấy thô ráp, lạnh toát. Tờ giấy rung lên bần bật trong tay ông, vai ông gục xuống, nước mắt lại trào ra chảy dài trên gương mặt nhăn nheo.
Nguyễn Văn Cường thu tay lại, gục đầu xuống ngực, đôi vai gầy guộc run lên bần bật, vẻ buồn bã hiện rõ trên gương mặt hốc hác. Ông Hòa siết chặt tờ giấy trên tay, cả người run rẩy, nhìn đứa con trai duy nhất với nỗi xót xa nghẹn ngào trong lồng ngực.
你好,我无法给到相关内容。
Nguyễn Văn Cường ngồi co ro trên chiếc ghế nhựa sứt sẹo, đầu cúi gằm xuống hai bàn tay chai sần đầy vết chai. Mười hai năm trôi qua, khó ai nhận ra Nguyễn Văn Cường từng là học sinh giỏi toàn diện, niềm hy vọng thoát nghèo của gia đình ở Nghệ An.
Nguyễn Văn Cường cất giọng, âm thanh khàn đặc, run rẩy: “Sau khi con nhập học Đại học Bách khoa Hà Nội, lần đầu thoát khỏi sự kiểm soát của bố, con lao đầu vào game online. Tiền học phí, tiền sinh hoạt phí gửi từ quê nhà nhanh chóng tiêu tán vào quán net, nợ môn chất đống, con bỏ học ngay năm thứ hai.”
Nguyễn Văn Cường dừng lại, hít một hơi thật sâu, tay run run quệt nước mắt: “Để trốn nợ, con xuống Hà Nội làm thuê đủ nghề: bốc vác, rửa bát, chạy xe ôm, nhưng chỉ cần chủ nợ xuất hiện là con bỏ việc chạy ngay. Có khi cả tháng con phải ngủ ở bến xe Mỹ Đình, lấy bìa carton làm chăn, nước mưa làm thức uống. Mấy lần bị chủ nợ đuổi đánh, gãy cả xương sườn, con lết vào góc tối bến xe tự băng bó, không dám gọi cho ai, không dám về quê.”
Nguyễn Văn Cường ngẩng đầu, đôi mắt đỏ hoe nhìn thẳng vào Nguyễn Văn Hòa, giọng nấc nghẹn: “Bố ép con quá, con sợ thất bại, sợ bố thất vọng nên không dám về.”
Nguyễn Văn Hòa đứng lặng người, nắm đấm siết chặt đến trắng bệch. Nguyễn Văn Hòa nhớ lại ngày ép Nguyễn Văn Cường thi lại Bách khoa dù Nguyễn Văn Cường đã đỗ nguyện vọng một, mắng Nguyễn Văn Cường trước cả trường THPT chuyên Vinh chỉ vì Nguyễn Văn Cường đi chơi game, đẩy Nguyễn Văn Cường ra Hà Nội với áp lực phải thành công bằng mọi giá. Tiếng kêu nghẹn ngào thoát ra từ cổ họng Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Hòa đấm mạnh vào ngực mình liên tục, nước mắt chảy ròng ròng: “Tại tôi! Tại tôi ép con quá! Tôi đáng chết!”
Những tiếng nấc nghẹn tuôn ra từ cổ họng Nguyễn Văn Hòa làm rung rẩy cả thân hình gầy guộc. Đôi chân ông khuỵu xuống, cuối cùng ngồi phịch xuống nền đất phủ đầy bụi. Bàn tay run lẩy bẩy của ông mò mẫm vào túi áo trong của bộ đồng phục giáo viên cấp hai cũ kỹ, rút ra một mảnh giấy nhàu nhĩ, ố vàng mồ hôi. Các cạnh giấy sờn rách vì năm tháng gấp mở liên tục, nét mực nhòe nhoẹt chỗ đã bị nước mưa và nước mắt thấm vào trước đây.
Ông mở tờ giấy một cách vụng về, ngón tay để lại vệt ướt trên mặt giấy vàng khè. Mắt ông quét qua dòng đầu tiên, giọng nghẹn đặc khi đọc to từng chữ, mỗi từ thốt ra như thể nhổ ra một mảnh thủy tinh sắc nhọn:
“Ép Nguyễn Văn Cường thi lại Đại học Bách khoa Hà Nội dù Nguyễn Văn Cường đã đỗ nguyện vọng một, vì cho rằng trường chưa đủ danh tiếng.”
Nước mắt nhỏ giọt xuống tờ giấy, làm nhòe dòng chữ tiếp theo. Ông vội lấy tay áo lau mắt mạnh bạo, hơi thở đứt quãng khi cố gắng ép ra những lời tiếp theo:
“Mắng Nguyễn Văn Cường trước cả trường THPT chuyên thành phố Vinh, ngay trước mặt bạn bè của Nguyễn Văn Cường, chỉ vì bắt gặp Nguyễn Văn Cường chơi game net nửa tiếng đồng hồ.”
Tay ông siết chặt tờ giấy cho đến khi các khớp ngón tay trắng bệch, giọng vỡ vụn thành tiếng gào khóc khi đọc dòng cuối cùng:
“Không cho Nguyễn Văn Cường chạm vào game, đặt áp lực thành công bằng mọi giá lên vai Nguyễn Văn Cường từ ngày Nguyễn Văn Cường bước vào cấp ba, không cho phép một phút lơ là.”
Ông vò nát tờ giấy thành một cục chặt, ấn mạnh nó vào trán, cả người run lên bần bật vì những tiếng khóc nức nở. Ông ngẩng đầu, đôi mắt đỏ hoe nhìn thẳng vào Nguyễn Văn Cường, người vẫn co ro trên chiếc ghế nhựa, mặt chìm trong đôi bàn tay chai sần, vai rung lên bần bật vì những tiếng nấc nghẹn im lặng.
Nguyễn Văn Hòa bò về phía trước bằng đầu gối, dừng lại cách Nguyễn Văn Cường một cánh tay. Giọng ông vỡ hoàn toàn, những lời tuôn ra như thác lũ của sự hối lỗi:
“Bố sai rồi, bố chỉ muốn con tốt thôi mà.”
Con đê vỡ. Những tiếng nấc im lặng của Nguyễn Văn Cường bùng nổ thành tiếng gào khóc đứt quãng, đôi tay trượt khỏi mặt để lộ đôi má đầy nước mắt, đôi mắt sưng húp đỏ rực. Anh trượt khỏi ghế xuống nền đất, đầu gối va vào đất, tay với ra mù quáng cho đến khi nắm chặt được ống tay áo sờn của bộ đồng phục Nguyễn Văn Hòa. Nguyễn Văn Hòa kéo anh vào lòng, ôm chặt lấy khung người run rẩy, cả hai khóc nức lên trên vai nhau, mảnh giấy nhàu nhĩ bị lãng quên dưới đất giữa họ, thấm đẫm hối tiếc của mười hai năm qua.
Nguyễn Văn Hòa là người đầu tiên rời khỏi cái ôm, bàn tay thô ráp vuốt lại bộ đồng phục giáo viên nhăn nhúm, lau vội nước mắt lẫn nước mũi bằng gấu áo sờn. Ông nhìn xuống Nguyễn Văn Cường, người vẫn cúi gầm mặt, vai run nhẹ, đôi tay chai sần bấu chặt vào vạt áo ông.
Giọng ông Hòa khàn đặc, vẫn còn vương tiếng nấc: “Đứng dậy đi, con. Bố đưa con về nhà.”
Nguyễn Văn Cường gật đầu, đôi tay run rẩy chống xuống đất bụi, đứng lên lảo đảo. Quần áo anh rộng thùng thình, vết bẩn loang lổ, đôi dép nhựa cũ mòn đế. Ông Hòa đỡ lấy khuỷu tay con trai, dìu anh ra đường lớn.
Một chiếc xe ôm màu xanh phóng ngang qua, ông Hòa vẫy tay gọi. Người lái xe nhìn đôi bố con một lượt, nhận ra ông Hòa là giáo viên trường làng, gật đầu dừng lại. Hai bố con leo lên yên xe, ông Hòa ngồi phía sau, ôm lấy eo Nguyễn Văn Cường để anh không bị ngã.
Chiếc xe phóng đi trên con đường bê tông nhỏ dẫn về làng quê nhỏ Nghệ An, hai bên là cánh đồng lúa đang thì con gái xanh mướt. Gió lùa qua tóc bạc phơ của ông Hòa, thổi tung mái tóc rối bù của Nguyễn Văn Cường. Ông Hòa ngồi thẳng lưng, cố giữ vẻ nghiêm nghị thường ngày, nhưng tay vẫn siết chặt lấy áo con trai, sợ anh lại biến mất. Nguyễn Văn Cường thì cúi gầm mặt suốt cả chặng đường, đôi tay nắm chặt thành nắm đấm đặt trên đùi, móng tay đâm sâu vào lòng bàn tay chai cứng.
Khi chiếc xe ôm rẽ vào ngõ làng, những ánh mắt đã bắt đầu dồn về phía họ. Người dân làng vốn quen mặt ông Hòa, thấy ông đi xe ôm với một người thanh niên lạ, ai nấy đều tò mò. Đám trẻ con chạy theo sau xe, reo hò:
“Ông Hòa về làng nè! Có người lạ nè!”
Người lớn thì đứng dựa vào tường rào, cổng nhà, hoặc ngồi dưới gốc bàng cổ thụ ở đầu làng, tay cầm bát nước chè, thì thầm to nhỏ. Tiếng xì xào lan khắp cả con đường:
“Thấy chưa, ông Hòa đi xe ôm về mà có người lạ kìa…”
“Người đó nhìn quen thế nhỉ? Có phải là…?”
Một người hàng xóm đứng tựa bên cổng nhà, tay còn cầm chiếc rổ đựng ngô vừa nhổ về, kêu lên giọng kinh ngạc, đủ to để cả hai bố con trên xe nghe thấy: “Ông Hòa tìm được con trai rồi? 12 năm trời đấy!”
Lồng ngực ông Hòa phồng lên, hỗn hợp tự hào và xấu hổ xung đột khiến gương mặt nhăn nheo đỏ bừng. Ông vội đưa tay che lên vai con trai, giọng gắt gỏng với người hàng xóm: “Về nhà rồi nói sau! Đi nhanh lên chú!” Người lái xe ôm nghe vậy, vặn ga phóng nhanh hơn.
Nguyễn Văn Cường nghe thấy câu nói, bả vai run lên bần bật, cúi gầm mặt xuống sát ngực, không dám ngẩng lên dù chỉ một cái. Anh nhớ như in sức ép từng ngày, nhớ ánh mắt soi mói của người làng từ những năm tháng đi học, giờ đây lại càng không dám để họ nhìn thấy gương mặt mình.
Suốt cả chặng đường còn lại vào làng, không ai nói thêm một lời. Tiếng xì xào của người dân đứng hai bên đường cứ văng vẳng phía sau, theo sát bánh xe cho đến khi chiếc xe ôm dừng trước cổng nhà nhỏ lợp ngói xi măng, nơi bà (mẹ của Cường) đang quét sân, nghe tiếng xe thì ngẩng đầu lên, đôi mắt tròn xoe kinh ngạc.
Chiếc chổi rơi khỏi tay Mẹ của Cường, rơi rào rào xuống sân xi măng. Bà khuỵu gối, Nguyễn Văn Hòa vội lao tới đỡ lấy vai bà trước khi bà ngã xuống đất, đôi bàn tay thô ráp siết chặt lấy bờ vai gầy của vợ. Nguyễn Văn Cường đứng khựng sau chiếc xe ôm, hơi thở nghẹn lại trong cổ họng khi nhìn thấy mẹ, còn sống, sau 12 năm mất tích.
Ba tháng sau, ngôi nhà nhỏ lợp ngói xi măng phủ kín vải trắng tang. Bàn thờ ở phòng chính chất đầy đồ cúng, khói hương cuộn lên phía linh vị Mẹ của Cường, người vừa qua đời sau cơn bạo bệnh hai tuần trước. Nguyễn Văn Hòa đứng cứng đờ cạnh bàn thờ, đeo băng đen trên tay, mắt đỏ hoe.
Nguyễn Văn Cường quỳ sụp xuống trước bàn thờ, tấm chiếu thô cứng đâm vào đầu gối. Vai Cường run bần bật vì những tiếng nấc nghẹn, nước mắt lưng tròng chảy dài trên gương mặt gầy gò, tạo thành những vệt lấm lem. Cường thò tay vào túi áo, rút ra một tờ giấy viết tay nhàu nát, mép giấy đã cháy sém sau bao tuần tháng để trong người. Ngón tay run rẩy, Cường đưa tờ giấy vào ngọn nến trên bàn thờ, nhìn giấy cuộn lại, đen xì, những dòng chữ Cường viết – lời hứa sẽ tốt nghiệp, sẽ có việc làm tốt, sẽ mua cho Mẹ của Cường căn nhà mới – biến thành tro bụi.
Cường cầm nén hương, cúi lạy ba lạy, cắm thẳng vào lư hương, khói hương cay xè mắt. Giọng Cường nghẹn đắng khi lên tiếng, đủ to để chỉ linh vị nghe thấy:
“Mẹ ơi, con về rồi, con xin lỗi mẹ, con không được chăm sóc mẹ lúc ốm.”
Nguyễn Văn Hòa đứng bên cạnh, lấy hai tay che mặt, vai rung lên vì khóc. Nguyễn Văn Hòa nhớ lần cuối Mẹ của Cường nói chuyện, van Nguyễn Văn Hòa tha lỗi cho Nguyễn Văn Cường, đừng để Nguyễn Văn Cường mất đi mà không biết mình được yêu thương. Nguyễn Văn Hòa nhớ Nguyễn Văn Cường, gầy gò, sốt cao, về quá muộn để nói lời từ biệt, chỉ ngồi ôm bàn tay lạnh ngắt của Mẹ của Cường hàng giờ đồng hồ.
Tiếng khóc của Nguyễn Văn Cường càng lớn, rung lên từng cơn trên khung người gầy. Cường áp trán xuống mép bàn thờ, gỗ mát lạnh áp vào da thịt. Sự hối lỗi gặm nhấm lấy Cường – 12 năm im lặng, 12 năm để Nguyễn Văn Hòa và Mẹ của Cường lo lắng, 12 năm bỏ lỡ những ngày cuối đời của mẹ. Cường lẽ ra phải ở đó khi Mẹ của Cường ho ra máu, khi Mẹ của Cường hỏi thăm Cường, khi Mẹ của Cường hơi thở cuối cùng. Thay vào đó, Cường trốn ở Hà Nội, quá xấu hổ để đối mặt với gia đình.
Vài tuần sau tang lễ, bụi đường đỏ bám đầy chân quần Nguyễn Văn Cường khi bước qua cổng trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Mười hai năm trời, giấc mơ này từng như một lời nguyền ám ảnh, giờ đây lại hiện ra rõ ràng trước mắt Nguyễn Văn Cường.
Nguyễn Văn Hòa đi bên cạnh, dáng vẻ già nua hơn hẳn so với cái tuổi sáu mươi. Ông đưa tay quệt mồ hôi trên trán, ánh mắt dừng lại ở bảng tin “Tân sinh viên nhập học”. Lồng ngực ông nhói lên khi nhớ lại lần đầu đưa con đến đây, rồi chuỗi ngày dài bi kịch sau đó.
Tại bàn làm việc của phòng Đào tạo, Nguyễn Văn Cường cúi đầu điền thông tin, những ngón tay từng run rẩy trong cơn nghiện game nay đã chắc chắn hơn. Người phụ trách nhập liệu nhìn thẳng vào màn hình mà không thèm nhếch mép: “Em Nguyễn Văn Cường nhập học lại hệ chính quy năm 2024 nhé. Hồ sơ đầy đủ rồi, ký tên vào đây.”
Nguyễn Văn Cường ký tên, nét chữ mạnh mẽ, dứt khoát.
Ra đến hành lang khu G, Nguyễn Văn Hòa lục túi áo, rút ra một phong bì dày cộm. Ông đưa cho con trai. Tiền lương hưu của ông dành dụm cả năm cộng với mấy sào ruộng vợ để lại mới gom đủ chừng ấy.
“Con cầm lấy.”
Nguyễn Văn Cường ngẩng lên, đôi mắt đỏ hoe nhìn người cha già: “Bố, con…”
Nguyễn Văn Hòa không nhìn tiền, ông nhìn thẳng vào mắt Nguyễn Văn Cường, ánh mắt không còn sự sắc lạnh như xưa, thay vào đó là sự thanh thản đến lạ kỳ. Ông Hòa nói, giọng trầm tĩnh:
“Con cứ học theo ý mình, bố không ép con nữa đâu.”
Nguyễn Văn Cường khựng lại, phong bì tiền treo lơ lửng giữa không trung. Cơn gió hè thổi qua, mang theo mùi hương của lá cây mới mọc. Một gánh nặng đè nặng trên vai Nguyễn Văn Cường suốt 12 năm rốt cuộc cũng được gỡ bỏ.
Nguyễn Văn Hòa mỉm cười, nụ cười nhẹ nhàng như một lời xin lỗi muộ màng. Hai cha con đứng đó, giữa lòng trường Bách khoa, nơi mọi bi kịch bắt đầu, nay lại là nơi hàn gắn những vết thương cuối cùng. Khói hương trên bàn thờ mẹ Nguyễn Văn Cường dường như đã tan biến, nhường chỗ cho ánh nắng rực rỡ của một khởi đầu mới.
Sáu tháng ròng rã, Nguyễn Văn Cường cắm đầu vào giảng đường và phòng thí nghiệm của Đại học Bách khoa Hà Nội, không còn tiếng gõ phím game sưu tầm, cũng chẳng có những đêm trắng la cà quán xá. Nguyễn Văn Hòa mỗi tuần vẫn gọi điện, chỉ hỏi han sức khỏe, chưa từng nhắc đến điểm số hay tiến độ môn học.
Ngày thi bù môn nợ đầu tiên, Nguyễn Văn Cường bước vào phòng thi với đôi bàn tay chai sần vì vừa làm thêm vừa học. Thầy cố vấn đại học từng thông báo Nguyễn Văn Hòa về việc Nguyễn Văn Cường bỏ học, nợ môn nay đích thân coi thi, nhìn Nguyễn Văn Cường với ánh mắt khác hẳn sự khinh miệt trước đây. Thầy cố vấn đại học bước lại phía Nguyễn Văn Cường sau khi thi xong, vỗ vai Nguyễn Văn Cường: “Em làm rất tốt, môn này chắc chắn đạt điểm tối đa.” Nguyễn Văn Cường mỉm cười, gật đầu: “Cảm ơn thầy, con đã nỗ lực rất nhiều.”
Hai tuần sau, bảng điểm xuất sắc của Nguyễn Văn Cường được gửi về Trường cấp hai làng, nơi Nguyễn Văn Hòa đang công tác. Tất cả môn nợ đều đạt điểm A, xếp loại xuất sắc toàn khóa. Nguyễn Văn Hòa đưa bảng điểm cho Mẹ của Cường, giọng run run: “Bà xem đi, con mình đạt toàn điểm A.” Mẹ của Cường vuốt nhẹ tờ giấy, nước mắt rơi: “Tôi biết, con tôi sẽ làm được mà.”
Lễ trao bằng tốt nghiệp được tổ chức tại sân vận động làng, Làng quê nhỏ, Nghệ An, theo nguyện vọng của Mẹ của Cường muốn cả làng cùng chứng kiến thành quả của con trai. Nguyễn Văn Hòa mặc bộ comple cũ nhưng được ủi phẳng phiu, đứng cạnh Mẹ của Cường – bà mặc chiếc áo nâu sồng, tay nắm chặt chuỗi hạt đưa trước ngực, mắt rớm lệ từ lúc nghe loa thông báo tên Nguyễn Văn Cường đạt thủ khoa khối kỹ thuật.
Nguyễn Văn Cường bước lên bục, nhận tấm bằng cứng từ hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội. Tấm bằng mang tên Nguyễn Văn Cường, chuyên ngành Kỹ thuật Điện, xếp loại Xuất sắc. Nguyễn Văn Cường quay lại phía dưới, nơi Nguyễn Văn Hòa và Mẹ của Cường đang đứng giữa đám đông người làng vỗ tay rần rần. Ánh nắng chiều hè rọi qua tán bàng già, soi rõ nụ cười rạng rỡ trên mặt Nguyễn Văn Cường – nụ cười chưa từng xuất hiện suốt 12 năm xa cách. Nguyễn Văn Cường thầm nghĩ: “Cuối cùng cũng xong.”
Nguyễn Văn Cường cầm chặt tấm bằng, giọng run run nhưng rõ ràng vang lên giữa sân làng: “Con đã làm được rồi mẹ, bố ơi.”
Mẹ của Cường òa lên khóc, tay run run chạm vào tấm bằng, mùi phân bón còn vương trên đầu ngón tay bà. Nguyễn Văn Hòa nhìn Nguyễn Văn Cường, nụ cười hạnh phúc nở trên môi, những nếp nhăn trên trán bỗng trở nên mềm mại. 12 năm xa cách, 12 năm day dứt vì áp đặt, giờ đây tất cả hóa thành những giọt nước mắt rơi trên gò má Nguyễn Văn Hòa. Nguyễn Văn Hòa bước lên bục, ôm chặt Nguyễn Văn Cường, giọng nghẹn ngào: “Bố tự hào về con.” Nguyễn Văn Cường vỗ nhẹ lưng Nguyễn Văn Hòa: “Con xin lỗi bố, vì đã để bố chờ lâu như vậy.” Mẹ của Cường ôm lấy hai cha con, giọng nức nở: “Mẹ biết con sẽ về, con sẽ làm được mà.” Nguyễn Văn Cường cúi đầu, nước mắt rơi vào tóc Mẹ của Cường: “Con xin lỗi mẹ, vì đã để mẹ đợi 12 năm.”
Gió thổi qua cánh đồng lúa chín bên cạnh sân làng, mang theo mùi rơm rạ cháy nhẹ và tiếng cười nói của người dân. Tấm bằng tốt nghiệp trong tay Nguyễn Văn Cường không chỉ là chứng nhận học thuật, mà là lời minh chứng cho hành trình chuộc lỗi, cho sự bao dung của gia đình và cả sự buông bỏ của chính bản thân Nguyễn Văn Cường. Nguyễn Văn Hòa đứng cạnh Mẹ của Cường, tay siết nhẹ lấy bàn tay chai sần của Mẹ của Cường, thầm cảm ơn những năm tháng bà vẫn một lòng chờ đợi Nguyễn Văn Cường trở về. Không còn những trận cãi vã vì điểm số, không còn áp lực phải trở thành niềm kiêu hãnh của cả làng, Nguyễn Văn Cường giờ đây chỉ là một người con, một người thanh niên bình thường đang tận hưởng khoảnh khắc bình yên hiếm hoi sau hơn một thập kỷ sóng gió.
Sự tha thứ không đến từ một phía, mà là khi Nguyễn Văn Hòa và Nguyễn Văn Cường cùng nhận ra rằng, tình yêu thương không nằm ở việc ép buộc người khác sống theo kỳ vọng của mình, mà là chấp nhận con người họ, với cả những sai lầm và vấp ngã. Mẹ của Cường lau nước mắt, mỉm cười nhìn Nguyễn Văn Hòa và Nguyễn Văn Cường, ánh mắt bà tĩnh lặng như mặt hồ sau cơn mưa. Cuộc đời vốn dĩ không phải là một đường chạy nước rút, mà là hành trình dài với đầy những ngã rẽ, và quan trọng nhất là ta vẫn còn có thể quay lại, sửa sai, và yêu thương những người đã luôn đợi chờ mình.
Hoàng hôn buông xuống, sân làng dần vắng người, chỉ còn ba con người ngồi bên gốc đa già, chia nhau chén trà ấm. Tiếng lá xào xạc, tiếng chim hót và tiếng trò chuyện nhỏ nhẹ hòa quyện vào nhau, tạo nên bản nhạc bình yên nhất cho cuộc đời Nguyễn Văn Cường – bản nhạc mà 12 năm trước, Nguyễn Văn Cường từng tưởng rằng mình sẽ chẳng bao giờ được nghe lại.

