“Hàng xóm nuôi ch-ó sủa bậy cả đêm nhà tôi không thể chợp mắt, không thể chịu nổi, đêm đó tôi lén bỏ 1 thứ trước cửa nhà, thấy đàn chó hàng xóm cả đêm lúi húi rồi sau đó im bặt, 3 ngày sau nhà hàng xóm khóc thả-m gọi trưởng thôn đến… tôi nghĩ bụng “”còn non lắm””…
Nhà tôi sát vách với nhà ông Tư – một người nổi tiếng “”nuôi chó không nuôi dạy””. Cả xóm ai cũng than, nhưng nhà tôi là hứng đủ.
5 con chó to, đêm nào cũng sủa từ chập tối đến gần sáng. Tiếng sủa vang như pháo, g;/ào như có người xông vào, nhưng thực ra chẳng ai cả. Chỉ là gió thổi, hay một cái lá rơi cũng khiến chúng tru tréo loạn lên.
Tôi đã lịch sự góp ý, đã từng viết giấy, nhắn tin, thậm chí đến tận nhà… Nhưng lần nào cũng bị ông Tư gắt:
– “Chó nhà tao, tao thích nuôi thế đấy! Không ưa thì bán nhà mà đi!”
Một đêm mưa phùn, con gái tôi sốt 39 độ, mẹ già thức trắng vì không ngủ nổi, tôi ngồi bên cửa sổ mà máu sôi lên theo từng tiếng sủa rát óc.
Tôi chịu không nổi nữa.
Tôi không muốn làm gì á-c, nhưng cũng không thể để gia đình tôi chịu cảnh này mãi. Tôi nhớ đến bột ngải khô trộn tro than mà người bạn dân tộc từng đưa, bảo dùng xua đuổi chó mèo.
Tôi lén ra ngoài, tay run run, rắc thứ đó quanh bờ tường nhà ông Tư. Trước cửa đặt thêm một nắm muối gạo trộn tỏi nướng, thứ mà theo lời bạn tôi: “ch-ó ngửi thấy sẽ mất phương hướng, không còn định vị được lãnh thổ mà sủa nữa.”
Đêm đó, tôi ngủ một mạch đến sáng – lần đầu tiên sau nhiều tháng trời.
Chó không sủa.
Yên lặng đến đáng ngờ.
Ngày thứ hai, cũng yên tĩnh.
Ngày thứ ba, nhà ông Tư đột nhiên khóc như đám tan;/g.
Tiếng bà vợ gào lên:
– “Mày ơi dậy đi… tụi nó ”
Cả xóm kéo đến. Tôi cũng ra, cố giữ mặt lạnh như không biết chuyện gì.
Ông Tư quỳ giữa sân, ôm một con chó mà tru lên thảm thiết.
Ông gọi trưởng thôn, nói có người “”hạ đ;/ộc chó””.
Cả xóm xì xào, người nghi người kia. Không ai dám thẳng thắn nói gì, vì ông Tư cũng chẳng ưa ai.
Chỉ tôi đứng lặng, không nói. Tôi
biết mình không dùng thuốc độc. Tôi chỉ muốn yên giấc, không muốn giết.
Nhưng có điều tôi không ngờ được là…👇”
“Tiếng bà vợ gào lên:
– “Mày ơi dậy đi… tụi nó ”
Ông Tư quỳ giữa sân, ôm chặt lấy một con chó không còn động đậy, tiếng khóc thảm thiết xé lòng người nghe. Bộ lông xám xịt của nó dính bết đất. Bên cạnh, bà vợ ngồi bệt xuống nền gạch ẩm ướt, liên tục đập tay vào ngực thình thịch, nước mắt giàn giụa gọi tên từng con chó khác trong đàn: “Bông ơi… Vàng ơi… Tí ơi… tụi bay đâu hết rồi!”.
Cả xóm đã kéo đến từ lúc nào, đứng lố nhố ngoài cổng và trước sân, nhìn vào với đủ loại vẻ mặt: vừa tò mò, vừa ái ngại, lại có chút hả hê khó tả. Những lời xì xào, bàn tán vang lên khe khẽ, như tiếng muỗi vo ve trong không khí tang thương.
“Tôi” đứng lẫn vào trong đám đông đó, ánh mắt lướt qua cảnh tượng bi thương trước mặt. Một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng, nhưng khuôn mặt “tôi” vẫn cố giữ vẻ bình thản, không biểu lộ chút cảm xúc nào. “Tôi” quan sát Ông Tư đang lạy lục, van xin con chó nằm im thin thít. Ông Tư gọi trưởng thôn đến, giọng lạc đi vì khóc, tố cáo có kẻ đã “”hạ độc chó”” của ông ta. Cả xóm xì xào thêm, chỉ trỏ, suy đoán. Không ai dám nói thẳng, vì ông Tư vốn không ưa ai.
“Tôi” đứng lặng, không nói một lời. “Tôi” biết mình không dùng thuốc độc. “Tôi” chỉ muốn yên giấc, không muốn giết. Nhưng cái cảnh này… là điều “tôi” không ngờ tới. Rắc chút bột ngải, đặt nắm muối tỏi, chỉ để xua đuổi… sao lại thành ra thế này?
Trong đầu “tôi”, một suy nghĩ chợt lóe lên, sắc như dao cạo: Chẳng lẽ… lại trùng hợp đến thế? Hay thứ bột ngải và nắm muối gạo tỏi kia… không đơn giản chỉ để xua đuổi?”
“Tiếng xe máy vọng lại từ đầu ngõ, càng lúc càng gần. Ông Tư vội vàng lau nước mắt bằng mu bàn tay đầy bùn đất, gắng gượng đứng dậy. Khuôn mặt nhăn nhó vì khóc giờ lại thêm vẻ nghiêm trọng. Ông chỉ tay về phía cổng, rồi quét một vòng qua khoảng sân nơi năm thân chó to lớn nằm im lìm. Cả xóm đứng lố nhố ở cổng, giãn ra nhường lối.
Trưởng thôn, một người đàn ông trung niên vóc người đậm, nét mặt cương nghị, bước vào. Ánh mắt ông quét nhanh một lượt quanh sân, dừng lại trên đàn chó đang nằm đó như những khúc gỗ vô tri. Không khí căng như dây đàn. Ông Tư lắp bắp, giọng vẫn còn nghèn nghẹn vì khóc, chỉ trỏ lung tung.
“… Ông xem này! Ông xem đi! Năm con… năm con chó của tôi! Nó… nó chết hết rồi! Chết không kịp ngáp!”
Ông Tư nấc lên, chỉ vào một góc sân, rồi lại chỉ ra phía cổng.
“Chắc chắn có người… có người hạ độc rồi ông ạ! Độc ác quá! Sao lại nỡ… sao lại nỡ làm thế với cái lũ chó của tôi!”
Nước mắt giàn giụa lại tuôn ra trên khuôn mặt khắc khổ của người đàn ông. Ông Tư khụy xuống cạnh con chó gần nhất, vuốt ve bộ lông xám xịt lạnh ngắt. Cả xóm xì xào to hơn, chỉ trỏ vào sân, vào đàn chó, và cả vào phía những khu vực mà Ông Tư vừa chỉ tay.
“Tôi” đứng lẫn trong đám đông, ánh mắt không rời khỏi Trưởng thôn. “Tôi” thấy ông ấy nhìn chằm chằm vào Ông Tư, rồi lại quay đi, ánh mắt lướt qua những khu vực Ông Tư vừa chỉ, nơi có mảng đất màu đen lờ mờ của bột ngải trộn tro, và gần cổng là nắm muối gạo tỏi đã nướng sém. Một cái lạnh lại chạy dọc sống lưng “tôi”. Trưởng thôn vẫn giữ vẻ mặt trầm ngâm, không nói gì, chỉ quan sát.”
“Trưởng thôn vẫn giữ vẻ mặt trầm ngâm, không nói gì, chỉ quan sát. Ông Tư hít một hơi run rẩy, bắt đầu kể lể chi tiết hơn.
“Đêm… đêm đầu tiên ấy, cái đêm trời mưa phùn lất phất ấy,” ông Tư giọng nghèn nghẹn. “Tụi nó vẫn sủa như bình thường, dữ dội lắm. Tới gần sáng… không, phải nói là khuya lắm rồi, khoảng hai, ba giờ gì đó… tự nhiên im bặt.”
Ông Tư dừng lại, liếc mắt nhìn khắp lượt những người đứng xem. Khuôn mặt hằn học hiện rõ.
“Lúc đó tôi cứ tưởng chúng nó mệt rồi ngủ. Ai dè… sáng ra xuống xem thì thấy…” Ông Tư không kìm được tiếng nấc. “Thấy tụi nó nằm lúi húi… ngửi ngửi cái gì đó quanh sân, rồi cứ thế… vật ra. Mắt thì trợn trừng lên. Rồi… rồi không thở nữa.”
Ông Tư chỉ tay về phía góc sân nơi một con chó nằm gần bờ tường.
“Chắc chắn rồi! Chắc chắn có kẻ ác tâm bỏ thuốc độc! Tụi nó chỉ sủa thôi mà nỡ lòng nào!”
Ánh mắt ông Tư quét nhanh qua đám đông, dừng lại lâu hơn ở phía nhà “”tôi””, nơi “”tôi”” đang đứng lẫn vào. “”Tôi”” cảm thấy một luồng điện chạy dọc sống lưng. Tim “”tôi”” đập nhanh hơn, như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. “”Tôi”” cố gắng giữ vẻ mặt bình tĩnh nhất có thể, nhưng bàn tay thì bất giác siết chặt lại. Trưởng thôn vẫn im lặng, ánh mắt sắc sảo nhìn Ông Tư, rồi lại lướt qua gương mặt tái nhợt của “”tôi””.”
“Trưởng thôn tiến lại gần đàn chó đang nằm im lìm trên sân. Ông Tư và đám đông giãn ra nhường lối. Trưởng thôn không vội chạm vào chúng, chỉ cúi xuống, quan sát kỹ lưỡng từng con. Ánh mắt ông lướt qua lớp lông đã bết lại vì mưa đêm qua, dừng lại ở đôi mắt còn mở trừng trừng đầy hoảng loạn. Vẻ mặt ông dần trở nên trầm trọng hơn.
“Ông Tư,” giọng Trưởng thôn trầm đục. “Ông nói chúng nó nằm lúi húi ở đâu trước khi bị thế này?”
Ông Tư run rẩy chỉ tay về phía bờ tường sát nhà mình, nơi giáp ranh với nhà “”tôi””, và cả khu vực gần bậc cửa.
“Đây ạ! Ngay chỗ này đây!” Ông Tư lắp bắp. “Cả đêm đó chúng nó cứ quanh quẩn mấy chỗ này, ngửi ngửi cái gì đó.”
Trưởng thôn gật nhẹ đầu. Ông đi đến chỗ Ông Tư vừa chỉ, cúi sát xuống mặt đất. Lớp đất vẫn còn ẩm ướt sau trận mưa phùn đêm qua. Ông nhìn thật kỹ, đưa tay chạm nhẹ vào nền đất, rồi khẽ nhúm lên một ít. Ông đưa tay lên mũi, ngửi ngửi.
Một lúc lâu, Trưởng thôn vẫn giữ nguyên tư thế đó, mày nhíu chặt lại. Ông ngửi đi ngửi lại vài lần, vẻ mặt càng lúc càng khó hiểu. Ông quay sang nhìn Ông Tư, rồi lại nhìn xuống đất.
“Không có mùi gì lạ…” Trưởng thôn lẩm bẩm, giọng đầy ngờ vực. “Chỉ thấy mùi đất ẩm… hơi tanh tanh mùi chó…”
Đám đông bắt đầu xì xào bàn tán. Ông Tư đứng đó, nét mặt vừa bối rối vừa tức tối. Sao lại không có mùi gì? Rõ ràng chó nhà ông đã ngửi gì đó ở đây mà vật ra như thế kia cơ mà! Ánh mắt Ông Tư lại liếc về phía “”tôi””, đầy nghi kỵ. “”Tôi”” đứng lẫn trong đám đông, bàn tay vẫn còn hơi run, nhưng cố gắng giữ vẻ mặt vô cảm.”
“Đám đông vẫn vây quanh sân nhà ông Tư, những ánh mắt đổ dồn vào Trưởng thôn rồi lại lia sang tôi. Lời bàn tán bắt đầu lan đi như lửa cháy đồng.
“”Tội nghiệp mấy con chó quá,”” một giọng nói trầm buồn vang lên từ phía sau đám đông. “”Đang yên đang lành tự nhiên lăn ra thế này.””
“”Ờ đấy, tội thật,”” một người khác tiếp lời, nét mặt đầy thương xót. “”Chúng nó cũng chỉ là con vật thôi mà.””
“”Ai mà độc ác thế không biết!”” Một giọng nói khác, cao và rõ, buột ra đầy phẫn nộ, hướng về phía trung tâm đám đông nơi tôi đang đứng lẫn vào. Câu nói như một mũi kim châm thẳng vào tim tôi, khiến tôi hơi giật mình.
Nhưng rồi, một giọng lầm bầm khác lại vang lên, nhỏ hơn nhưng đủ để những người xung quanh nghe thấy: “”Chó sủa cả xóm không ngủ được, giờ im rồi… Có khi lại hay…””
Lời nói này lại như một nhát dao cứa vào cảm giác tội lỗi đang cố lấn át trong tôi. Hai luồng ý kiến trái chiều từ chính những người hàng xóm thân thuộc, một bên lên án sự tàn nhẫn, một bên lại ngấm ngầm hả hê vì sự yên tĩnh. Những lời xì xào, bàn tán, những ánh mắt nghi hoặc, thương xót, hay thậm chí là đồng tình ngầm, tất cả như một sức ép vô hình đè nặng lên vai tôi. Tôi cố gắng giữ nét mặt bình thản, nhưng bên trong, tâm trí tôi hỗn loạn. Tôi biết, dù Trưởng thôn chưa tìm thấy bằng chứng gì, nhưng trong mắt nhiều người ở đây, tôi đã trở thành kẻ tình nghi lớn nhất. Áp lực từ cộng đồng, từ những lời nói tưởng chừng vô thưởng vô phạt, lại còn đáng sợ hơn bất kỳ sự đối chất trực diện nào.”
“Trưởng thôn bước chậm rãi về phía đàn chó đang nằm bất động, ánh mắt quét một lượt khắp xung quanh. Ông ta cúi xuống, nhìn kỹ từng con vật tội nghiệp, rồi chuyển sự chú ý đến mặt đất ngay sát đó. Một vệt gì đó hơi khô lại, màu sắc bất thường, lẫn vào lớp bụi đất lờ mờ trong ánh sáng nhá nhem. Đó chính là thứ chất lạ mà ông Tư đã gào lên tố cáo.
Ông Trưởng thôn nhíu mày, nét mặt trầm trọng hẳn đi. Ông rút từ túi quần ra một chiếc túi nilông nhỏ, loại thường dùng để đựng thực phẩm. Cẩn thận quỳ xuống, ông dùng một cành cây nhỏ cạo nhẹ lớp bụi lẫn “”thứ đó”” vào trong túi. Mỗi động tác đều rất tỉ mỉ, như thể ông đang xử lý một vật chứng quan trọng. Xong xuôi, ông gói kỹ chiếc túi lại.
Đứng dậy, Trưởng thôn quay sang phía ông Tư, giọng dứt khoát: “”Ông Tư này, tạm thời giữ nguyên hiện trường cho tôi. Mấy con chó cứ để thế, đừng ai động vào. Cái này tôi sẽ mang đi kiểm tra xem nó là cái gì. Có kết quả rồi tôi báo lại ngay.””
Ông Tư gật đầu lia lịa, vẫn còn sụt sịt nhưng ánh mắt giờ đây pha lẫn cả hy vọng. Bà vợ ông Tư nấc lên, khẽ thốt lên lời cảm ơn vị Trưởng thôn. Đám đông im phăng phắc theo dõi toàn bộ quá trình, sự tò mò và lo lắng hiển hiện rõ trên từng khuôn mặt. Tôi đứng lẫn trong đám đông, tim đập thình thịch, cố giữ vẻ ngoài bình thản trong khi trong đầu mớ suy nghĩ rối như tơ vò.”
“Sau khi hoàn tất việc lấy mẫu tại hiện trường, Trưởng thôn lững thững bước ra khỏi nhà ông Tư. Ông ta đảo mắt nhìn quanh, chậm rãi đi về phía những ngôi nhà hàng xóm lân cận, nơi vẫn còn vài người đứng tụ tập chưa giải tán hết. Vài người thấy ông đến thì tản ra, nhưng Trưởng thôn không quan tâm, ông chỉ dừng lại hỏi thăm qua loa vài câu xã giao trước khi rẽ sang hướng khác.
Cuối cùng, bước chân ông dừng lại trước cửa nhà của “”tôi””, ngôi nhà sát vách với nhà ông Tư. “”Tôi”” đang đứng lẫn trong đám đông hiếu kỳ, cố giữ vẻ mặt bình thản nhất có thể. Thấy Trưởng thôn tiến về phía mình, tim “”tôi”” đập nhanh hơn một nhịp, nhưng vẫn cố nở nụ cười xã giao.
Trưởng thôn nhìn thẳng vào mắt “”tôi””, ánh mắt có chút dò xét. Ông cất giọng trầm ấm: “”À, chú đây rồi. Nghe nói bên nhà ông Tư có chuyện lớn. Chú có biết gì về vụ mấy con chó không?””
“”Tôi”” giật mình một chút, nhưng nhanh chóng trấn tĩnh lại. “”Tôi”” vội xua tay, tỏ vẻ ngạc nhiên tột độ. “”Dạ, tôi á? Trời ơi, tôi vừa nghe mọi người nói đây. Thật không thể tin nổi! Mấy con chó to đùng khỏe mạnh thế kia mà… Ơn trời là giờ mới biết chuyện.”” “”Tôi”” dừng lại một nhịp, giả vờ thở dài. “”Chứ mấy hôm nay nhà tôi khổ sở vì cái tiếng chó sủa của nhà ông ấy quá chừng. Nhất là đêm qua với đêm trước, con bé nhà tôi sốt cao 39 độ, thằng bé nó quấy khóc, rồi mẹ già đau xương khớp, cả nhà thức trắng. Cứ tưởng mai mốt lại tiếp tục nghe tiếng sủa long trời lở đất nữa chứ.””
Trưởng thôn im lặng lắng nghe “”tôi”” nói, ánh mắt vẫn không rời. Ông ta nhìn chằm chằm vào mặt “”tôi”” như muốn đọc thấu suy nghĩ. “”Tôi”” cố gắng giữ vẻ mặt ngây thơ, chỉ tập trung than phiền về chuyện tiếng ồn, không đả động gì đến việc chó bị gì.
Sau một lúc im lặng căng thẳng, Trưởng thôn chỉ khẽ gật đầu. “”Ừ, tôi hiểu rồi.”” Ông không nói thêm lời nào nữa về chuyện những con chó. Ánh mắt dò xét vẫn lướt trên gương mặt “”tôi”” thêm vài giây, rồi ông ta quay lưng, chậm rãi bước đi về phía cuối xóm.
Nhìn bóng lưng Trưởng thôn khuất dần, “”tôi”” mới dám thở phào nhẹ nhõm. Nhưng cảm giác nhẹ nhõm đó chỉ thoáng qua, nhường chỗ cho sự bất an tột độ đang trào dâng trong lòng. Ánh mắt của Trưởng thôn lúc nãy, cái nhìn sắc lẹm ấy… nó như thể ông ta đã nhìn thấy điều gì đó. “”Tôi”” cảm thấy lạnh sống lưng, như có một tảng đá đè nặng lên ngực. Liệu ông ta có nghi ngờ mình không? Liệu ông ta có tìm ra được thứ gì đó? Hàng loạt câu hỏi xoáy vào tâm trí, khiến “”tôi”” đứng chôn chân tại chỗ, mồ hôi lạnh túa ra.”
“””Tôi”” vội vã quay người, lẩn nhanh vào nhà mình. Cánh cửa gỗ đóng sầm lại, như muốn ngăn cách “”tôi”” với thế giới bên ngoài, với ánh mắt nghi ngờ của Trưởng thôn, với tiếng khóc thảm thiết vẫn còn vọng lại từ nhà ông Tư. “”Tôi”” dựa lưng vào cánh cửa, hơi thở dồn dập, lòng ngực nóng ran như có lửa đốt.
Không thể nào… Không thể nào thứ bột ngải khô trộn tro than hay nắm muối gạo trộn tỏi nướng lại có thể gây ra chuyện khủng khiếp đến vậy. Mục đích của “”tôi”” chỉ là để đuổi bọn chó đi, để chúng không sủa ầm ĩ làm phiền đến con gái đang sốt, đến mẹ già thức trắng. Chỉ là muốn xua đuổi chúng khỏi bờ tường, khỏi cửa nhà, để có được vài đêm yên tĩnh. “”Tôi”” chưa từng có ý định làm hại chúng.
Một hình ảnh thoáng qua trong tâm trí: gương mặt hiền lành của người bạn dân tộc, người đã đưa cho “”tôi”” công thức ấy. “”Anh cứ rắc cái bột này quanh nhà, chó mèo ngửi thấy mùi lạ sẽ tránh xa. Còn cái nắm này thì nướng lên, đặt ở cửa, mùi tỏi nướng mạnh lắm, làm chúng nó mất phương hướng không dám bén mảng tới đâu.”” Lời dặn vẫn văng vẳng bên tai.
Liệu “”tôi”” đã làm sai cách? Hay có phải “”tôi”” đã dùng lượng quá nhiều, quá đậm đặc? Hay chính đêm mưa phùn ẩm ướt hôm đó đã khiến thứ bột ngải và mùi tỏi nướng kia biến đổi, trở nên độc hại? “”Tôi”” không hiểu. “”Tôi”” chỉ làm theo lời bạn dặn, chỉ muốn chút bình yên cho gia đình.
Cảm giác tội lỗi như một mũi dao nhọn đâm thẳng vào tim. Năm sinh mạng… năm con chó to khỏe mạnh giờ đây… “”Tôi”” không dám nghĩ tiếp. Cơn sợ hãi tột cùng bủa vây lấy “”tôi””, lạnh buốt từ sống lưng lên đến đỉnh đầu. Chuyện này sẽ đi đến đâu? Liệu ông Tư có tìm ra bằng chứng không? Liệu Trưởng thôn có quay lại không? “”Tôi”” đứng chết lặng giữa nhà, bóng tối nhá nhem cuối chiều nuốt chửng lấy thân hình nhỏ bé, đầy rẫy sự dằn vặt và kinh hãi.”
“””Tôi”” vẫn đứng chết lặng giữa nhà, hơi thở vẫn chưa hết dồn dập. Tiếng khóc từ nhà ông Tư như cứa vào tai. Nhưng dần dần, tiếng khóc đó không còn là tiếng than khóc đơn thuần nữa. Nó pha lẫn sự tức giận, sự căm phẫn tột cùng. Cả xóm bắt đầu xôn xao hơn, những tiếng bàn tán, xì xào nổi lên rồi lại lắng xuống như những đợt sóng.
Rồi một bóng người hùng hổ bước ra khỏi cổng nhà ông Tư. Đó là ông Tư. Khuôn mặt ông đỏ gay, mắt long sòng sọc, đầy vẻ đằng đằng sát khí. Ông không đi thẳng mà đi vòng quanh, ngang qua các nhà trong xóm, bước chân nặng nề, dậm bịch xuống đất. Cả xóm giật mình, những người đang tụ tập hiếu kỳ lập tức dạt ra, giữ khoảng cách.
Ông Tư dừng lại giữa đường, ngẩng mặt lên trời rồi hét lớn, giọng khản đặc vì uất hận: “”Ai! Ai đã làm cái việc thất đức này!””
Ông Tư quay đầu nhìn khắp lượt, ánh mắt quét qua từng gương mặt, từng ngôi nhà. Ánh mắt đó dừng lại lâu hơn một chút ở phía nhà “”tôi””, nơi cánh cửa gỗ vẫn đang khép chặt. “”Tôi”” đứng sau cánh cửa, tim đập thình thịch, cảm giác như ánh mắt ông Tư xuyên thấu qua lớp gỗ.
Ông Tư lại gào lên, lần này là một lời tuyên bố lạnh người: “”Đàn chó của tôi… năm con chó… chúng nó… chúng nó bị hạ độc! Tôi thề… tôi thề sẽ tìm ra kẻ nào đã làm chuyện này! Dù là ai… tôi thề… tôi thề không để yên! Cả đời này tôi cũng không để yên đâu!””
Lời hăm dọa vang vọng khắp xóm nhỏ. Sự tức giận và nỗi đau tột cùng của ông Tư như một luồng khí độc lan tỏa, khiến không khí càng thêm căng thẳng, ngột ngạt. Những khuôn mặt trong xóm tái nhợt, không ai dám nói lời nào. Họ nhìn nhau, đầy lo lắng và sợ hãi.
“”Tôi”” rùng mình, cảm giác bàn chân lạnh toát. Tiếng ông Tư vẫn văng vẳng bên tai, như một bản án đã được tuyên. Cái thề độc đó không chỉ là lời nói suông. Ông Tư chắc chắn sẽ làm thật. Liệu ông ấy đã nghi ngờ ai chưa? Liệu ông ấy có bằng chứng gì không? Cơn sợ hãi từ lúc nãy càng lúc càng dâng lên dữ dội, nuốt chửng lấy “”tôi”” trong bóng tối cuối ngày. Chuyện này không chỉ dừng lại ở đàn chó chết rồi. Nó đã trở thành một cuộc chiến. Một cuộc chiến mà “”tôi”” không biết mình phải đối mặt thế nào.”
“Tôi cùng vài người hàng xóm được mời lên trụ sở thôn. Không khí nặng nề bao trùm. Trưởng thôn ngồi sau chiếc bàn gỗ cũ, gương mặt đăm chiêu. Ông Tư và vợ cũng có mặt, ánh mắt đầy căm phẫn nhìn thẳng vào tôi. Vài người dân khác đứng nép ở góc phòng, xì xào.
Trưởng thôn ho khan một tiếng, cầm tờ giấy trên bàn lên.
“”Mọi người ngồi cả đi.”” Ông nói giọng chậm rãi, “”Về vụ việc của nhà ông Tư đây… tôi đã gửi cái vật lạ được thu thập đi kiểm tra sơ bộ rồi.””
Mọi ánh mắt đổ dồn vào tờ giấy trên tay ông. Tim tôi đập nhanh hơn một nhịp.
“”Kết quả đây.”” Trưởng thôn dừng lại, nhìn từng người, đặc biệt là tôi và ông Tư. “”Họ nói… nó không phải là loại thuốc độc dùng để hạ độc động vật thông thường trên thị trường.””
Một tiếng xì xào nhẹ lan ra. Vợ ông Tư bật thốt lên “”Không độc? Thế sao chó nhà tôi…”” rồi im bặt.
“”Nhưng,”” Trưởng thôn nói tiếp, nhấn mạnh, “”người ta cũng nói… thứ này có mùi rất lạ, và nếu động vật nuốt phải hoặc hít phải quá nhiều… có thể gây khó chịu hoặc kích ứng mạnh.””
Sự im lặng bao trùm căn phòng, còn căng thẳng hơn lúc trước. Không phải thuốc độc, nhưng lại “”gây khó chịu, kích ứng mạnh”” đến mức làm chết chó? Điều đó nghe thật mâu thuẫn.
Ông Tư lập tức chỉ thẳng vào tôi, giọng đầy bức xúc, “”Thấy chưa! Rõ ràng là nó dùng cái thứ quái quỷ gì đó hại chó nhà tôi! Không phải thuốc độc thì là bùa ngải à?””
Tôi cứng họng. Dù biết công thức đó chỉ để xua đuổi, nhưng kết quả này… nó chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa. Kết luận “”chưa rõ ràng”” của bên kiểm tra càng làm mọi thứ thêm phức tạp, đẩy tôi vào thế khó. Trưởng thôn thở dài, đặt tờ giấy xuống, nhìn tôi bằng ánh mắt phức tạp. Ông không nói gì thêm, nhưng sự ngờ vực đã hiện rõ trong mắt nhiều người.”
“Tôi trở về nhà, lòng nặng như chì sau buổi làm việc căng thẳng ở trụ sở thôn. Vừa bước vào cửa, tôi đã cảm thấy bất an. Chưa kịp hoàn hồn, một tiếng đập cửa dồn dập vang lên. Cánh cửa gỗ cũ rung lên bần bật. Tim tôi nhảy thót. Đó là ông Tư.
Tôi nín thở, đứng chết trân sau cánh cửa. Mọi âm thanh trong nhà dường như ngưng lại. Con gái và mẹ già đang ngủ thiếp đi sau những đêm dài mệt mỏi. Tôi không dám nhúc nhích, sợ gây ra tiếng động.
“”Mở cửa ra! Mày tưởng trốn trong nhà là xong à?!”” Giọng ông Tư gằn lên qua khe cửa, đầy sự tức giận và thù hằn. Tiếng đập cửa mạnh hơn, như muốn phá tung ra.
Tôi run rẩy, tay bấu chặt vào thành cửa.
“”Tao biết tỏng là ai mừng rỡ khi chó nhà tao chết đấy!”” ông ta tiếp tục gào lên. “”Ai là cái đứa ‘đá thúng đụng nia’ trước đây, tìm đủ mọi cách hại chó nhà tao! Mày tưởng cái thứ bột quái dị với muối tỏi của mày vô hại à?!””
Tôi nhắm mắt lại, những lời nói như kim châm đâm vào tai. Ông ta đã thấy tôi rắc bột, đã thấy tôi đặt nắm muối? Hay chỉ là lời suy đoán dựa trên sự thù ghét sẵn có? Dù là gì, lúc này tôi như kẻ có tội, không cách nào biện minh.
“”Cả xóm này biết mày ghét chó nhà tao thế nào!”” Ông Tư không ngừng nghỉ, giọng ngày càng cao hơn. “”Mày chỉ giả vờ ngoan hiền thôi! Cái loại hiểm độc!””
Nước mắt tôi chực trào ra. Tôi chỉ muốn một cuộc sống bình yên, muốn con gái và mẹ già được ngủ ngon. Tôi đã sai khi dùng thứ đó ư? Nhưng lúc ấy, tôi thực sự không còn lựa chọn nào khác.
“”Mày ra đây! Đối diện với tao đi! Đừng hèn nhát trốn sau cánh cửa đấy!”” Ông Tư đấm mạnh vào cửa, tiếng động khô khốc vang vọng trong không gian tĩnh mịch.
Tôi đứng đó, chỉ cách ông ta một tấm gỗ mỏng manh, cảm nhận sự phẫn nộ cuồng nộ của ông ta như luồng hơi nóng rát phả vào mặt. Tôi không dám ra mở. Tôi sợ hãi. Sợ khuôn mặt đầy căm hận của ông ta, sợ những lời cay nghiệt sẽ trút xuống mình, sợ phải đối diện với cơn thịnh nộ đang bùng cháy ngoài kia. Tôi chỉ có thể đứng im, nín thở, chờ đợi ông ta bỏ đi trong sự bất lực và run rẩy.”
“Ông Tư vẫn gào thét thêm lúc nữa rồi tiếng đập cửa thưa dần, cuối cùng lịm hẳn. Tôi đứng đó một hồi lâu, chỉ nghe tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực và hơi thở gấp gáp của chính mình. Bên trong nhà, không gian im lặng như tờ. Con gái và mẹ già vẫn ngủ, may mắn không bị đánh thức bởi cơn thịnh nộ của ông hàng xóm. Khi chắc chắn ông Tư đã đi khỏi, tôi mới rón rén bước lại, nhìn qua khe cửa hẹp ra ngoài. Chỉ thấy bóng lưng giận dữ của ông ta khuất dần về phía nhà mình.
Tôi khuỵu xuống sàn, cơn run rẩy chưa dứt hẳn. Những lời ông Tư nói cứ văng vẳng trong tai: “”Cái thứ bột quái dị với muối tỏi của mày vô hại à?!”” Tôi không hề nghĩ thứ đó lại có thể gây ra chuyện tày trời đến vậy. Tôi chỉ muốn đàn chó sợ hãi mà tránh xa, để mẹ và con gái được yên giấc. Giờ đây, tôi cảm thấy mình đang mắc kẹt trong một mớ bòng bong do chính mình tạo ra.
Nỗi sợ hãi và day dứt thôi thúc tôi phải tìm hiểu rõ hơn. Tôi cần biết chính xác thứ tôi đã dùng là gì, có thực sự nguy hiểm đến mức đó không. Nghĩ đến người duy nhất có thể giải đáp, tôi vội vàng lấy điện thoại. Đó là người bạn dân tộc đã chỉ cho tôi công thức.
Ngón tay tôi lướt nhanh trên màn hình, tìm đến số liên lạc của người bạn. Tim đập thình thịch khi chuông reo. Tôi chờ đợi trong hồi hộp, không biết phải mở lời thế nào.
Đầu dây bên kia có tiếng “”Alo”” vang lên, trầm ấm. Tôi hít sâu một hơi, cố gắng giữ giọng bình tĩnh.
“”À, chào bạn… Mình đây, cái người hôm trước có hỏi bạn về cái vụ chó mèo ấy mà…”” Tôi ấp úng.
Người bạn nhận ra ngay, giọng có vẻ vui vẻ: “”À! Nhớ rồi! Sao rồi, bà con chó mèo nhà ông đấy có bớt sủa chưa?””
Giọng tôi chùng xuống: “”Chưa bớt… mà… mà có chuyện rồi bạn ơi. Chó nhà ông ấy… chết cả đàn rồi.””
Đầu dây bên kia im bặt một lúc, rồi giọng bạn ấy vang lên, đầy vẻ sửng sốt: “”Hả? Chết cả đàn á? Sao lại thế được?””
“”Mình… mình cũng không biết nữa. Mấy hôm trước mình có làm theo cách bạn chỉ… rắc bột ngải ở bờ tường, rồi đặt nắm muối gạo tỏi ở cửa…”” Tôi kể lại, giọng run run. “”Ông ấy giờ đang nghĩ là mình làm, đang tố mình ‘hạ độc chó’…””
“”Khoan đã! Bạn làm đúng như tôi chỉ chứ?”” Người bạn hỏi dồn dập. “”Cái bột là ngải khô trộn tro, chỉ rắc nhẹ cho nó ngửi thấy mùi khó chịu thôi. Còn nắm muối gạo trộn tỏi là nướng lên cho nó bốc hơi, làm chó mèo mất phương hướng, choáng váng mà bỏ đi thôi. Hoàn toàn không có độc gì cả! Chỉ là để xua đuổi, khiến chúng khó chịu, sợ hãi thôi!””
Tôi nghe mà như trút được gánh nặng, nhưng lại thêm phần hoang mang. “”Thật không? Nghĩa là… nó không thể giết chết chúng được đúng không?””
“”Chắc chắn là không!”” Giọng người bạn quả quyết. “”Công thức đấy đời ông bà tôi truyền lại để đuổi thú rừng, chó mèo quậy phá ra khỏi nương rẫy, vườn tược thôi. Tuyệt đối không gây chết chóc! Chỉ khiến chúng khó chịu mà tránh xa thôi. Sao lại có thể làm chết cả đàn chó to như thế được?””
Người bạn lặp lại câu hỏi, giọng đầy khó hiểu và ngạc nhiên tột độ. Còn tôi, tôi lắng nghe, trong lòng vừa nhẹ nhõm vì biết mình không trực tiếp gây ra cái chết cho đàn chó, lại vừa dấy lên một câu hỏi lớn hơn, một nỗi sợ hãi lạnh gáy khác: Nếu không phải thứ đó, thì điều gì đã thực sự xảy ra với đàn chó nhà ông Tư?”
“””Chắc chắn là không!”” Giọng người bạn quả quyết. “”Công thức đấy đời ông bà tôi truyền lại để đuổi thú rừng, chó mèo quậy phá ra khỏi nương rẫy, vườn tược thôi. Tuyệt đối không gây chết chóc! Chỉ khiến chúng khó chịu mà tránh xa thôi. Sao lại có thể làm chết cả đàn chó to như thế được?””
Người bạn lặp lại câu hỏi, giọng đầy khó hiểu và ngạc nhiên tột độ. Còn tôi, tôi lắng nghe, trong lòng vừa nhẹ nhõm vì biết mình không trực tiếp gây ra cái chết cho đàn chó, lại vừa dấy lên một câu hỏi lớn hơn, một nỗi sợ hãi lạnh gáy khác: Nếu không phải thứ đó, thì điều gì đã thực sự xảy ra với đàn chó nhà ông Tư?
Đầu óc tôi quay cuồng. Nếu thứ tôi dùng chỉ làm chúng mất phương hướng, choáng váng, thì… Chẳng lẽ trong lúc hoảng loạn đêm đó, trong cái đêm mưa phùn ẩm ướt ấy, chúng đã chạy loạn xạ và ăn phải thứ gì khác? Thứ gì đó… có độc thật sự? Hoặc là… cái thứ bột ngải và muối tỏi ấy, tuy không gây chết, nhưng lại khiến chúng lú lẫn, không phân biệt được phương hướng hay mùi vị bình thường nữa, rồi chúng ăn nhầm phải bả chuột hay thuốc sâu vương vãi ở đâu đó trong xóm?
“”Bạn ơi,”” tôi nói vội, ngắt lời người bạn đang suy nghĩ. “”Có khi nào… cái thứ bột với muối đó làm chúng bị… mất phương hướng nặng không? Kiểu như bị lú lẫn hoàn toàn ấy? Rồi trong lúc đấy, chúng ăn nhầm phải cái gì khác ở ngoài?””
“”Mất phương hướng thì đúng là có,”” người bạn trầm ngâm đáp. “”Nó làm chó mèo bị choáng váng, kiểu như say ấy, không ngửi rõ, không nhìn rõ, chỉ muốn chạy trốn khỏi cái mùi khó chịu đó thôi. Nhưng đến mức lú lẫn hoàn toàn rồi ăn nhầm bả thì… tôi cũng không dám chắc. Nhưng đúng là có khả năng. Chó mèo lúc hoảng sợ có thể phản ứng kỳ lạ lắm.””
“”Vậy thì… vậy có khi nào chính vì cái thứ đó làm chúng hoảng loạn, không kiểm soát được hành vi, mà dẫn đến việc ăn phải thứ độc thật sự không?”” Giọng tôi nghẹn lại. Cảm giác tội lỗi lại dâng lên. Dù không trực tiếp hạ độc, nhưng chính hành động của tôi có thể là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cái chết của chúng.
Người bạn im lặng một lát. “”Cũng có thể. Hoặc… hoặc có một khả năng khác nữa. Đàn chó nhà ông Tư… hình như cũng già rồi, đúng không? Lại nuôi nhốt chật chội, ăn uống chắc cũng không đảm bảo. Có khi nào sức khỏe chúng vốn yếu sẵn rồi? Gặp phải cái đêm mưa lạnh, rồi ngửi phải cái mùi khó chịu đó làm chúng bị sốc hoặc căng thẳng quá mức, khiến bệnh nền bộc phát không?””
Giả thiết này khiến tôi giật mình. Đúng vậy, đàn chó rất to, nhưng cũng trông khá già cỗi, lông xơ xác. Ông Tư nổi tiếng là nuôi chó không dạy, chỉ nhốt và cho ăn bừa bãi. Sức khỏe của chúng… thật sự là một ẩn số.
“”Khả năng sức khỏe yếu sẵn… cũng có thể lắm,”” tôi thừa nhận. “”Chúng nó trông cũng không khỏe mạnh gì…””
“”Đấy,”” người bạn nói tiếp, giọng có vẻ suy luận. “”Vậy thì sự việc phức tạp hơn nhiều rồi. Nó không đơn giản là bị ‘hạ độc’ trực tiếp bởi thứ bạn rắc hay đặt đâu. Có thể thứ đó chỉ là một yếu tố nhỏ gây hoảng loạn, kết hợp với sức khỏe yếu sẵn hoặc việc chúng ăn nhầm thứ khác ở ngoài do mất phương hướng mà ra cớ sự này. Vụ này không đơn giản chút nào đâu bạn ạ.””
Tôi lắng nghe, cảm thấy như một cánh cửa mới vừa mở ra, nhưng lại dẫn vào một mê cung phức tạp hơn. Không phải hạ độc trực tiếp… nhưng có liên quan gián tiếp? Hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa một đêm mưa lạnh, sức khỏe bầy chó và một sự cố khác xảy ra trong xóm? Vụ việc thực sự không chỉ đơn giản là ‘hạ độc’ như ông Tư gào thét. Sự thật… hình như bắt đầu hé lộ những góc khuất khác.”
“Cơ quan chức năng có xuống làm việc. Họ lấy mẫu, họ hỏi han. Nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu. Thuốc chuột? Thuốc sâu? Hay bất cứ loại bả nào mà người ta thường dùng để hạ độc động vật? Tất cả đều không được tìm thấy một cách rõ ràng hay có bằng chứng cụ thể liên kết với cái chết của đàn chó. Việc khám nghiệm sơ bộ cũng không cho thấy dấu hiệu điển hình của các loại độc phổ biến. Vụ việc cứ thế chìm dần vào im lặng vì thiếu chứng cứ kết luận.
Ông Tư vẫn đau khổ, gương mặt ông ta hằn lên sự căm phẫn. Ông ta gào thét đòi công lý, đòi tìm ra kẻ “”ác độc””. Nhưng trước kết quả điều tra bế tắc, ông ta không thể chỉ đích danh ai, càng không thể đưa ra bằng chứng cụ thể nào để buộc tội “”nhà hàng xóm”” đã bỏ thuốc. Sự tức giận của ông ta chỉ có thể trút vào những lời lầm bầm nguyền rủa và ánh mắt hình viên đạn mỗi khi nhìn sang nhà tôi.
Đàn chó đã chết thật rồi. Cái xóm nhỏ cuối cùng cũng được trả lại sự yên tĩnh đã mất bấy lâu. Con gái tôi không còn giật mình khóc thét lúc nửa đêm vì tiếng sủa. Mẹ già tôi cũng không còn thức trắng đêm ôm ngực thở dốc. Sự bình yên về âm thanh đã trở lại.
Nhưng bầu không khí trong xóm lại trở nên đặc quánh, nặng nề. Ai cũng biết chuyện gì đã xảy ra. Ai cũng có phỏng đoán riêng. Có người nhìn tôi với ánh mắt ái ngại, thương cảm cho việc bị nghi ngờ oan. Có người lại nhìn với vẻ dò xét, nửa tin nửa ngờ. Và nhiều nhất là những ánh mắt tò mò, bàn tán xôn xao mỗi khi có người nhà tôi bước ra cửa hoặc ông Tư đi qua ngõ.
Đặc biệt, mối quan hệ giữa hai nhà, nhà “”tôi”” và nhà ông Tư, trở nên căng như dây đàn. Không lời qua tiếng lại, không đối đầu trực diện gay gắt, nhưng là sự né tránh đầy ác cảm. Ánh mắt gặp nhau giữa sân là lảng đi ngay lập tức. Giữa hai nhà giờ đây không chỉ có bờ tường cũ kỹ mà còn là một bức tường vô hình dựng lên từ sự nghi kỵ, nỗi đau mất mát và những cáo buộc không thành lời. Ông Tư coi tôi như kẻ thù. Còn tôi, tôi vừa cảm thấy oan ức, vừa day dứt không yên vì giả thiết của người bạn dân tộc. Cái chết của đàn chó vẫn là một câu đố, và sự im lặng bất đắc dĩ lúc này chỉ là tạm thời.”
“Sự yên tĩnh rốt cuộc đã trở lại ngôi làng. Tiếng chó sủa inh ỏi, tiếng gào thét đòi công lý, tất cả đã chìm vào im lặng bất đắc dĩ. Con gái ‘tôi’ không còn sốt, giấc ngủ của con bé cuối cùng cũng tròn giấc. Mẹ già ‘tôi’ cũng không còn thức trắng đêm, bà đã có thể chợp mắt ngon lành đến sáng. Cái đích ‘tôi’ mong muốn, sự yên bình về âm thanh, đã đạt được.
Nhưng cái giá phải trả lại quá đắt. Đàn chó đã chết, 5 sinh mạng, dù từng gây phiền phức, giờ chỉ còn là những ký ức đau lòng trong tâm trí người chủ và một sự ám ảnh dai dẳng trong lòng “”tôi””. Mỗi khi bước ra sân, ánh mắt “”tôi”” vô thức lại hướng về phía nhà ông Tư. Ngôi nhà ấy giờ im lìm một cách đáng sợ. “”Tôi”” thấy hình ảnh trống trải nơi góc sân trước đây đàn chó hay nằm phơi nắng, và trong đầu lại văng vẳng tiếng khóc thảm thiết của vợ ông Tư hôm đó. Nó cứ ám ảnh, như một lời nhắc nhở về những gì đã xảy ra.
Mối quan hệ giữa hai nhà đã hoàn toàn rạn nứt. Không lời qua tiếng lại, không cãi vã ồn ào, chỉ là sự né tránh lạnh lẽo và những ánh mắt đầy nghi kỵ, căm ghét khi vô tình chạm mặt. Bờ tường nhà ông Tư, nơi “”tôi”” từng lén lút rắc bột ngải khô, giờ đây như một ranh giới không thể vượt qua, ngăn cách hai gia đình bằng một bức tường vô hình của nỗi đau và sự buộc tội không thành lời. Ông Tư coi “”tôi”” là kẻ đã gây ra cái chết cho đàn chó, dù không có bằng chứng. Còn “”tôi””, giữa sự oan ức vì không trực tiếp làm gì, lại dằn vặt khôn nguôi bởi giả thiết của người bạn dân tộc về tác dụng của bột ngải và muối gạo tỏi. Liệu hành động xua đuổi của “”tôi”” có thực sự là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cái chết của chúng, theo một cách nào đó mà khoa học không lý giải được? Cái câu hỏi đó cứ xoáy sâu trong lòng “”tôi””, bào mòn sự bình yên vừa đạt được.
Cuối cùng, ngôi làng nhỏ cũng trở lại sự tĩnh lặng vốn có, nhưng đó không phải là sự tĩnh lặng của bình yên. Nó là sự tĩnh lặng của sự mất mát, của sự rạn nứt, của sự nghi kỵ còn âm ỉ. “”Tôi”” có được giấc ngủ, nhưng giấc ngủ ấy không trọn vẹn. “”Tôi”” có được sự yên tĩnh, nhưng sự yên tĩnh ấy được đánh đổi bằng quá nhiều thứ. Cái giá của sự yên bình này quá đắt, và “”tôi”” không biết liệu mình có gánh nổi nó đến bao giờ. Nhìn sang nhà ông Tư, “”tôi”” biết, vết thương lòng của cả hai nhà sẽ rất lâu mới lành, nếu như có thể lành được. Cái chết của đàn chó không chỉ mang đi sinh mạng của chúng, mà còn mang đi cả sự bình yên thực sự và mối quan hệ láng giềng bao năm. Giờ đây, chỉ còn lại sự im lặng nặng trĩu và bóng ma của những gì đã xảy ra.
Cuộc sống vẫn tiếp diễn trong ngôi làng nhỏ, nhưng mọi thứ đã không còn như xưa. Sự yên tĩnh không còn là dấu hiệu của cuộc sống bình dị mà là minh chứng cho một mất mát lớn, không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần và tình làng nghĩa xóm. Những tiếng cười nói, những lời chào hỏi thân tình giữa hai nhà giờ đã biến mất, nhường chỗ cho sự im lặng đáng sợ và những ánh mắt lảng tránh. ‘Tôi’ hiểu rằng, dù kết quả điều tra có thế nào, dù không có ai bị buộc tội chính thức, thì trong tâm trí ông Tư và có thể cả những người hàng xóm khác, ‘tôi’ vẫn là người chịu trách nhiệm. Gánh nặng của sự nghi ngờ và day dứt luôn đeo bám, khiến cho những đêm yên tĩnh không còn là món quà mà là lời nhắc nhở về cái giá phải trả. ‘Tôi’ ước gì có thể quay ngược lại thời gian, tìm một cách giải quyết khác, ít đau đớn hơn, ít tàn khốc hơn. Nhưng cuộc đời không có nút quay lại. Chỉ còn lại hiện tại với sự bình yên nhuốm màu tội lỗi và tương lai mờ mịt với mối quan hệ láng giềng đã tan vỡ. Có lẽ, bài học lớn nhất ‘tôi’ nhận được từ câu chuyện này chính là sự thấu hiểu rằng, đôi khi, việc đạt được điều mình muốn lại chính là khởi đầu của những nỗi đau không ngờ tới, và sự bình yên thực sự không thể xây dựng trên sự mất mát và sự chia cắt. Đó là một cái giá quá đắt, và ‘tôi’ sẽ phải sống với nó, mãi mãi.”

