Nhặt được tượng Phật dưới biển, dân làng ᴛʀᴀɴʜ ɴʜᴀᴜ ɢɪữ tưởng là lộc trời… 3 ngày sau xảy ra chuyện không ai ngờ…
“Đừng kéo lên! ᴄắᴛ lưới đi!”
Tiếng ʜéᴛ của lão Năm vang lên giữa biển, ɢấᴘ ɢáᴘ đến mức khiến cả thuyền ᴋʜựɴɢ ʟạɪ. Nhưng đã ᴍᴜộɴ. ᴛấᴍ ʟướɪ ᴄăɴɢ ᴄứɴɢ, ɴʜư ᴍắᴄ ᴠàᴏ ᴛʜứ ɢì đó ɴặɴɢ ᴋʜủɴɢ ᴋʜɪếᴘ dưới đáy.
Anh Hưng – người cầm lái – ǫᴜáᴛ ʟớɴ:
“ᴄắᴛ ɢì ᴍà ᴄắᴛ! ʙɪếᴛ đâᴜ ᴛʀúɴɢ ᴍẻ ʟớɴ!”
Ba người đàn ông ᴅồɴ sứᴄ ᴋéᴏ. Mặt nước ᴛáᴄʜ ʀᴀ, ʙọᴛ ᴛʀắɴɢ ɴổɪ ʟêɴ, rồi một khối đá đᴇɴ ᴛừ ᴛừ ᴛʀồɪ ʟêɴ khỏi mặt biển.
Khi nhìn rõ thứ nằm trong lưới… tất cả ᴄʜếᴛ ʟặɴɢ.
Một pho tượng Phật.
Tượng không lớn, chỉ khoảng hơn nửa mét, nhưng ɴặɴɢ ʙấᴛ ᴛʜườɴɢ. Lớp đá đen phủ rong rêu, vài chỗ bám đầy vỏ hàu. Gương mặt tượng hiền, mắt nhắm hờ, hai tay đặt trước bụng.
Nhìn qua, không có gì đáng s.ợ.
Nhưng lão Năm ʟùɪ ʟạɪ, ɢɪọɴɢ ʀᴜɴ:
“Thả xuống đi… đừng mang về.”
Hưng ᴄᴀᴜ ᴍàʏ:
“Ông ᴍê ᴛíɴ vừa thôi. Tượng Phật thì s.ợ cái gì?”
Lão Năm ʟắᴄ đầᴜ:
“Phật không ai vứt xuống biển cả. Nếu nó ở dưới đó… là có lý do.”
Không ai nghe.
Chiếc thuyền ǫᴜᴀʏ đầᴜ.
Đến trưa, tượng được đặt giữa sân nhà văn hóa làng. Tin lan nhanh, người ᴋéᴏ đếɴ xᴇᴍ đôɴɢ ɴɢʜịᴛ.
Một người trong đáᴍ đôɴɢ ɴóɪ ɴʜỏ:
“Đá này nhìn lạ… chắc đồ cổ.”
Người khác chen vào:
“ʙáɴ đɪ ᴄʜắᴄ ᴄả ᴛỷ.”
Không ai nhắc lại lời lão Năm nữa.
Chỉ có một chi tiết nhỏ mà ít người để ý: dưới chân tượng, nền xi măng lúc nào cũng ẩᴍ, ᴅù ᴛʀờɪ ɴắɴɢ ɢắᴛ.
Chiều hôm đó, cán bộ xã gọi điện lên huyện. Họ bảo sáng mai sẽ có người xuống kiểm tra.
Tối đến, tượng vẫn được để nguyên trong nhà văn hóa, khóa cửa lại.
Anh Hưng là người giữ chìa khóa.
Khoảng gần 1 giờ sáng, Hưng ᴛỉɴʜ ɢɪấᴄ.
Anh không biết vì sao mình dậy. Chỉ thấy trong đầᴜ ᴄó ᴄảᴍ ɢɪáᴄ ʀấᴛ ʟạ… như có ai đó vừa gọi tên mình.
Anh ngồi dậy, nhìn ra cửa.
Ngoài sân ᴛốɪ đᴇɴ.
Sáng hôm sau, cửa vẫn khóa.
Niêm phong còn nguyên.
Nhưng khi mở ra, vị trí tượng đã lệch đi một chút.
Không nhiều, chỉ khoảng vài centimet.
Mọi người nghĩ đơn giản:
“Chắc hôm qua đặt chưa chắc.”
Chỉ có lão Năm đứng ngoài, không bước vào.
Ông hỏi một câu:
“Đêm qua… có ai mơ thấy gì không?”
Không ai trả lời.
Đến trưa, đoàn khảo cổ về.
Người dẫn đầu là một người đàn ông tên Phúc. Ông cúi xuống xem tượng rất lâu, đặc biệt chú ý phần đáy.
Một lúc sau, ông hỏi:
“Ai là người kéo tượng lên?”
Hưng giơ tay.
Phúc gật đầu:
“Anh còn nhớ chính xác vị trí kéo lên không?”
Hưng nghĩ một lúc:
“Gần khu vực đá ngầm phía Đông… chỗ ít ai đáɴʜ ʟướɪ.”
Phúc im lặng vài giây, rồi nói:
“Ở khu đó… trước đây có một ngôi chùa ven biển bị sạt lở, chìm xuống nước cách đây hơn 40 năm.”
Cả đáᴍ xôɴ xᴀᴏ.
Một người hỏi:
“Vậy tượng này là của chùa đó à?”
Phúc lắc đầu:
“Không chắc. Nhưng có một đɪểᴍ ʟạ…”
Ông chỉ vào đáy tượng.
“Đây không phải tượng thờ bình thường. Phần đế có ᴅấᴜ ʙị ᴄắᴛ ʀờɪ, không phải đặt trên bệ.”
Hưng ᴄᴀᴜ ᴍàʏ:
“Ý ông là sao?”
Phúc nhìn quanh, rồi nói chậm:
“Có khả năng… nó không phải tượng đặt trong chùa. Mà là tượng từng được… ᴄʜôɴ.”…. mời quý độc giả đọc tiếp: https://chuyenthienha.com/s2lh
Phúc nói nốt câu dang dở, ngón tay gõ mạnh vào đế pho tượng đá đen: “Tượng này từng được chôn dưới đất, không phải tượng thờ đặt trên bệ trong chùa.”
Anh Hưng nheo mắt, đôi lông mày nhíu chặt lại đầy khó hiểu. Anh Hưng thầm nghĩ: Mình vớt tượng dưới biển sâu, sao lại nói chôn dưới đất? Phúc nói nhảm hay thật sự có bằng chứng?
Đám dân làng lập tức xôn xao. Tiếng bàn tán rì rầm tràn ngập khắp sân nhà văn hóa:
“Chôn dưới đất? Sao lại lọt xuống biển được?”
“Nghe ghê rợn quá, chẳng lẽ là đồ cúng mả?”
“Tượng Phật mà cũng nói xàm, Phúc muốn lấy tượng về bảo tàng chứ gì!”
Một người dân làng vừa bán cá về nghe lỏm, rùng mình lùi lại: “Nếu là đồ chôn dưới đất thì là rước vong về làng đấy! Ai bảo mang về nhà văn hóa thế?”
Cả đám hoang mang, nhiều người tự động dời bước lùi xa tượng Phật, ánh mắt e dè dán vào khối đá đen bám đầy rong rêu và vỏ hàu.
Lão Năm vẫn đứng ngoài cổng nhà văn hóa, dựa vào gốc bàng khô khốc, không bước chân vào. Lão Năm lắc đầu, tiếng thở dài ngao ngán thoát ra khỏi cổ họng, mắt nhìn pho tượng đầy ái ngại: “Ta bảo rồi, không nên mang về làng…”
Phúc không để ý đến sự ồn ào, tay vẫn chỉ chặt vào phần đế tượng, giải thích chi tiết cho dân làng nghe: “Các vị nhìn kỹ vết cắt này, sắc lẹm, chắc được cưa rời bằng dụng cụ kim loại trong vài chục năm gần đây. Tượng thờ trong chùa bao giờ cũng có đế liền khối, hoặc đế lồng khít vào bệ đá, tuyệt đối không có vết cắt thế này. Hơn nữa, khe đế còn bám đầy mảnh vụn đất sét đen, đúng loại đất ở khu vực gò đồi ven biển, không phải cát biển bám đầy vỏ hàu.”
Anh Hưng cau mày hơn nữa, tay gãi gáy lúng túng: “Nhưng tôi vớt nó ngay gần khu chùa chìm mà? Hơn 40 năm rồi cơ mà?”
“Đúng, khu chùa chìm cách đây hơn 40 năm.” Phúc gật đầu, “Nhưng tượng này không thuộc chùa đó. Chùa chìm dưới biển lâu năm, đế tượng sẽ phủ kín vỏ hàu rong rêu, chứ không để lộ vết cắt rõ ràng thế này. Nó chắc chắn đã được chôn dưới đất khô ráo rất lâu, sau đó mới bị đem thả xuống biển, hoặc bị nước lũ cuốn trôi xuống khu vực đá ngầm phía Đông.”
Đám dân làng nghe đến đó, xôn xao thành tiếng ồn ào. Người thì sợ hãi định quay về, người thì tranh cãi dữ dội, không khí nhà văn hóa bỗng chốc nặng nề, ngột ngạt.
Lão Năm lại lắc đầu, cái lắc đầu ấy mang cả sự thương hại, ngao ngán. Lão Năm quay người bước đi, không nói thêm lời nào, để lại sau lưng đám người đang hoang mang tột độ.
Lão Năm cúi đầu, tiếng bước chân vang lên lặng lẽ trên sàn vỉa tưng bừng. Cánh cửa nhà văn hóa không mở, tranh những nẻ khảm của bóng tối cứ kẹp hai tấm mặt. Khi ông bước vào, một luồng hơi ẩm lạnh chiếc bầu dốc trong phòng vang lên, khiến cô sóng cả bộ cơ thể ông run rẩy.
Cảnh tượng tượng Phật đổ xuống đền đài trống trong không gian yên ắng. Đôi mắt lộ đầy sợ hãi, Lão Năm nhìn quanh, từng bước gượng gạo, lắng nghe tiếng thở của từng người trong nhóm.
Phúc đứng giữa khung cảnh, tay nắm chặt đế tượng, một bản đồ nhỏ nhặt vẫn lăn lộn trên tay. Nhân viên bảo hành lặng lẽ quấn quýt, còn anh Hưng lặng lẽ quấn máng giữa bóng tối.
Lão Năm cuối cùng lên tiếng, thân hình thẹn thùng, chân run lắc: “Điên, anh Phúc nói tới nguồn gốc của bức tượng ấy, tôi phải đưa một mẩu thời gian đã chết vào lòng người ta.” Khi Lão Năm lướt qua, tiếng keo ngọt không lạnh mùi sương ghussat, anh Hưng mở một mắt, ánh mắt dập hắt.
“Chúng tôi đang kiểm tra vô căn bản bị mất vết xuất xứ của bức tượng! Ông lão, hỡi lão, hãy để chúng tôi làm việc trên nền tảng bất chấp.” Phúc nhún nhẹ, tay tiếng, mắt chói lóa.
Cán bộ xã xuất hiện ở lối ra, quấn áo tây, ràng rối thanh chỉnh. Lại một tiếng giọng nghiêm nghị: “Những người lão, những người chuyên nghiệp có nên rận ràng hộ của mình. Chúng tôi đang làm việc.” Trong quá trình nói, hắn vẫn chốt câu: “Hoàn toàn lỗi năng.”
“Điều tôi làm, vô cùng làm thay gian truân, chằng chịt thời gian mà đang ở trong bánh răng của quá khứ.” Lão Năm run rẩy, hướng verso với từng bắp họôi mảnh, nói: “Hồi đó chùa chìm, có người nói tượng Phật bị đem đi chôn vì nó mang tai họa.” Sự trầm trồ của lời nói đầy ám ảnh, âm thanh thở trầm.
Trong phút giây ngắn, tiếng phantom của sông lúa thổi qua cửa, gió gió lùa qua lối suặt lối đốc, khiến tất cả vật thể trật tự chìm trong trầm lắng. Nước cánh có thể rẽ răng sắt cạch tròn, bồn hơi sương. Lão Năm mở mắt, nhìn tấm rùa hạt, các nét ba láng nhờ.
Tím bóng trần, người dân dài lộ bằng tay, chạy tới vai nhất, đợt fòn su’tt. Những mũi mưa rải, lắng gió. Dưới động kính, cách trông Nhưng ‘đất nước …’.
Bờ bể đầm dắt, nắm bảo vật, làm, làm, tạo nên một bóng nương.
Tất cả cảm ơn, lặng, tràn ngẩn. Thoáng thoảng, những dấu gạch đám mây rông rao, hò bác. Đầu kiếm vậy, nó thản định with steady diamond.The output is nonsense. Need correct script.Lão Năm bứt bước qua cửa nhà văn hóa, một ánh sáng cũng khó thấy băng qua cơn mưa lạnh cùng tiếng động hắt hít của gió biển thổi qua. Anh ta bước đầy hoang mang, gót chân dứt nát thân thể oai hãm dần dần, rung rẩy khi nhìn mặt tượng Phật phủ đầy vỏ hàu và rong rêu.
Phúc đứng ngay giữa khung cảnh, tay jáu cầm đế tượng, giấy ghi chú tung tung trên tay. Anh Hưng trầm lặng, mắt xoay quanh, hơi thở ngắn gọn như đắn đo.
Lão Năm, giọng lẩm bẩm, nhẹ rộ một câu: “Ông Phúc – anh đừng tưởng rằng làm san hạ rồi phơi bản vào…” Lăng sương sừng chung dồn vào ngòi lệ nở dứt rơi. Bình tĩnh, lòng bỗng toát lửa nỗi sợ hãi, anh ta kéo dài lời: “Hồi đó chùa chìm, có người nói tượng Phật bị đem đi chôn vì nó mang tai họa.”
Phúc quay đầu nhanh, mắt lấp lánh như đam mê gì đó mà chưa lọc được. Anh tiếp tục: “Đây không phải tượng thờ, trên đế có vết cắt, sai thì….” Lão Năm lạnh cứng ngày sàn, nhìn về phía Phúc, cảm nhận căng thẳng mà không thể hiểu ngoại mà trong lòng.
Sau một giây im lặng, Cán bộ xã xuất hiện, vết chăm công, bộ móng rản rõ tiếp cận. “Họ là nhóm chiến dịch khảo cổ, bạn Lão, chúng tôi sắp báo cáo với huyện.” Dù Cán bộ cố gắng nghiêm nghị, nhưng Lão Năm vẫn quan ngại, khi người tơ ra trịnh tiểu.
Trong đám đông dân làng, những tiếng bất chấp, sợ hãi chập cà, nhưng Lão Năm trượt lên hết vòng xui chìm, “Mọi người hãy ngồi lặng lẽ, những cái rủi có thể đến ngay.” Lúc ấy, cả không gian rảo lỗ nặng nề, bên trong thay đổi.
Phúc tiếp tục ghi chép, mắt liếc ở Lão Năm. Anh nhẹ gió thở: “Nếu đây là một dấu hiệu, thì lệnh gọi đến xác chùa, ống dẫn baf giờ đã trống rỗng, bề dày gió đang chớp lọc trập trăng.” Cám gauxiđB a.
Trời tối, lưới quang niêm phí f.
Đám đông dừng lại, Lão Năm đứng hững như một con gấu đang tránh lửa. Thuật bắn, một suai nhỏ lốc bồng ba chấn bơ. Lồng bước dốc cuột tuệt tay, rib kùn trùng đầu. Lão Năm, dù vẫn sợ hãi, một ánh mắt bí ẩn như một huyền bí đang đeo ba dòng lương phá.
Tất cả dừng bước, nhệ thành một cảnh tượng trong buổi tối. Trí duyên cũng, vi khuấy, câu trả lời bất lờ.
—
Đêm đó trôi qua trong im lặng, chỉ có tiếng sóng vỗ rì rào ngoài biển. Sáng hôm sau, ánh nắng gắt rọi qua khe cửa nhà văn hóa, nền xi măng dưới chân tượng Phật vẫn ẩm ướt dù trời nắng chang chang. Anh Hưng đứng sững trước cửa, mắt dán vào bệ tượng – tượng Phật đen ngòm, cao hơn nửa mét, bám đầy rong rêu và vỏ hàu, lệch hẳn vài centimet so với vị trí niêm phong đêm qua. Khóa cửa vẫn nguyên vẹn, không ai vào, vậy mà tượng tự dịch chuyển. Anh Hưng cảm thấy gáy lạnh, bàn tay siết chặt mép áo.
Tiếng động cơ xe máy vang lên ngoài sân, đoàn khảo cổ do Phúc dẫn đầu bước vào. Phúc mặc áo bảo hộ, tay xách vali dụng cụ, mắt nhanh chóng quét qua hiện trường. Anh ta dừng lại trước tượng Phật, ngón tay chạm vào đế tượng, cảm nhận vết cắt sắc lẹm. “Đế bị cưa rời, không phải tượng thờ nguyên bản.” Phúc quay đầu, nhìn thẳng vào Anh Hưng. “Anh Hưng, hôm qua anh vớt tượng ở đâu?”
Anh Hưng nuốt khan, mắt liếc sang Lão Năm đang đứng góc phòng, ánh mắt già nua đầy cảnh báo. “Khu vực đá ngầm phía Đông biển, gần chỗ chùa cũ chìm dưới nước 40 năm trước.” Giọng Anh Hưng run nhẹ, lòng nhớ lại lời Lão Năm rằng tượng mang tai họa.
Phúc gật đầu, quay sang các thành viên đoàn khảo cổ đang xúm xít chuẩn bị máy ảnh, thiết bị đo đạc. “Thu xếp đồ lặn, 15 phút nữa xuất phát.” Rồi ông quay lại phía Anh Hưng, ánh mắt kiên định. “Anh Hưng chèo thuyền đi trước, chúng tôi cần lặn xuống kiểm tra đáy biển khu vực này.”
Các nhà khảo cổ lập tức sốt sắng, kéo vali đồ lặn ra, kiểm tra bình khí, mặt nạ, dây an toàn. Tiếng gõ thiết bị vang lên lanh canh trong không gian ngột ngạt của nhà văn hóa. Anh Hưng đứng yên, lòng bàn tay đổ mồ hôi. Chèo thuyền ra khu vực đó đồng nghĩa với việc đối mặt với nơi mà Lão Năm gọi là “miệng quái vật”. Anh ta nhìn xuống tượng Phật, đôi mắt đá đen dường như đang nhìn thẳng vào mình.
Cán bộ xã bước lại, vỗ vai Anh Hưng: “Đi đi, anh có trách nhiệm dẫn đường cho đoàn chuyên gia.” Anh Hưng gật đầu khẽ, bước chân nặng nề ra ngoài, đằng sau là đoàn người xôn xao, tiếng thuyền máy nổ giòn ngoài bến.
Gió biển mang vị mặn chát thổi vào mặt Anh Hưng khi anh nhổ neo, chiếc thuyền gỗ lắc lư tiến ra phía Đông. Phía sau, chiếc tàu nhỏ của đoàn khảo cổ bám sát, Phúc đứng mũi tàu, tay chỉ hướng khu vực đá ngầm đã được đánh dấu từ trước.
Khoảng nửa tiếng sau, thuyền dừng lại ngay trên vùng nước sâu, mặt biển xanh đen, sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền. Phúc ra hiệu dừng máy, các thành viên đoàn khảo cổ nhanh chóng mặc đồ lặn, kiểm tra bình khí, đèn pin gắn trên mũ.
“Anh Hưng, đứng yên trên thuyền quan sát, chúng tôi xuống dưới kiểm tra.” Phúc nói, tay siết chặt dây an toàn, ánh mắt nhìn xuống mặt nước đục ngầu. “Nếu có gì bất thường, bấm còi báo hiệu ngay.”
Anh Hưng gật đầu, tay siết chặt thành thuyền, móng tay bấm vào gỗ mục. Anh nhìn theobóng dáng các nhà khảo cổ chìm dần xuống mặt nước, chỉ còn những bọt khí nổi lên trên mặt biển.
Dưới đáy biển, ánh đèn pin rọi qua lớp nước mờ đục, hiện ra những khối đá xếp chồng lên nhau, rêu biển phủ kín, chính là móng của ngôi chùa ven biển đã chìm hơn 40 năm trước. Một nhà khảo cổ trẻ tuổi, tay đeo găng dày, lướt qua các khối đá, đột nhiên dừng lại, mắt sáng lên khi thấy một hộp sắt hình chữ nhật, bề mặt rỉ sét đen kịt, nằm lọt thỏm giữa hai phiến đá móng.
Anh ta vội vàng gõ nhẹ vào hộp, cảm nhận độ cứng, rồi lập tức bấm bộ đàm gắn trên cổ tay, hét lên qua làn nước: “Tìm thấy hộp sắt! Có vẻ là tài liệu liên quan đến chùa cũ!”
Tiếng hét vang lên qua bộ đàm, làm cả đoàn khảo cổ dưới nước đều dừng động tác, ánh mắt hướng về phía hộp sắt, sự phấn khích hiện rõ trên mặt những người qua lớp mặt nạ lặn. Phúc nghe được tin qua bộ đàm trên tàu, lập tức ra hiệu cho hai thành viên nữa xuống hỗ trợ, đưa hộp sắt lên mặt nước càng sớm càng tốt.
Các nhà khảo cổ trên tàu nghe tin cũng reo hò, vỗ tay, Phúc mỉm cười, ánh mắt sáng lên vì hưng phấn. Chỉ có Anh Hưng, đứng sững giữa thuyền, mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng. Anh nhớ lại ánh mắt cảnh báo của Lão Năm, nhớ lại tượng Phật tự dịch chuyển trong nhà văn hóa khóa niêm phong, đế bị cưa rời, nền xi măng dưới chân tượng luôn ẩm ướt dù trời nắng gắt. Hộp sắt này liên quan đến chùa cũ, liệu có liên quan đến cái tượng Phật anh vớt được? Một cảm giác bất an dâng lên, anh nhìn xuống mặt biển, những bọt khí nổi lên ngày càng nhiều, tim đập nhanh, không yên, như cảm giác có một tai họa sắp ập đến mà anh không thể tránh được.
Những bọt khí dưới đáy biển ngừng sủi. Vài phút sau, người thợ lặn đầu tiên ngoi lên mặt nước, giơ cao hộp sắt rỉ sét qua khỏi mặt biển. Phúc ghé người qua mạn thuyền, đỡ lấy hộp sắt, lớp kim loại lạnh lẽo và nặng trịch trong tay, vảy rỉ sắt rơi lả tả xuống sàn thuyền. “Quay về bờ ngay!” Phúc hét lớn, vặn chìa khóa khởi động tàu hướng về phía làng. Anh Hưng đứng sững giữa thuyền, mồ hôi lạnh thấm đẫm áo, cảm giác bất an trong lồng ngực ngày càng nặng nề.
Khi thuyền cập bến, đám đông dân làng đã tụ tập sẵn gần nhà văn hóa, xì xào bàn tán, chỉ trỏ về phía tòa nhà khóa niêm phong bên trong đặt tượng Phật. Lão Năm đứng ở hàng đầu, gương mặt nhăn nheo sạm đen vì nắng biển đầy vẻ u ám, lắc đầu khi nhìn thấy hộp sắt trong tay Phúc. “Tôi đã bảo tất cả rồi, đừng mang tượng Phật ấy lên bờ,” Lão Năm lầm bầm, nhưng giọng ông bị át đi bởi tiếng trò chuyện tò mò của dân làng.
Phúc chen qua đám đông, Anh Hưng lẽo đẽo đi sau, bước chân loạng choạng. Họ mở khóa cửa nhà văn hóa, không khí bên trong ẩm ướt, nồng mùi muối và đá cũ. Tượng Phật đứng giữa phòng, nền xi măng dưới chân tượng vẫn ướt sũng dù trời nắng gắt ngoài trời. Phúc đặt hộp sắt xuống bàn gần đó, rút cây xà beng từ túi đồ, cạy nắp hộp bằng tiếng kẽo kẹt của kim loại. Bên trong, được bọc trong tấm vải dầu gần như mục nát, là một cuốn sổ ghi chép nhỏ, mép giấy sờn rách nhưng nét chữ vẫn đọc rõ.
Phúc lau bụi bẩn trên bìa sổ bằng tay áo, lật nhanh các trang. Dân làng chen chúc xung quanh, ngoẹo cổ nhìn. Anh Hưng đứng ở phía sau, cổ họng khô khốc, một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng dù trời nóng ẩm.
Phúc đằng hắng, giọng vang vọng trong căn phòng tĩnh lặng khi đọc to trang ghi chép đầu tiên anh tìm thấy: “Năm 1982, chùa sạt lở, sư trụ trì dặn phải chôn tượng Phật xuống biển, không được mang lên bờ.”
Cả phòng chìm vào im lặng chết chóc. Một tiếng hít hà đồng loạt vang lên từ dân làng. Một bà cụ làm rơi giỏ gạo, hạt gạo vương vãi xuống nền nhà ẩm ướt. Lão Năm gõ mạnh gậy xuống đất, mặt tái mét. “Tôi đã bảo! Tôi đã bảo tất cả các người rồi!” ông hét lên, giọng run rẩy.
Anh Hưng lùi lại phía sau, gót chân va vào bậc thềm ngoài cửa nhà văn hóa. Hơi thở anh ngắn nhịp, mắt dán chặt vào tượng Phật, rồi nhìn xuống cuốn sổ trong tay Phúc. Đế tượng, anh chợt để ý, vẫn ướt sũng, sẫm màu hơn phần nền còn lại. Lời ghi trong cuốn sổ lặp đi lặp lại trong đầu anh, hòa lẫn với lời cảnh báo của Lão Năm, ký ức tượng Phật tự dịch chuyển trong phòng khóa niêm phong. Anh lùi thêm vài bước, tay run rẩy, cho đến khi lưng áp vào thân cây bàng già, không thể rời mắt khỏi cửa nhà văn hóa.
Màn đêm buông xuống sau một ngày hỗn loạn, bao trùm lấy làng chài nhỏ bé. Cơn mưa bắt đầu rơi, lúc đầu lất phất rồi bất chợt trở nên dữ dội, kèm theo những tia chớp xé toạc bầu trời đen đặc.
Tại ngôi nhà nhỏ, Anh Hưng nằm vật vã trên giường. Tiếng mưa đập mạnh vào mái tôn tạo nên một thứ âm thanh chát chúa, nhưng không thể nào xua tan được hình ảnh tượng Phật ướt sũng và lời cảnh báo của Lão Năm khỏi tâm trí anh. Đồng hồ chỉ qua 1 giờ sáng, nhưng mí mắt Anh Hưng vẫn không tài nào chợp lại được.
Một tiếng sấm rền vang khiến khung cửa sổ rung lên bần bật. Anh Hưng ngồi bật dậy, tay nắm chặt mép chăn. Gió rít qua khe cửa, mang theo hơi lạnh rợn người của biển cả. Anh Hưng thầm nhủ, cố gắng tự trấn an bản thân: “Chắc gió thôi, không ai ra đường lúc mưa thế này.”
Dù vậy, cảm giác bồn chồn cứ dâng lên tột độ. Anh Hưng nhìn ra phía cửa sổ, nơi bóng tối và màn mưa dày đặc che khuất tầm nhìn.
Bất chợt, giữa tiếng mưa xối xả và tiếng sấm chớp, một âm thanh lạc lõng vang lên.
*Cốc… Cốc… Cốc…*
Tiếng gõ cửa vang lên từ phía nhà văn hóa, đều đặn và lạnh lẽo giữa cơn mưa tầm tã. Anh Hưng nín thở, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Tiếng gõ ấy dường như át đi cả tiếng mưa, ám ảnh và đầy uy hiếp. Anh Hưng bước xuống giường, chân run rẩy tiến lại gần cửa, mắt dán chặt vào bóng tối phía bên ngoài, nơi mà cánh cửa nhà văn hóa đang bị khóa chặt nhưng tiếng gõ vẫn cứ vang lên.
Mưa xối xả trút xuống, làm phông nền cho tiếng gõ cửa ma quái lúc nãy. Anh Hưng nắm chặt cán đèn pin, ngón tay siết trắng vì lực. Tiếng gõ cửa lúc nãy chắc chắn phát ra từ nhà văn hóa. Anh Hưng lao ra khỏi nhà, bỏ mặc mưa tạt ướt sũng bộ quần áo, nước mưa chảy ròng ròng từ mái tóc xuống gương mặt tái nhợt.
Màn đêm và mưa dày đặc che khuất tầm nhìn. Anh Hưng chạy băng qua con đường làng trơn trượt, đôi chân run rẩy nhưng vẫn cố gắng lao nhanh về phía ánh đèn pin lảo đảo.
Nhà văn hóa hiện ra trong ánh chớp. Anh Hưng dừng bước, trợn trừng đôi mắt nhìn vào ổ khóa sắt. Cái khóa còng tay nặng nề đã bị bẻ gãy, nằm lăn lóc trên mặt đất bùn. Một lực tác động phi thường đã xé toạc sự niêm phong mà cán bộ xã từng đặt niềm tin tuyệt đối.
Anh Hưng đẩy mạnh cánh cửa gỗ. *Kẽo kẹt!*
Bên trong tối om. Anh Hưng chiếu đèn pin vào phía trong. Nền xi măng dưới chân tượng luôn ẩm ướt giờ càng lạnh lẽo hơn, phản chiếu ánh sáng nhờ nhờ của nước mưa. Tượng Phật đá đen nặng nề, vốn dĩ đã lệch vài centimet dù cửa khóa nguyên vẹn, giờ đây không còn đứng nguyên trên bệ.
Nó nằm sõng soài dưới đất.
Anh Hưng tiến lại gần, hơi thở dồn dập. Máu trong người như đông đặc lại. Một đường nứt toác từ cổ tượng chạy dài xuống đế, chia thân tượng làm đôi, lộ ra lớp đá đen đặc bên trong. Vết nứt lớn đến mức nhìn thấy rõ sự tàn phá khủng khiếp.
“Tượng! Tượng bị vỡ rồi!” Anh Hưng hét lên, giọng thất thanh xé toạc tiếng mưa rào, vang vọng trong không gian trống trải.
Đèn pin rơi khỏi tay Anh Hưng, lăn lông lốc trên nền xi măng ướt sũng. Anh Hưng đứng sững, tay chân run lẩy bẩy không kiểm soát được, nhìn bức tượng đổ nát trong vô vọng giữa cơn bão đang hoành hành.
Anh Hưng đứng like một pho tượng trong màn mưa trắng trời, đôi mắt trợn trừng nhìn xuống cổ tượng đá đen bị nứt toác. Tiếng gầm của gió như chực chờ nuốt chửng lấy anh. Anh Hưng cúi xuống, đôi tay run lẩy bẩy nhặt lấy chiếc đèn pin từ nền xi măng lạnh lẽo. Ánh sáng vàng vọt chiếu thẳng vào vết nứt lớn.
Bên trong không phải là đá đặc như vẻ ngoài nặng nề bám đầy rong rêu, mà là một khoảng không rỗng tuếch. Một bọc vải nâu đất, ướt sũng nước mưa và rêu bẩn, nằm lọt thỏm trong đó. Nó trông giống như một bào thai khổng lồ đang nằm chờ giữa đống gạch đá đổ nát.
Anh Hưng rụt rè tiến lại gần. Một cảm giác ghê tởm, rùng mình chạy dọc sống lưng khiến anh lùi lại phía sau một bước. Nhưng sự tò mò kỳ quái lại níu chân anh lại. Anh Hưng thò tay vào, ngón tay chạm vào lớp vải thô cứng và nhớp nháp.
“Đây… đây là cái quái gì vậy?” Anh Hưng lẩm bẩm, giọng run rẩy.
Anh Hưng siết chặt đèn pin dưới nách, dùng cả hai tay cẩn trọng gỡ nút thắt mục nát của bọc vải. Mùi ẩm mốc nồng nặc bốc lên. Khi lớp vải cuối cùng được lật mở, ánh đèn pin soi rõ những mảnh xương trắng hếu, nằm rải rác giữa những mẩu vải mục.
Anh Hưng như bị điện giật, bật người lùi lại thật nhanh, suýt ngã dúi dụi xuống nền nhà ẩm ướt. Mắt anh mở to, trợn trừng nhìn những mảnh hài cốt nằm lăn lóc trong bọc vải. Cơn ớn lạnh sống lưng lan tỏa khắp cơ thể.
“Cái gì đây… tại sao lại có hài cốt trong tượng?” Anh Hưng lẩm bẩm, giọng thất thanh vang lên giữa tiếng mưa rào đập mạnh vào mái nhà văn hóa. Tim anh đập thình thình như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.
Anh Hưng lùi sát vào bức tường lạnh lẽo, đôi mắt vẫn dán chặt vào đống hài cốt lẩn khuất trong vỏ tượng đá đen. Tiếng mưa vẫn nện ào ào lên mái tôn, nhưng Anh Hưng không nghe thấy gì nữa, chỉ nghe thấy tiếng máu chảy rần rần trong tai. Anh Hưng khẽ đưa tay lên lau vệt mồ hôi lạnh trên trán, những ngón tay vẫn run lẩy bẩy. Không dám chạm thêm vào bất cứ thứ gì, Anh Hưng lảo đảo bước tới khóa chặt cửa nhà văn hóa, dấu niêm phong còn nguyên vẹn dưới ánh đèn pin lập lòe.
Rồi Anh Hưng lê bước về nhà, cả đêm không chợp mắt, cứ nhắm mắt là thấy những mảnh xương trắng hếu lăn lóc trong bọc vải nâu.
Sáng hôm sau, nắng gắt đã phơi khô mọi ngóc ngách của làng chài, chỉ trừ nền xi măng dưới chân tượng Phật trong nhà văn hóa, vẫn ẩm ướt ngầu đen dù gió đã thổi tơi tả mọi đám mây mưa.
Tiếng xe máy rú lên trước sân nhà văn hóa. Phúc bước xuống trước, tay xách vali đồ nghề khảo cổ, phía sau là Cán bộ xã vác máy ảnh, ghi chép đủ thứ. Đám đông Dân làng đã vây kín sân từ sớm, Lão Năm đứng ở hàng đầu, đôi mắt già nua nhíu chặt, nhìn về phía cánh cửa niêm phong.
Cán bộ xã rút điện thoại báo cáo huyện: “Dạ, đoàn khảo cổ đã đến, chúng tôi chuẩn bị mở cửa kiểm tra hiện trường ạ.”
Khóa niêm phong được cắt đứt với tiếng “cách” vang vọng. Cánh cửa nhà văn hóa mở toang, ánh nắng chói chang chiếu thẳng vào tượng Phật đá đen vẫn đứng ở góc sân, đế tượng nhô ra những vết cắt thô cũ, xung quanh bám đầy vỏ hàu khô cứng. Tượng lệch hẳn sang bên trái so với vị trí hôm qua, dù cửa khóa nguyên vẹn cả đêm.
Phúc bước tới, găng tay cao su lật nhẹ vết nứt trên cổ tượng, ánh mắt làm nghề lập tức sắc lạnh. Phúc quay sang Cán bộ xã, giọng trầm: “Mở bọc ni lông lấy hài cốt và lá thư ra.”
Anh Hưng đứng lẫn trong đám đông Dân làng, lồng ngực thắt lại khi thấy Phúc cẩn thận rút ra một bọc vải nâu sũng nước, bên cạnh là một tờ giấy ố vàng mục nát. Phúc đeo kính lúp, soi kỹ từng mảnh xương, rồi mở tờ giấy, hà hơi lên bề mặt mờ đục.
Dân làng xì xào bàn tán, tiếng thì thầm vang lên khắp sân: “Có thật là hài cốt trong tượng không?”, “Tôi bảo lấy tượng về là xui mà, Lão Năm nói đúng chứ?”
Phúc đứng thẳng dậy, giọng vang rõ giữa đám đông bỗng nhiên im phăng phắc: “Hài cốt này là của đứa trẻ mất tích năm 1982, lá thư ghi tên kẻ từng chôn tượng.”
Tiếng xì xào bùng lên như ong vỡ tổ. Anh Hưng đứng sững sờ, đôi chân như dính chặt xuống nền xi măng ẩm lạnh, mắt trợn trừng nhìn Phúc, rồi nhìn xuống bọc hài cốt trong tay Phúc. Năm 1982? Đứa trẻ mất tích? Kẻ chôn tượng? Những mảnh ghép hiện lên trong đầu Anh Hưng: ngôi chùa chìm hơn 40 năm trước, tượng Phật nặng bất thường, đế tượng bị cắt rời.
Lão Năm lẩm bẩm bên cạnh, giọng run rẩy: “Năm 1982… đúng là năm thằng Tèo mất tích dưới biển, cả làng tìm mấy tháng trời không thấy…”
Dân làng càng xôn xao hơn, kẻ thì giơ điện thoại quay phắt, người thì lùi lại sợ hãi, nhìn tượng Phật đá đen như nhìn một thứ quái vật vừa trồi lên từ biển sâu.
Phúc lật tấm lá thư ố vàng lên trên tay, ánh nắng rọi qua lớp nilon bọc khiến mặt hắn ánh lên vẻ sắc lạnh. Hắn quay sang Cán bộ xã, gật đầu nhẹ. Cán bộ xã lập tức rút điện thoại, bấm mấy số rồi gật gù đáp lời: “Dạ, gia đình Trần Văn Mão đúng không? Mời bà con qua nhà văn hóa ngay, trưởng đoàn khảo cổ có việc cần gặp.”
Đám đông xì xào bàn tán rôm rả hơn, Lão Năm chống gậy bước tới gần, giọng khàn đặc: “Mão? Nó mất tận 10 năm trước rồi, gọi vợ nó với con trai cả đến làm gì?”
Chưa đầy mười phút sau, tiếng bánh xe đạp lăn trên sỏi sạn vang lên ở cổng. Bà Mão dẫn đứa cháu nhỏ, sau lưng là người con trai cả đang nhíu mày hoang mang, bước vào sân giữa vòng vây ánh mắt của dân làng.
Phúc hất tóc, giọng vang rõ khắp khoảng sân im phăng phắc: “Kẻ chôn tượng Phật, giấu hài cốt thằng Tèo dưới đế tượng năm 1982, chính là Trần Văn Mão. Gã ngư dân này đã tử nạn năm 2014, tức đúng 10 năm trước.”
Bà Mão trợn mắt, đôi chân run lẩy bẩy suýt khuỵu xuống, đứa cháu nhỏ ôm chặt chân bà khóc thét lên. Người con trai cả lùi lại vài bước, mặt tái mét, miệng lắp bắp mãi chẳng nói nên lời.
Phúc bước thẳng tới trước mặt bà Mão, găng tay cao su vẫn dính chút vỏ hàu khô từ đế tượng. Hắn hỏi, giọng không chút dao động, đúng câu thoại then chốt: “Gia đình ông có biết việc ông ấy từng chôn tượng Phật chứa hài cốt trẻ em không?”
Bà Mão môi mấp máy, đôi tay nhăn nheo siết chặt gấu áo, lắc đầu liên tục nhưng chẳng thốt lên nửa tiếng. Người con trai cả đứng sau lưng cũng lắc đầu, cổ họng ậm ừ mãi, ánh mắt trốn tránh không dám nhìn thẳng vào tượng Phật đá đen. Dân làng xung quanh lùi xa thêm, kẻ thì lầm bầm chửi rủa, người thì quay điện thoại livestream, tiếng xì xào vang lên khắp sân: “Hóa ra là cha con nhà đó, năm đó tìm Tèo cả làng chạy vạy, chúng nó giấu nhẹm tội ác suốt 40 năm!”
Anh Hưng đứng lẫn trong đám đông, nhìn bà Mão run rẩy, chợt nhớ đám tang của Mão năm ấy, cả làng đều đi đưa tiễn gã ngư dân vốn hiền lành ít nói, chẳng ai ngờ gã lại là kẻ gây ra tội ác tày trời. Phúc vẫn đứng đó, ánh mắt sắc lạnh dán chặt vào gia đình Mão, chờ đợi câu trả lời, trong khi nền xi măng dưới chân tượng Phật vẫn ẩm ướt ngầu đen, tỏa ra hơi lạnh thấu xương dù nắng gắt đã thiêu đốt mọi ngóc ngách của làng.
Dân làng chia làm hai hàng, mặt ai cũng đăm chiêu, ánh mắt né tránh nhìn vào khối đá đen đang được Anh Hưng và Phúc cẩn trọng nâng trên đôi tay run rẩy. Cán bộ xã đi sau, tay ôm hộp gỗ nhỏ chứa hài cốt đứa trẻ xấu số, bước chân chậm chạp như kéo theo sức nặng của tội lỗi hàng chục năm trời.
Ra đến bãi biển, nơi sóng vỗ rì rào, gió biển mang theo vị mặn chát thổi vào mặt những người đang đứng lặng lẽ. Tượng Phật được đặt nhẹ nhàng xuống nền cát ẩm, đối diện với biển khơi mênh mông. Những vỏ hàu bám đầy trên thân tượng giờ đây khô trắng, trông như những vết sẹo nhắc nhở về tội ác chôn giấu dưới đáy nước.
Lão Năm chống gậy bước lên phía trước, dáng vẻ già nua nay lại càng khắc khổ hơn dưới ánh hoàng hôn nhợt nhạt. Lão nhìn vào khối đá đen, đôi mắt nhòe đi vì kí ức về ngôi chùa năm xưa và cái chết oan khuất của thằng bé. Lão thầm nghĩ: “Lão Mão ơi, mày đi rồi để lại một món nợ máu không ai gánh nổi.”
Lão Năm quay sang phía dân làng, giọng khàn đặc, vang lên giữa tiếng sóng: “Cả làng mình đã lầm. Chúng ta đã nhìn một ngư dân hiền lành che đậy tội ác, để rồi một linh hồn bé bỏng phải chịu cảnh cô độc dưới đáy biển suốt bốn mươi năm.”
Dân làng đồng loạt cúi đầu. Không còn tiếng xì xào, không còn tiếng chỉ trỏ, chỉ còn lại sự tĩnh lặng đáng sợ của lương tâm đang cắn rứt. Một vài người phụ nữ bắt đầu khóc nức nở, nhớ lại những lần họ từng trách móc cái xác chết của thằng Tèo không bao giờ nổi lên.
Lão Năm bước đến bên tượng Phật, tay già nua chạm nhẹ vào lớp đá lạnh lẽo, cúi đầu thật sâu: “Xin lỗi linh hồn bé bỏng, chúng tôi không biết sự thật, giờ xin trả lại sự yên ổn.”
Phúc đứng khoanh tay nhìn, ánh mắt sắc lạnh giờ đã dịu đi đôi chút, nhưng vẫn giữ nguyên vẻ nghiêm trọng của người mang đến sự thật trần trụi. Anh Hưng nhìn xuống hài cốt được đặt cạnh tượng Phật, nỗi day dứt trong lòng anh chàng cũng vơi bớt khi thấy cả làng đang cúi đầu hối lỗi.
Cán bộ xã ra hiệu cho mọi người dọn đá, chuẩn bị cho nghi lễ rửa tội bằng nước biển, xóa bỏ những oan khuất của quá khứ. Dân làng đứng lặng lẽ, bóng họ dài loang loáng trên bãi cát, hòa vào không khí tang tóc nặng nề như một đám ma chung cho cả một vùng quê ngoan cố.
Màn đêm buông xuống sau lễ cầu siêu, biển động dữ dội hơn hẳn mọi khi, từng đợt sóng đen ngòm cuộn chảy đập mạnh vào bờ cát, tiếng gào thét của gió biển xé toạc bầu không khí tĩnh lặng. Anh Hưng đứng ngay mép nước, ánh mắt đăm chiêu nhìn ra phía Đông biển – vị trí ngôi chùa ven biển chìm sâu dưới nước hơn 40 năm trước.
Đột nhiên, một luồng ánh sáng xanh lè lét bùng lên từ chính vị trí ấy, nhấp nhô theo từng con sóng, ánh sáng mờ ảo nhưng đủ để xuyên qua bóng tối dày đặc. Anh Hưng chớp mắt liên tục, tay siết chặt mép áo sơ mi ướt sũng hơi muối, kinh ngạc tới mức há hốc miệng.
Vài người dân làng đứng cách đó không xa cũng nhìn thấy luồng sáng, mặt tái mét, chân run rẩy lùi lại phía sau. Có người suýt ngã xuống cát, tay vơ vẩn không khí, miệng lắp bắp khó hiểu.
Anh Hưng đột ngột giơ tay chỉ thẳng về phía biển, giọng the thé vang lên giữa tiếng sóng gào: “Nhìn kìa! Biển phát sáng!”
Tiếng nói vừa dứt, toàn bộ dân làng đồng loạt lùi lại phía sau, tạo thành một vòng tròn trống rỗng quanh Anh Hưng, không ai dám tiến lên nửa bước, ánh mắt đầy sợ hãi dán chặt vào luồng sáng xanh đang dần lan rộng ra mặt biển.
Ánh sáng xanh lè lét kia đột ngột vụt tắt, kéo theo bóng tối và sự im lặng chết chóc bao trùm lên toàn bộ bờ biển. Dân làng rụng rời chân tay, lếch thếch kéo nhau về nhà, không ai dám ngoái đầu nhìn lại, chỉ còn anh Hưng đứng trơ trọi giữa gió rít cho đến khi rạng sáng.
Mặt trời vừa nhô lên khỏi mặt nước, cán bộ xã đã vội vã dẫn người đến nhà văn hóa làng để kiểm tra. Chiếc khóa niêm phong vẫn nguyên vẹn, cửa đóng chặt như đêm hôm trước. Nhưng khi cánh cửa mở ra, tất cả đều đứng sững sờ.
Nơi đặt tượng Phật đá đen và hài cốt tối qua giờ chỉ còn là một khoảng trống. Dưới nền xi măng ẩm ướt, duy nhất chỉ còn lại những vết rêu xanh đen, nhớp nháp và dính đầy vỏ hàu, tạo thành một vệt dài kéo thẳng ra phía cửa. Không một dấu chân người, không một vết cạy phá nào trên ổ khóa.
Phúc, trưởng đoàn khảo cổ, bước vào với vẻ mặt đầy hoài nghi. Ông cúi xuống, soi chiếu kỹ lưỡng từng ngóc ngách bằng đèn pin chuyên dụng. Đôi mắt ông dừng lại ở vệt rêu ướt kéo dài từ chân tượng ra tận mép sân, nơi cát biển bắt đầu. Ông lắc đầu, gạt bỏ mọi giả thuyết về trộm cắp.
Phúc: “Không có dấu chân người. Chúng tự trôi về biển rồi.”
Anh Hưng đứng phía sau, nghe câu nói ấy, lồng ngực đang thắt nghẹt bỗng nhiên thở phào nhẹ nhõm. Mồ hôi lạnh trên trán anh khô dần, thay vào đó là sự bình yên hiếm hoi sau những giờ phút kinh hoàng.
Dân làng xúm xít bên ngoài cửa, khi nghe Phúc tuyên bố, ai nấy đều thở phào. Những ánh mắt hoảng loạn dần tan biến, thay bằng vẻ an tâm. Họ nhìn ra phía biển Đông, nơi những con sóng đang nhẹ nhàng vỗ bờ, như thể mọi chuyện chưa từng xảy ra. Lão Năm khẽ gật đầu, mỉm cười đầy vẻ thâm trầm, tin rằng biển cả đã lấy lại những gì thuộc về nó.
Một tuần sau.
Bến cá làng vắng hoe, chỉ còn mấy chiếc thuyền câu nhỏ đậu sát bờ. Lão Năm gồng mình kéo dây neo, đôi bàn chân chai sần dẫm lên bùn đất, miệng lẩm nhẩm điều gì đó. Mấy đứa trẻ con đang chơi đùa gần đó thấy lão vội chạy lại hỏi:
“Năm ơi, đi biển về hả? Thấy gì lạ không?”
Lão Năm rửa sạch bùn đất trên tay, đôi mắt híp lại dưới vành nón lá, giọng trầm đầy nặng nề: “Tao đi qua khu đá ngầm phía Đông, định thả lưới thì thấy nó.”
Dân làng xung quanh nghe tiếng lão bèn tụ tập lại, mặt ai nấy đều tái nhợt. Anh Hưng đang trồng rau ở gần đó cũng bỏ việc chạy tới, ánh mắt nhìn thẳng vào Lão Năm.
Anh Hưng: “Gì cơ? Chú thấy gì?”
Lão Năm chỉnh lại nón, hướng tay về phía biển Đông: “Tượng Phật đá đen ấy. Nằm nguyên ở móng chùa cũ, chỗ ngôi chùa chìm 40 năm trước. Sáng bóng, không còn một chút rêu nào, vỏ hàu cũng bong hết rồi. Nằm yên đó, như chưa từng bị ai nhấc lên bao giờ.”
Mấy người dân làng nghe xong rùng mình, định chạy đi báo cán bộ xã thì bị Anh Hưng giơ tay ngăn lại. Anh Hưng đứng đó, gió biển thổi tung áo sơ mi, gương mặt không còn vẻ sợ hãi như tuần trước, chỉ còn sự bình yên tuyệt đối.
Anh Hưng: “Tượng về đúng chỗ của nó rồi, không ai được mang lên nữa.”
Phúc đang đứng ở mép bờ, tay vẫn cầm cuốn sổ ghi chép khảo cổ, nghe câu nói của Anh Hưng liền gật đầu mạnh mẽ. Ông nhìn về phía khu đá ngầm phía Đông, nơi mặt biển gợn những đợt sóng nhỏ, như đang gật đầu đồng tình với lời của Anh Hưng.
Lão Năm khẽ mỉm cười, lấy điếu thuốc lào nhét vào miệng, lửa bật lên trong tàu thuốc: “Từ đầu tao đã bảo rồi, đồ của biển phải trả về cho biển. Các người nghe không ra, giờ biển tự lấy lại, còn cho các người nhìn thấy nó yên vị, là may mắn lắm rồi.”
Dân làng không ai dám lên tiếng, chỉ lẳng lặng quay về nhà, không ai còn ý định ra biển tìm kiếm tượng Phật nữa. Anh Hưng nhìn theo bóng dân làng, rồi quay sang Phúc, cả hai cùng mỉm cười, sự bình yên lan tỏa khắp cả bến cá.
Ba tháng sau.
Gió biển mang mùi muối quen thuộc thổi qua khu vực chùa cũ, nơi giờ đây rào niêm phong của cơ quan chức năng đã được gỡ bỏ, những cột bê tông cốt thép vươn lên ngay trên nền ngôi chùa chìm 40 năm trước. Tiếng máy xúc, tiếng công nhân hò reo vang lên xen lẫn tiếng sóng biển phía Đông.
Anh Hưng đứng ở mép bờ, tay cầm chiếc mũ bảo hộ, nhìn những viên gạch đầu tiên được xếp lên nền móng. Ba tháng qua, không còn một vụ mất tích, không còn tiếng gõ cửa lạ lúc nửa đêm, ngay cả nền nhà văn hóa làng từng ẩm ướt bất thường giờ cũng khô ráo hoàn toàn. Anh Hưng thầm nghĩ: “Cuối cùng cũng xong rồi.”
Phúc từ phía sau bước tới, tay vẫn cầm cuốn sổ ghi chép khảo cổ đã sờn góc, nụ cười hằn trên khuôn mặt vốn hay nhăn nhó vì công việc.
Phúc: “Huyện vừa phê duyệt xong hồ sơ, khu vực này chính thức được công nhận là di tích lịch sử từ hôm nay. Vốn xây dựng chùa mới đã về đủ, tháng sau là khánh thành được.”
Cán bộ xã từ trong lán chỉ huy bước ra, tay cầm tờ giấy thông báo, giọng hào hứng: “Dân làng ơi! Thông báo của huyện đây! Chùa mới sẽ thờ tượng Phật đá đen đúng tại vị trí móng chùa cũ, ngư dân đi biển qua đây đều được thắp hương cầu bình an!”
Dân làng tụ tập quanh lán, mấy bà già vỗ tay rào rào, mấy đứa trẻ con chạy nhảy quanh những bao xi măng mới chất đống. Không còn ai nhắc đến chuyện tượng Phật lệch vài centimet, không còn ai sợ hãi khi đi qua khu đá ngầm phía Đông nữa.
Lão Năm ngồi trên tảng đá vôi lớn cạnh bờ, điếu thuốc lào vẫn ngậm trong miệng, nhìn khói thuốc bay lên hòa vào gió biển. Lão Năm đứng dậy, phủi bụi đất trên quần, bước đến chỗ Anh Hưng và Phúc, nụ cười hiếm hoi nở trên khuôn mặt nhăn nheo.
Lão Năm: “Giờ linh hồn đã yên, làng ta cũng được bình an thôi.”
Anh Hưng gật đầu, đưa tay bắt tay Lão Năm. Phúc cũng vỗ vai Lão Năm, cả ba nhìn về phía biển Đông, nơi mặt trời đang lặn xuống, phủ màu vàng rực lên những con sóng đang vỗ về bờ, êm ả như chưa từng có cơn sóng dữ nào ập đến. Dân làng vẫn cười nói, tiếng trẻ con đùa nghịch vang lên xa dần, hòa cùng tiếng sóng biển không còn mang chút u uất nào.
Một năm sau.
Gió biển mang mùi nhang trầm thoang thoảng, hòa cùng hơi muối mặn mòi quen thuộc. Ngôi chùa mới đã hoàn toàn khánh thành, mái ngói đỏ tươi vươn cao ngay trên nền móng của ngôi chùa chìm bốn mươi năm trước. Sân chùa phẳng phiu, nền gạch đá xám sạch bong, không còn vết ẩm ướt kỳ lạ nào như xưa.
Lão Năm đứng bên bậu cửa chính, tay lau nhẹ lớp bụi trên bệ thờ tượng Phật mới. Tượng Phật mới làm bằng đá trắng, cao vừa bằng tượng cũ, bề mặt nhẵn thín, không một vết rong rêu hay vỏ hàu bám đầy. Lão Năm giờ là thủ nhang trông coi chùa, tóc bạc phơ hơn hẳn so với một năm trước, nhưng dáng đi nhanh nhẹn, không còn vẻ u uất như thời gian trước.
Một du khách trẻ đeo túi vải, tay cầm cuốn sổ ghi chép bước tới, dừng lại trước Lão Năm, giọng háo hức:
Du khách: “Bác ơi, nghe nói vùng này từng có tượng Phật lạ dưới biển phải không?”
Lão Năm ngẩng lên, gật đầu điềm nhiên, nụ cười nhẹ nhàng nở trên khuôn mặt nhăn nheo:
Lão Năm: “Chuyện cũ rồi, giờ chỉ còn bình an thôi.”
Du khách mừng rỡ, vội vàng ghi chép vào sổ, thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn ngôi chùa, chụp liên tục vài tấm ảnh gửi về cho bạn bè. Lão Năm nhìn theo bóng du khách khuất sau hàng cây phong ba, rồi quay lại lau tiếp bệ thờ, tiếng nhang trầm cháy lách tách hòa cùng tiếng sóng biển vỗ bờ đều đặn.
Gió biển thổi qua kẽ lá phong ba, mang theo tiếng chuông chùa ngân vang nhẹ nhàng. Bốn mươi năm trước, ngôi chùa này từng chìm sâu dưới lòng biển, kéo theo bao nhiêu u uất, bao nhiêu lời đồn đại về những linh hồn bất an. Rồi tượng Phật cũ được vớt lên, mang theo bao nhiêu xáo trộn, bao nhiêu sợ hãi của dân làng, cho đến khi nó được đặt lại đúng vị trí, chôn sâu dưới đáy biển, nơi nó thuộc về. Giờ đây, mọi thứ đã trở lại bình thường, không còn những đêm mất ngủ, không còn những vết ẩm ướt kỳ lạ trên nền xi măng, không còn những tiếng gõ cửa lạ lúc nửa đêm.
Lão Năm ngồi xuống bậc thềm chùa, rút điếu thuốc lào ra nhấm nháp, nhìn ra phía biển Đông nơi mặt trời đang lên cao. Biển cả vẫn vậy, bao dung và bí ẩn, nó có thể cướp đi mọi thứ, nhưng cũng có thể trả lại bình an nếu con người biết tôn trọng những quy luật vốn có. Anh Hưng giờ đã chuyển lên thị trấn gần đó, mở một cửa hàng hải sản nhỏ, mỗi tháng lại về làng thắp hương một lần. Phúc thì vẫn miệt mài với công việc khảo cổ, nhưng không còn ai nhắc đến tượng Phật đá đen kỳ lạ nữa, cứ như thể nó chưa từng tồn tại.
Có những chuyện cũ cần được để lại phía sau, có những bí mật nên được chôn giấu dưới đáy biển sâu, không phải để lãng quên, mà để cho hiện tại được sống trong bình yên. Ngôi chùa mới vẫn đứng đó, sừng sững giữa gió biển, nhắc nhở mọi người rằng, sau mỗi cơn sóng dữ, luôn có bến bờ bình yên chờ đợi, miễn là con người biết giữ cái tâm trong sáng, biết tôn trọng những gì thuộc về quá khứ. Tiếng sóng vỗ về bờ, đều đặn, êm ả, như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng rằng, cuộc sống vốn dĩ đơn giản lắm, chỉ là con người ta thường hay tự làm mình sợ hãi bằng những nghi vấn không đâu.

