ᴍấᴛ chồng, Nhung ʟặɴɢ ʟẽ ɢáɴʜ ᴠáᴄ gia đình, rồi đóɴ ᴍẹ ᴄʜồɴɢ ᴛừ ǫᴜê lên ở cùng. Thế nhưng một đêm, cô nghe thấy những tâm tư ᴍẹ ɢɪà khiến cả người ʙủɴ ʀủɴ, ᴛɪᴍ ɴʜư ɴɢừɴɢ đậᴘ…
Hưng ʀᴀ đɪ. ɴỗɪ đᴀᴜ ậᴘ đếɴ với Nhung một cách độᴛ ɴɢộᴛ, như một ᴄơɴ ʙãᴏ ᴋɪɴʜ ʜᴏàɴɢ ậᴘ đếɴ mà không có ʙấᴛ ᴋỳ ᴅấᴜ ʜɪệᴜ ʙáᴏ ᴛʀướᴄ nào. Chiếc điện thoại ʀᴇᴏ ᴠᴀɴɢ ʟúᴄ ɴửᴀ đêᴍ, ɢɪọɴɢ ɴóɪ của người đồng nghiệp Hưng ở đầu dây bên kia như một ᴛɪếɴɢ séᴛ đáɴʜ ɴɢᴀɴɢ ᴛᴀɪ. ᴛᴀɪ ɴạɴ ʟᴀᴏ độɴɢ. Cái ᴛɪɴ ấy khiến thế giới của Nhung sụᴘ đổ. Cô không còn cảm nhận được gì nữa, mọi thứ xung quanh trở nên ᴍờ ảᴏ, ᴠô địɴʜ. Căn phòng ᴛʀọ ɴʜỏ ʙé, ᴛừɴɢ ʟà ᴛổ ấᴍ, ɢɪờ đâʏ ᴄʜỉ ᴄòɴ ʟạɪ ᴍộᴛ ᴍìɴʜ ᴄô, ᴛʀốɴɢ ʀỗɴɢ ᴠà ʟạɴʜ ʟẽᴏ. Cô ʙáᴍ ᴠíᴜ vào từng kỷ niệm, từng ʜơɪ ấᴍ ᴄòɴ sóᴛ ʟạɪ của Hưng, ɴʜưɴɢ ᴛấᴛ ᴄả ᴄʜỉ ᴄàɴɢ ʟàᴍ ɴỗɪ đᴀᴜ ᴛʜêᴍ ᴅᴀʏ ᴅứᴛ. Đêm nào cô ᴄũɴɢ ᴋʜóᴄ, ɴướᴄ ᴍắᴛ ướᴛ đẫᴍ ɢốɪ, cô tự hỏi tại sao số ᴘʜậɴ ʟạɪ ᴛʀớ ᴛʀêᴜ đến vậy, tại sao lại ᴄướᴘ đɪ ɴɢườɪ ᴄô ʏêᴜ ᴛʜươɴɢ nhất.
Sau ngày Hưng ᴍấᴛ, Nhung gần như ᴍấᴛ ʜếᴛ sứᴄ sốɴɢ. Cô không ăn, không ngủ, chỉ ngồi ᴛʜẫɴ ᴛʜờ nhìn vào khoảng không ᴠô địɴʜ. Căn phòng ʟạɴʜ ʟẽᴏ không còn tiếng cười, không còn ʜơɪ ấᴍ. Cuộc sống nơi thành phố vốn đã ᴠấᴛ ᴠả, giờ đây còn ᴄô đơɴ hơn gấp bội. Một buổi chiều muộn, khi Nhung đang ngồi ᴄᴏ ʀᴏ trong góc phòng, thì mẹ chồng cô, bà Hòa, xuất hiện. Bà ʟặɴɢ ʟẽ ᴛừ ǫᴜê lên, mái tóc đã ʟốᴍ đốᴍ ʙạᴄ, ᴅáɴɢ ɴɢườɪ ɢầʏ ɢᴜộᴄ, đôɪ ᴍắᴛ ᴛʀũɴɢ sâᴜ. Bà không nói một lời nào, chỉ nhẹ nhàng đặt chiếc túi đồ xuống sàn, rồi bước đến ôm lấy Nhung. Hơi ấm từ vòng tay của mẹ chồng đã khiến Nhung ʙậᴛ ᴋʜóᴄ ɴứᴄ ɴở, ʙᴀᴏ ɴʜɪêᴜ ᴜấᴛ ứᴄ, đᴀᴜ ᴋʜổ ᴄứ ᴛʜế ᴛᴜôɴ ᴛʀàᴏ.
Kể từ ngày bà Hòa lên sống cùng, cuộc sống của Nhung đã có chút thay đổi. Bà ʟặɴɢ ʟẽ ᴅọɴ ᴅẹᴘ nhà cửa, nấu những món ăn quen thuộc của quê hương. Không gian ᴄʜậᴛ ʜẹᴘ ᴄủᴀ ᴄăɴ ᴘʜòɴɢ ᴛʀọ giờ đây ᴛʜᴏᴀɴɢ ᴛʜᴏảɴɢ mùi cá kho, mùi rau luộc. Bà không ɢɪỏɪ ɴóɪ ɴʜữɴɢ ʟờɪ ᴀɴ ủɪ, ᴋʜôɴɢ ʙɪếᴛ ᴄáᴄʜ ᴛʜể ʜɪệɴ ᴛìɴʜ ᴄảᴍ ᴍộᴛ ᴄáᴄʜ ồɴ àᴏ. ʙà ᴄʜỉ ɪᴍ ʟặɴɢ quan sát Nhung, dõi theo từng cử chỉ, từng nét mặt của cô. Mỗi khi thấy Nhung ngồi ᴛʜẫɴ ᴛʜờ nhìn ra ngoài cửa sổ, bà lại ʟặɴɢ ʟẽ đặt một ly nước cam lên bàn, rồi quay lưng đi. Nhung hiểu, đó là cách bà thể hiện sự quan tâm. Đó là sự quan tâm của một người phụ nữ chân chất, chỉ biết làm bằng hành động chứ không biết nói bằng lời.
Sự xuất hiện của bà Hòa đã mang đến cho Nhung một điểm tựa tinh thần vững chắc. Cô không còn cảm thấy ᴄô đơɴ nữa. ɴỗɪ đᴀᴜ ᴍấᴛ Hưng vẫn còn đó, ᴅᴀʏ ᴅứᴛ ᴠà âᴍ ỉ, nhưng giờ đây nó đã được sᴀɴ sẻ. Nhung dần trở lại với cuộc sống thường nhật, cô lại đɪ ʟàᴍ, ʟạɪ ᴍᴀʏ ᴠá. Mỗi khi trở về nhà, cô không còn phải đối diện với sự ᴛʀốɴɢ ʀỗɴɢ, ᴍà ʟà ᴍộᴛ ʙữᴀ ᴄơᴍ ɴóɴɢ ʜổɪ, một ánh mắt hiền từ của mẹ chồng. Nhung ᴄố ɢắɴɢ sốɴɢ thật tốt, không chỉ vì bản thân mình mà còn vì bà, vì Hưng. Cô muốn chứng minh với bà rằng, dù không có Hưng ở bên, cô vẫn có thể sống hạnh phúc và mạnh mẽ.
Thế nhưng, sâᴜ ᴛʜẳᴍ ᴛʀᴏɴɢ ʟòɴɢ, Nhung vẫn cảm thấy một khoảng cách vô hình với mẹ chồng. Cô yêu thương bà, tôn trọng bà, nhưng cô vẫn nghĩ rằng bà đốɪ xử ᴛốᴛ ᴠớɪ ᴄô ᴄʜỉ ᴠì ɴɢʜĩᴀ ᴠụ, vì Hưng. Nhung nghĩ, bà chỉ muốn cô sống một cuộc đời ʙìɴʜ ʏêɴ, ᴋʜôɴɢ ᴘʜảɪ ʟᴏ ɴɢʜĩ nhiều. Cô không dám nghĩ đến chuyện ᴛìɴʜ ᴄảᴍ ʀɪêɴɢ ᴛư. Với cô, Hưng là tất cả. Cô đã tự hứa với lòng mình rằng, sẽ sống một mình, sẽ ở bên bà Hòa đến cuối đời. Cô không muốn một ai khác bước vào cuộc sống của mình, không muốn thay thế vị trí của Hưng trong ᴛʀáɪ ᴛɪᴍ ᴍìɴʜ, ᴄũɴɢ ᴋʜôɴɢ ᴍᴜốɴ ᴍẹ ᴄʜồɴɢ ᴘʜảɪ ʙậɴ ᴛâᴍ thêm về mình.
Một đêm nọ, Nhung ᴠô ᴛìɴʜ ᴛʜứᴄ ɢɪấᴄ. Đồng hồ đã điểm ba giờ sáng. Mắt cô chợt nhìn thấy áɴʜ sáɴɢ ʟờ ᴍờ ʜắᴛ ʀᴀ ᴛừ ᴘʜòɴɢ ᴛʜờ. Một nỗi ᴛò ᴍò ᴅấʏ ʟêɴ trong lòng, Nhung nhẹ nhàng bước ra khỏi phòng. Cô nghe thấy tiếng ᴛʜì ᴛʜầᴍ, ʟẫɴ ᴛʀᴏɴɢ đó ʟà ᴛɪếɴɢ ᴋʜóᴄ ɴấᴄ ɴɢʜẹɴ ɴɢàᴏ. ᴛɪᴍ ᴄô đậᴘ ᴍạɴʜ. ɴʜẹ ɴʜàɴɢ ʜé ᴄửᴀ, ᴄô ᴄʜếᴛ ʟặɴɢ ᴋʜɪ ɴʜìɴ ᴛʜấʏ ᴄảɴʜ ᴛượɴɢ ᴛʀướᴄ ᴍắᴛ… xem tiếp dưới phần bình luận
Ánh nến lập lòe trong phòng thờ, bà Hòa quỳ sụp dưới chân bàn thờ, đôi vai rung lên bần bật vì khóc. Trên bàn thờ, di ảnh một bà cụ già gầy gò, mái tóc bạc phơ nhìn xuống, chính là bà Trần Thị T. Bà Hòa vừa khấn vừa nức nở: “Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ… Con không về kịp để nhìn mẹ lần cuối…”
Nhung đứng sững tại chỗ, đôi tay bám chặt vào khung cửa, móng tay trắng bệch. Cô lắp bắp, giọng run rẩy: “Mẹ… đây là bà nội của Hưng?”
Bà Hòa gật đầu, nước mắt rơi lã chã trên gò má hóp: “Bà Trần Thị T.… mẹ của Hòa, Thuận, Dũng, Trí… Vừa qua đời hôm qua ở quê. Bốn đứa con trai của bà ấy nhốt bà ấy trong cái chòi gà suốt hai năm trời, để bà ấy chết thảm như thế…”
Lòng Nhung thắt lại đau đớn. Cô nhớ lại những câu chuyện bà Hòa từng kể, về người mẹ chồng tần tảo một tay nuôi bốn con khôn lớn, chồng mất sớm, chịu bao nhiêu cực khổ. Giờ đây, người phụ nữ ấy lại kết thúc đời mình trong cái chòi gà mục nát, đầy vết muỗi đốt.
Bà Hòa đứng dậy, vội vã lấy tấm áo tang từ tủ sắt ra, giọng lạnh tanh: “Chuẩn bị đồ đạc, chúng ta về quê ngay. Tao phải về xem tụi nó xử lý tang ma cho bà ấy thế nào. Cả làng đang tụ tập trước nhà, chửi rủa bọn vong lương đó.”
Tiếng động cơ xe máy rú lên giữa trưa nắng gắt. Nhung và bà Hòa ngồi sau chiếc xe ôm công nghệ, chạy dọc con đường đất đỏ vùng quê miền Tây. Xa xa, đám đông đen kịt vây quanh căn chòi nhỏ phía sau vườn nhà gia đình bà Trần Thị T., tiếng la hét vang lên ầm ĩ.
Khi xe vừa dừng trước cổng nhà, mùi hôi thối nồng nặc đã xộc vào mũi. Hàng chục người dân làng đứng vòng trong vòng ngoài, xì xào bàn tán. Ông Bảy, người hàng xóm đầu tiên phát hiện thi thể bà Trần Thị T., đứng trên bờ ruộng cao, tay chỉ thẳng vào căn chòi nứt nẻ, giọng hào hứng đầy phẫn nộ: “Mọi người nhìn cái chòi gà này! Suốt hai năm qua, bà Trần Thị T. bị nhốt ở đây! Cửa khóa ngoài, thức ăn ném qua khe hở như cho súc vật!”
Một bà cụ gánh nước đứng bên cạnh vỗ đùi đánh đánh, giọng the thé: “Trời đất, bốn đứa con trai để mẹ chết thế này mà sống nổi? Ngày xưa bà T. một tay nuôi tụi nó, đi cấy, đi gặt, làm thuê làm mướn, nhịn ăn nhịn mặc cho tụi nó ăn học. Giờ tụi nó xây nhà lầu ngay cạnh chòi gà, lại bảo bà ấy giả bệnh đòi tiền, nhốt bà ấy vào đây cho chết dần chết mòn!”
Đám đông ồ lên phẫn nộ. Một thanh niên trẻ nhặt hòn đá ném mạnh vào vách đất của căn chòi, làm rơi xuống mấy cục đất khô. Tiếng đá va vào gỗ mục vang lên lanh canh, khiến mấy bà hàng xóm đứng gần rùng mình.
Bên trong căn chòi, tấm giường tre mục nát nằm sát vách đất, thi thể bà Trần Thị T. khô đét, da bọc xương, tay vẫn vin chặt lấy vách đất, đầy vết muỗi đốt và phân chuột. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, ai đi qua cũng phải bịt mũi.
Một người đàn ông trung niên trong đám đông hét lớn: “Tôi nghe nói bà T. chết đã ba ngày rồi, tụi con trai mới phát hiện! Chúng nó còn định lén đem thi thể đi chôn không báo cáo, may mà ông Bảy sang mượn cuốc, thấy cửa chòi khóa ngoài, nhìn qua khe hở thấy bà ấy nằm bất động, mới hô hoán cả làng sang!”
Đám đông sục sôi giận dữ, người thì chửi rủa bốn người con trai, người thì khóc thương cho bà Trần Thị T. Một bà già ngồi xệp xuống đất, lau nước mắt: “Bà ấy là người hiền lành nhất làng này, chưa từng nói nặng một lời với ai, vậy mà kết cục lại thảm thương như thế… Hòa, Thuận, Dũng, Trí đâu? Ra đây mà đối mặt với dân làng! Các người có còn lương tâm không?”
Tiếng la hét, chửi bới vang lên không ngớt. Nhà chính gia đình bà Trần Thị T. đóng kín cửa, rèm cửa kéo kín mít. Bốn người con trai vẫn chưa xuất hiện, để mặc đám đông phẫn nộ bên ngoài, tiếng gõ cửa và tiếng chửi rủa vang vọng khắp xóm.
Tiếng chốt cửa sắt loảng xoảng vang lên giữa tiếng la hét ầm ĩ của đám đông. Cánh cửa gỗ nặng nề của nhà chính gia đình bà Trần Thị T. từ từ mở ra, bốn bóng người lảo đảo xông ra ngoài.
Hòa dẫn đầu, mặt tái mét, mồ hôi nhễ nhại chảy dài trên thái dương, quần áo phẳng phiu trước đó giờ nhăn nhúm, cổ áo xộc xệch. Ngay sau lưng anh, Thuận, Dũng, Trí rụt rè bước theo, ai nấy gương mặt cứng đờ, mắt tròn xoe nhìn đám đông đen kịt đang vây quanh căn chòi nuôi gà phía sau vườn – nơi bà Trần Thị T. bị nhốt suốt hai năm trời, da mặt trắng bệch như vôi.
Ngay khoảnh khắc nhìn thấy hàng trăm ánh mắt phẫn nộ dồn về phía mình, bước chân bốn anh em khựng lại đồng loạt. Hòa cố gắng ưỡn ngực, giả vờ bình thản, giọng nói cố gắng trầm xuống nhưng đôi bàn tay siết chặt sau lưng run rẩy không ngừng, từng đốt ngón tay trắng bệch vì ghì chặt làm đau chính mình.
Thuận, người con trai thứ hai, cúi gầm mặt, vai run bần bật, đầu gối khuỵu xuống định quỵ nhưng bị Dũng vội vàng đỡ lấy. Trí, đứa con trai út, bám chặt lấy tay Dũng, chân run lẩy bẩy, suýt vấp ngã vào bậc cửa. Cả bốn người đều cố gắng tỏ ra bình tĩnh nhưng từng cử động nhỏ đều lộ rõ vẻ hoảng loạn, sợ hãi trước đám đông.
Hòa hắng giọng, cố gắng đẩy âm lượng lên cao nhất để át đi tiếng xì xào của dân làng, giọng vẫn vang lên sắc lạnh nhưng phía dưới vẫn lộ rõ vẻ run rẩy: “Mọi người làm gì mà ồn ào, bà già nhà tôi vừa mất thôi mà!”
Lời vừa dứt, đám đông ồ lên phẫn nộ. Một nắm đất khô bay vèo qua đầu Hòa, rơi xuống chân anh vỡ tan. Hòa giật mình lùi lại, vẻ bình thản giả tạo rạn nứt hoàn toàn, tim đập thình thịch, chân tay run rẩy không ngừng, chỉ muốn quay đầu chạy trốn vào nhà đóng kín cửa.
Thuận không chịu nổi áp lực, khụy xuống đất, hai tay ôm đầu lẩm bẩm không thành tiếng. Dũng và Trí đứng bên cạnh cũng run cầm cập, không dám ngẩng mặt lên nhìn thẳng vào ánh mắt phẫn nộ của hàng xóm.
Đám đông lại xô lại gần hơn, tiếng chửi rủa vang lên ầm ĩ: “Mày gọi bà ấy là bà già? Đó là mẹ ruột của tụi mày đấy!” “Nhốt bà Trần Thị T. trong chòi gà hai năm trời, giờ bà ấy chết khô khốc đầy vết muỗi đốt mà mày còn nói là bà già nhà mày vừa mất thôi à?”
Hòa lùi dần về phía cửa nhà, tay vẫn run rẩy, cố gắng nhìn thẳng vào đám đông nhưng ánh mắt đã lộ rõ vẻ sợ hãi, không còn chút khí thế nào của người con trai cả từng đề xuất nhốt mẹ trong chòi gà nữa. Bốn anh em đứng sát lại nhau, lưng áp sát vào tường nhà, càng lúc càng run rẩy trước tiếng la hét của dân làng.
Tiếng la ó của đám đông dồn dập vang vọng khắp xóm. Giữa lúc Hòa, Thuận, Dũng, Trí đang co cụm lại dưới hiên nhà chính, một bóng người tóc bạc phơ, dáng gầy gò từ trong đám đông bước ra, tiến thẳng về phía căn chòi gà phía sau vườn. Đó là ông Bảy, hàng xóm sát vách, người vừa là nhân chứng sống, vừa là người trực tiếp phát hiện ra bi kịch này.
Ông Bảy dừng lại ngay trước cửa chòi, quay người lại, ánh mắt đau xót nhìn bốn người con trai của bà Trần Thị T. đang lấp ló sau cánh cửa nhà chính. Ông nắm chặt bàn tay gầy guộc, giọng nói vang lên đanh thép, xé toạc bầu không khí ngột ngạt: “Mấy người còn mặt mũi nào đứng đó mà chối? Sáng nay, tôi đi ngang đây, ngửi thấy mùi hôi nồng nặc khắp cả xóm!”
Hòa nuốt nước bọt, vẻ bình thản giả tạo cuối cùng cũng sụp đổ hoàn toàn. Ông Bảy đấm mạnh nắm tay vào vách chòi gỗ mục, tiếng gỗ rỗng kêu kẽo kẹt đầy đe dọa: “Tôi ngửi mùi hôi từ sáng, đạp cửa vào thì thấy bà ấy đã chết khô, đầy vết muỗi đốt!”
Đám đông nổi sóng, những tiếng chửi rủa càng thêm dữ dội. Ông Bảy quay sang nhìn thẳng vào bốn anh em, ánh mắt như dao cạo, giọng nghẹn lại vì uất hận: “Bà Trần Thị T. một tay nuôi lớn các người sau khi chồng mất sớm, giờ lại nằm chết khô khốc trên giường tre mục, tay vẫn còn vin chặt vách đất như muốn bấu víu lấy chút sự sống cuối cùng! Không một mảnh chiếu, không một liều thuốc, chỉ toàn vết muỗi đốt và phân chuột dính đầy người!”
Dũng cúi gầm mặt, bàn tay siết chặt vào cánh cửa run lẩy bẩy. Ông Bảy chỉ thẳng vào Trí, đứa con trai út đang run rẩy nhất: “Bà ấy bị nhốt trong này hai năm trời, các người ở ngay trong nhà chính mà không thèm nhìn ngó. Các người bảo bà ấy giả bệnh để đòi hỏi? Một bà cụ 82 tuổi, tần tảo cả đời vì các người, giờ lại kết thúc cuộc đời trong chuồng gà như thế này sao?”
Thuận không chịu nổi áp lực, khụy xuống đất, hai tay ôm đầu lẩm bẩm. Ông Bảy tiến thêm một bước, giọng đầy mỉa mai: “Vô tâm! Vô phương cứu chữa! Các người đúng là trọc nợ của mẹ!”
Tiếng la ó của dân làng lại nổi lên, dồn dập hơn. Bốn anh em họ đứng sát vào nhau, lưng áp sát vào tường nhà chính, ánh mắt hỗn độn giữa sự sợ hãi và sự thật tàn khốc mà ông Bảy vừa phơi bày.
Giữa lúc không khí ngột ngạt bao trùm cả khoảng sân, một bóng người khác từ phía sau đám đông bỗng xô đám người đứng xem, lao thẳng vào sân. Đó là bà Lan, hàng xóm sống gần đó, tay bà vẫn còn run rẩy nắm chặt cái bát cháo đã nguội ngắt từ bao giờ.
Bà Lan tiến đến trước mặt Hòa, đôi mắt đỏ ngầu, rực cháy sự phẫn nộ tột độ. Bà ta giơ cao bát cháo, giọng hét lên đầy thê lương, xé toạc bầu không khí vốn đã căng như dây đàn:
“Bà Trần Thị T. ơi! Bà ơi! Mấy tháng nay tôi mang cháo sang, các người nói bà ấy không cần, bảo bà ấy đã ăn no rồi! Ai ngờ các người nhốt bà ấy ở đây, trong cái chuồng gà xác xơ này!”
Nước mắt bà Lan chảy dài trên đôi gò má hốc hác, nhưng bà không thèm lau. Bà nhìn thẳng vào Hòa, người con trai cả đã đề xuất cái kế hoạch tàn độc ấy, rồi ánh mắt chuyển sang Thuận, Dũng, Trí đang run lẩy bẩy phía sau.
“Tôi thương bà ấy lắm! Một tay bà ấy nuôi các người lớn, giờ đây bà ấy đau ốm, các người lại đối xử với bà ấy như con vật! Mang cháo sang mà không được gặp, giờ thì bát cháo này dành cho ai hả? Cho oan hồn bà ấy sao?”
Bà Lan ném mạnh bát cháo xuống đất. Tiếng sành sứ vỡ tan, cháo nguội văng tung tóe lên nền gạch, hệt như hình ảnh bi thương của bà Trần Thị T. nằm khô đét trong chòi gà.
Hòa trợn trừng mắt, muốn phản bác nhưng trước ánh mắt đầy căm hận của bà Lan và cả xóm, lời nói nghẹn lại trong cổ họng. Thuận khụy xuống đất thêm lần nữa, hai tay che mặt, đôi vai rung lên bần bật. Dũng và Trí đứng lặng người, nhìn bát cháo vỡ vụn dưới chân mà lòng như có dao cắt.
Bà Lan gục xuống, khóc nức nở bên cạnh cái bát vỡ, tiếng khóc hòa lẫn vào tiếng la ó của dân làng, tạo thành một bản cáo trạng đanh thép về lòng vô ơn của bốn người con trai.
Tiếng la ó của dân làng càng lúc càng dồn dập, hàng loạt câu chửi rủa nhắm thẳng vào bốn anh em con trai của Bà Trần Thị T. Hòa vẫn đứng chết lặng, đôi chân run rẩy không thể nhúc nhích. Dũng và Trí lùi sát vào tường nhà chính, mặt tái xanh, không dám ngẩng đầu lên.
Thuận, người con trai thứ hai của Bà Trần Thị T., đột ngột hất mạnh hai tay đang che mặt sang hai bên, đứng bật dậy từ nền đất nóng bỏng. Đôi mắt Thuận đỏ ngầu, ánh nhìn sắc lạnh phóng thẳng vào đám đông đang phẫn nộ. Thuận khoanh tay trước ngực, giọng the thé vang lên át cả tiếng ồn ào xung quanh:
“Bà ấy già rồi hay quên, tự nói muốn ở chòi cho yên, chứ chúng tôi có nhốt đâu!”
Đám đông lập tức nổi loạn, hàng loạt tiếng hét vang lên: “Nói láo!”, “Bất hiếu!”, “Quỷ dữ nhà này!”
Thuận nhếch mép cười mỉa mai, khuôn mặt lì lợm tuyệt đối không có chút hối lỗi nào. Thuận không hề tránh né ánh mắt căm thù của dân làng, ngược lại còn trừng lại từng người một, thái độ ngoan cố đến cùng.
Hòa quay đầu nhìn Thuận, kinh ngạc tột độ đến mức lồi cả mắt. Hòa muốn hét lên bảo Thuận ngậm miệng lại, nhưng trước sức ép của cả xóm, lời nói lại một lần nữa nghẹn lại trong cổ họng. Dũng và Trí cũng sững sờ, không ngờ giữa lúc cả nhà đang bị chỉ trích dữ dội, Thuận lại dám buông ra những lời trơ trẽn như vậy.
Bà Lan ngừng khóc, ngước nhìn Thuận với ánh mắt đầy ghê tởm, như nhìn một con vật dơ bẩn. Đám đông càng thêm phẫn nộ, tiếng gọi tên Thuận chửi rủa vang lên không ngớt. Nhưng Thuận chẳng hề nao núng, hắn vẫn đứng đó, mặt lì lợm, thầm nghĩ: “Bà Trần Thị T. già rồi hay quên thôi, tự bà ấy muốn ở chòi, trách gì tụi mình.”
Giữa lúc tiếng chửi rủa dành cho Thuận vang vọng khắp xóm, Dũng – người con trai thứ ba – lặng lẽ áp sát lưng vào vách nhà chính. Mồ hôi rịn đầy trán, Dũng liếc nhanh sang hai bên, thấy sự chú ý của đám đông đang dồn hết vào mấy lời lì lợm của Thuận. Hắn thầm nghĩ: “Lúc này mà không chạy thì chờ tan hoang sự nghiệp mới được à?”
Dũng hé nhẹ cánh cửa gỗ mục, định thầm lặng lách vào trong để trốn biệt. Chân hắn vừa bước qua ngưỡng cửa, một bóng người to lớn từ phía sau đám đông lao tới, bàn tay chắc nịch tóm lấy cổ áo Dũng kéo ngược lại.
Tiếng gầm vang lên sắc lạnh, xé toạc không khí nóng bức: “Đứng lại! Định chạy trốn trách nhiệm à?”
Tất cả ánh mắt lập tức đổ dồn về phía Dũng. Đám đông đồng loạt tiến lại gần, vây chặt lấy hắn. Dũng hoảng loạn tột độ, chân đứng không vững, hắn khụy xuống đất, tay chới với bám lấy ống quần người đàn ông vừa túm lấy mình.
Giọng Dũng run rẩy, lạc đi vì sợ hãi: “Xin ông, xin mọi người… tha cho tôi. Tôi không biết gì hết, là Hòa và Thuận bắt tôi làm thế chứ tôi không muốn đâu!”
Dũng run lẩy bẩy, khuôn mặt tái nhợt, mồm cứ lắp bắp những lời xin tha nhưng chẳng ai trong đám đông mủi lòng. Hắn cúi rạp người xuống đất, sợ hãi đến mức không thể thốt nên lời nào rõ ràng, chỉ còn biết nức nở trong sự ghê tởm của cả xóm. Hòa đứng nhìn người em trai đang gục dưới đất, lòng thắt lại nhưng vẫn chẳng dám nhúc nhích. Thuận thì nhếch mép cười nhạt, coi cái cảnh tượng này như một màn kịch hài rẻ tiền.
Giữa lúc Dũng đang gục đầu xuống đất, một bóng người khác từ trong nhà chính vội vã lết ra, chân run bần bật. Đó là Trí, đứa con trai út, kẻ vốn dĩ chỉ biết núp bóng sau lưng các anh. Thấy đám đông đang cuồng nộ, Trí hoảng loạn tột độ, hắn chẳng dám nhìn vào thi thể khô đét của bà Trần Thị T. nằm phía trong, mà chỉ biết quỳ xuống ngay cạnh Dũng, nước mắt giàn giụa.
Trí gào lên, giọng lạc đi vì sợ hãi, tay vội vàng chỉ thẳng vào Hòa: “Mọi người đừng bắt tội tôi! Tôi không làm gì hết! Do anh Hòa đề xuất nhốt mẹ, tôi có nói gì đâu, toàn lỗi anh cả!”
Hòa, người vốn đang đứng lặng như tượng đá, giật mình bàng hoàng khi nghe câu nói ấy. Khuôn mặt vốn đã tái nhợt nay càng trở nên xám ngoét. Hắn quay sang nhìn đứa em trai út, đôi mắt trừng trừng đầy uất hận nhưng chẳng thốt nên lời nào để bào chữa.
Trí vẫn tiếp tục khóc lóc, dập đầu xuống nền đất nóng bỏng: “Tôi chỉ là đứa em út, anh cả bảo gì tôi làm nấy thôi! Anh Hòa nói nhốt mẹ trong chòi gà để mẹ đỡ đi lại phiền phức, tôi đâu dám cãi. Tôi có biết mẹ sẽ chết khô khốc như thế đâu!”
Thuận đứng khoanh tay nhìn cảnh tượng này, khẽ nhếch mép cười một nụ cười đầy mỉa mai. Hắn thầm nghĩ: “Đúng là anh em nhà này, đứa nào đứa nấy đều hèn nhát đến mức thảm hại.”
Đám đông xung quanh bắt đầu xôn xao, những tiếng xì xào chỉ trích vang lên ngày càng to. Một người hàng xóm giàu lòng trắc ẩn nhìn xuống Trí, giọng đầy ghê tởm: “Vậy là mấy người cũng biết bà ấy đang chết dần chết mòn mà vẫn nhốt bà ấy như nhốt súc vật sao? Bà Trần Thị T. một tay nuôi mấy đứa khôn lớn, vậy mà lòng dạ mấy đứa mù lòa cả rồi!”
Trí vẫn cứ quỳ đó, gương mặt méo mó vì sợ hãi, hắn chỉ biết lặp đi lặp lại câu nói đổ lỗi cho Hòa, hy vọng rằng sự tàn nhẫn của mình sẽ được đám đông tha thứ. Dũng bên cạnh cũng ngẩng đầu lên, nhìn Trí rồi nhìn Hòa, sự hoang mang và tủi nhục hiện rõ trên gương mặt cả ba người con trai của bà Trần Thị T.
Hòa bỗng run lên bần bật, đôi mắt đỏ ngầu dán chặt vào gương mặt đầy nước mắt của Trí. Cơn giận dữ tích tụ từ lâu nay bùng nổ, khiến hắn hoàn toàn mất kiểm soát. Mặt hắn đỏ bừng, gân xanh nổi đầy hai bên thái dương, đôi tay run lẩy bẩy vì giận dữ, các ngón tay gập chặt lại thành nắm đấm đến bật tiếng rắc rắc.
Hắn bước vội tới, tay phải vung mạnh một cái, cái tát chí mạng giáng thẳng vào má trái của đứa em út. Tiếng “bốp” vang lên chát chúa, vang xa khắp cả khoảng vườn sau. Trí ngã lăn quay ra đất, má đỏ ửng hằn rõ năm ngón tay, mắt trợn trừng nhìn Hòa không dám tin vào những gì vừa xảy ra.
Hòa gầm lên, giọng khàn đặc, hơi thở phả ra hơi nóng hổi vì giận dữ: “Mày im đi! Hồi mẹ ốm mày đâu có gửi một đồng, giờ đổ lỗi cho anh à?”
Hắn vẫn đứng run rẩy, ngón tay chỉ thẳng vào mặt Trí mà run bần bật, lời lẽ trách móc cứ tuôn ra như suối: “Suốt hai năm bà Trần Thị T. bị nhốt trong chòi gà, mày có lần nào về thăm đâu? Có gửi nửa đồng nào cho thuốc men đâu? Giờ thấy dân làng phẫn nộ, mày chạy ra đổ hết lỗi cho anh, cái lòng dạ vô ơn bạc nghĩa ấy có còn biết hổ thẹn không?”
Đám đông xung quanh lại càng xôn xao hơn, những tiếng chỉ trích hướng về cả hai anh em vang lên ngày càng to. Thuận đứng khoanh tay nhìn cảnh tượng này, nụ cười mỉa mai trên môi càng đậm hơn, hắn thầm nghĩ: “Đúng là anh em nhà này, đứa nào đứa nấy cũng chỉ biết đổ lỗi cho nhau, chẳng có một chút lòng tự trọng nào.”
Dũng quỳ sát bên cạnh, nhìn hai anh em đấu khẩu mà không dám lên tiếng, người run lẩy bẩy vì sợ hãi và tủi nhục. Thi thể khô đét của bà Trần Thị T. nằm phía trong chòi gà, tay vẫn vin chặt lấy vách đất, như thể vẫn đang chứng kiến sự sỉ nhục của những đứa con mình một tay nuôi lớn.
Tiếng xôn xao của đám đông bỗng chốc lặng đi. Tất cả mọi ngườiđều quay đầu nhìn về phía cổng vườn, nơi một cụ bà gầy yếu đang chống gậy gỗ nặng nề, từng bước chân chậm chạp, lảo đảo tiến lại phía nhóm người. Đó là Cụ Hòa, tám mươi lăm tuổi, hàng xóm sống cạnh bà Trần Thị T. đã mấy chục năm, gương mặt nhăn nheo hằn sâu những vết chân chim, đôi mắt đỏ hoe ngay cả khi chưa mở lời.
Cụ Hòa phớt lờ ánh nhìn kinh ngạc của Hòa, người con trai cả vẫn đang giơ nắm đấm về phía Trí. Cụ bước thẳng qua bốn anh em, dừng lại đầu tiên trước cửa căn chòi nuôi gà, nhìn vào thi thể khô đét của bà Trần Thị T. vẫn đang vin chặt lấy vách đất. Một giọt nước mắt lăn dài trên má nhăn nheo của cụ.
Cụ Hòa quay lại phía bốn người con trai, giọng run rẩy cất lên: “Hồi chồng bà ấy mất, một tay nuôi bốn đứa, nay bị bọn bây đối xử thế này, phận làm con có đau không?” Giọng cụ nghẹn ngào, vỡ vụn ở những từ cuối, nước mắt tuôn trào hơn nữa trên gương mặt già nua, bàn tay gầy guộc siết chặt cán gậy đến trắng cả khớp.
Cụ bước lại gần từng người, ánh mắt quét qua khuôn mặt từng đứa con của bà Trần Thị T., dừng lại trên vết đỏ hằn năm ngón tay trên má Trí, nụ cười mỉa mai vẫn còn vương trên môi Thuận. “Hai năm trời, bà ấy nằm trên chiếc giường tre mục nát trong cái chòi gà chật hẹp này, đầy vết muỗi đốt, phân chuột dính đầy người, mà bọn bây có lấy một lần vào thăm đâu? Có ai cho bà ấy một viên thuốc, một chén cháo ấm nóng không?”
Đám đông lại càng ồn ào hơn, có người đã lấy tay áo lau nước mắt, có người hét lên những lời chửi rủa hướng về phía bốn anh em. Đôi vai Cụ Hòa run bần bật, giọng càng lúc càng nghẹn, khó nhọc lắm mới thốt ra được câu tiếp theo: “Bà ấy vất vả cả đời, chồng mất sớm, bươn chải quanh năm không quản ngày đêm, chỉ mong bốn đứa con có cái ăn cái mặc, nên người. Vậy mà giờ… giờ bà ấy ra đi trong cô độc, trên chiếc giường rách nát, tay vin chặt vách đất như thể còn mong chờ bọn bây vào nhìn bà ấy lần cuối…”
Cụ ngừng lại, lấy bàn tay run rẩy che miệng, nước mắt chảy ròng ròng trên má nhăn nheo, gậy cụ chống xuống đất yếu ớt khi cụ suýt ngã về phía trước. Bốn người con trai đứng chết trân, nắm đấm của Hòa buông thõng xuống bên cạnh, Trí xoa xoa má đau, nụ cười trên môi Thuận cuối cùng cũng tan biến, Dũng vẫn quỳ sát đất, cúi gằm mặt xuống đất.
Hòa khẽ nhếch mép, nụ cười lạnh lẽo không chạm đến đáy mắt, như thể những lời cáo trách của đám đông và Ông Bảy chỉ là tiếng ruồi nhặng bâu. Gã rụt cánh tay vừa buông thõng, phủi nhẹ vết bụi trên tay áo sơ mi bạc màu, bước thẳng về phía đám đông đang sôi sục phẫn nộ.
Tiếng la ó, chửi rủa vỡ òa từ phía hàng xóm, có người hét lên báo công an, có người ném vỏ chai nước suối sát chân gã, nhưng Hòa chẳng thèm né tránh. Gã dừng bước cách đám đông chừng hai bước, đôi mắt lạnh tanh quét qua từng gương mặt đỏ bừng vì giận dữ, không một chút dao động, không một chút hối lỗi.
Thuận đứng cạnh gã, vội vàng chữa lấp: “Đúng đấy, mẹ già rồi hay quên, tháng nào cũng đòi tiền, chúng tôi bận làm ăn quanh năm, đâu có thời gian mà lo cái chuyện rên rỉ suốt ngày.”
Hòa lườm Thuận một cái, liếc nhanh về phía thi thể Bà Trần Thị T. vẫn vin chặt vách đất trong căn chòi gà, giọng đều đều, vô cảm như đang đọc bảng kê thu chi: “Bà ấy hay quên, tháng nào cũng đòi tiền, chúng tôi phát mệt, đưa vào chòi cho đỡ phiền!”
Ông Bảy suýt ngã về phía trước, gậy gỗ gõ mạnh xuống nền đất khô cằn, giọng khản đặc, run rẩy vì uất hận: “Mày nói cái gì? Bà Trần Thị T. một tay nuôi bốn đứa con trai khôn lớn, giờ mày nói bà ấy phiền? Bà ấy đòi tiền để mua gì? Cơm cháo? Thuốc men? Hay là để mua cái lòng hiếu thảo từ bọn mày hả?”
Hòa nhún vai, tay đút túi quần đùi, mặt lạnh tanh nhìn thẳng vào Ông Bảy rồi quét qua đám đông: “Ông Bảy nhắc nhớn gì, bà ấy giả bệnh đòi tiền suốt, chứ có ốm đau gì đâu. Tụi tôi bận mưu sinh, tháng nào cũng phải nghe bà ấy rên rỉ đòi tiền, phiền chết đi được. Đưa vào chòi cho yên chuyện, có ngờ đâu bả lại chết sớm thế.”
Trí đứng cạnh xoa xoa má vẫn còn hằn vết đỏ, gật đầu lia lịa: “Đúng đấy, mẹ mà hễ gặp là đòi tiền đòi bạc, tụi tôi cũng đâu muốn nhốt, chứ có lựa chọn nào khác không?”
Đám đông sôi sục hơn, mấy thanh niên trai tráng định lao lên tát Hòa, nhưng bị mấy người lớn tuổi kéo lại. Hòa vẫn giữ nguyên bộ mặt vô cảm, chẳng thèm chớp mắt, đôi mắt lạnh lẽo dán chặt vào đám đông, chẳng một chút run rẩy, chẳng một chút hối lỗi dù cái xác khô đét của Bà Trần Thị T. vẫn nằm ngay sau lưng gã, đầy vết muỗi đốt và phân chuột dính đầy người.
Một quả cà chua thối rữa, bẹp dúm, bay vèo qua không trung rồi nát bét trên ngực áo sơ mi bạc màu của Hòa. Không ai bảo ai, đám đông như vỡ đê. Những cục đá nhỏ, bắp cải thối, quần áo cũ rách rưới… tất cả trút xuống như mưa lên đầu bốn người con trai của Bà Trần Thị T.
Thuận ôm đầu, lảo đảo lùi lại, tiếng chửi rủa của hắn tan biến thay bằng những tiếng kêu the thé vì đau. Dũng và Trí cũng cuống cuồng tìm chỗ trú ẩn, nhưng đám đông đã vây kín, không cho họ lối thoát. Một chiếc dép lê cũ sượt qua mang tai Trí, khiến gã suýt ngã dúi dụi xuống nền đất khô cằn.
Giữa cơn bão vật thể, một thanh niên lực lưỡng ở đầu làng, mặt đỏ bừng vì phẫn nộ, hét lên chói tai, giọng vang dội cả một góc vườn: “Súc vật! Có con ra mà nuôi, xem có để chết khô như thế không!”
Lời hét như một nhát dao cứa vào không khí, khiến bầu không khí vốn đã ngột ngạt càng thêm ngạt thở. Hòa vẫn đứng đó, dù vai gã đã bị một hòn đá sắc lẻm cứa qua làm rách áo và xướt da, máu rỉ ra hòa lẫn với bụi bặm. Gã nhếch mép, ánh mắt lạnh lẽo nhìn đám đông đang cuồng nộ, chẳng có chút hối lỗi nào.
“Đánh chết bọn nó đi! Bọn vong ân bội nghĩa!” Một bà cụ run rẩy nhưng giọng đanh thép, ném nốt nắm rau muống héo úa về phía bọn họ.
Bà Trần Thị T. vẫn nằm bất động trong căn chòi gà phía sau, thi thể khô đét, đầy vết muỗi đốt và phân chuột, đôi bàn tay gầy guộc vẫn vin chặt lấy vách đất mục như một lời cáo trạng đanh thép. Nhìn thấy cảnh mẹ mình nằm chết thảm thương mà con cái bị đám đông ném đá, Hòa vẫn thản nhiên phủi vết bẩn trên tay, giọng gã the thé giữa tiếng la ó: “Làm gì mà vĩ đại thế? Bà ấy chết thì chôn, tốn bao nhiêu công sức mấy ông bà ở đây!”
Câu nói của Hòa như đổ thêm dầu vào lửa. Đám đông không còn chỉ ném đồ nữa, họ bắt đầu xông lên, những bàn tay siết chặt, muốn trừng trị bốn anh em tàn nhẫn ngay tại chỗ. Ông Bảy vung gậy gỗ, mắt trừng trừng nhìn bốn đứa con của Bà Trần Thị T., giọng khản đặc vì uất hận: “Tao sẽ không để bọn bay yên ổn đâu! Bà Trần Thị T. một tay nuôi lớn bọn bay, giờ bà ấy nằm đây mà bọn bay còn ngang ngược!”
Hòa lùi lại một bước, lần đầu tiên trong đôi mắt lạnh tanh của gã thoáng qua một chút hoảng loạn khi thấy hàng chục người đàn ông trong xóm đang tiến lại gần với sát khí đằng đằng. Thuận, Dũng và Trí co cụm lại với nhau, mặt mũi nhăn nhó, không còn vẻ mặt ngang ngược của kẻ trên cơ nữa. Họ là những kẻ tàn nhẫn đang bị chính cộng đồng vây hãm, chờ đợi một sự trừng phạt thích đáng cho tội ác nhốt mẹ già đến chết trong chòi gà.
Một hòn đá sắc lẻm ném từ phía sau xẹt qua sát mang tai Hòa, gã giật nảy mình, cuối cùng không chịu nổi sức ép từ bốn phía, hai đầu gối gã khuỵu xuống đất cứng, bụi mù bay lên mù mịt. Thuận, Dũng, Trí thấy anh cả gục xuống, cũng vội vàng sụp xuống đất, bốn cái lưng cong rạp, hai tay ôm chặt lấy đầu, run lập cập như những chiếc lá trước gió bão.
Đám đông thấy bọn họ hạ thế, tiếng la ó tạm lắng xuống một chút, nhưng những ánh mắt căm giận vẫn như dao nhọn đâm thẳng vào từng thớ thịt bọn họ. Ông Bảy dơ cao cây gậy gỗ, giọng gầm gừ vang dội cả một góc vườn: “Bây giờ mới biết sợ à? Bà Trần Thị T. nằm trong chòi gà hai năm trời, bọn bay có thèm vào nhìn bà ấy một lần không?”
Hòa nghiến chặt hàm, định ngẩng đầu cãi lại mấy lời ngang ngược như thường lệ, nhưng thấy nắm đấm của ông Bảy đã áp sát tầm mắt, gã lập tức cúi gằm mặt xuống đất khô cằn, không dám thốt ra nửa lời. Dũng run rẩy, nước mắt giàn giụa chảy qua kẽ tay, gã định mở miệng xin lỗi nhưng cổ họng nghẹn lại, chỉ phát ra tiếng nấc cụt nghe thật thảm hại. Trí thì co rúm người lại, mũi đầy bụi đất, không dám thở mạnh vì sợ bị đám đông ném thêm đá.
Thuận thấp thỏm nhất, gã từng là người hăng hái nhất ủng hộ việc nhốt Bà Trần Thị T. vào chòi gà, giờ đây đôi tay ôm đầu gã run bần bật, những ký ức về hai năm qua ùa về: bà T. gọi khản đặc gọi con, bà T. đôi bàn tay gầy guộc vin chặt vách đất, bà T. nằm trên giường tre mục, da thịt khô đét đầy vết muỗi đốt… Tất cả bỗng trở nên rõ ràng đến nhói lòng.
Gã lẩm bẩm, giọng nhỏ đến mức chỉ mình gã nghe thấy, nhưng trong cái tĩnh lặng ngắn ngủi của đám đông, câu nói ấy vang lên rõ mồn một: “Sai rồi… chúng tôi sai rồi…”
Bốn anh em vẫn gục đó, không ai dám cãi lại, không ai dám ngẩng đầu nhìn về phía căn chòi gà phía sau vườn, nơi thi thể Bà Trần Thị T. vẫn nằm bất động. Cơn sợ hãi chưa từng có bao trùm lấy họ, nhưng đằng sau nỗi sợ ấy, là sự hối hận muộn màng đang bóp nghẹt lấy lồng ngực mỗi người. Đã quá muộn rồi. Bà T. đã ra đi, tội ác của họ đã phơi bày dưới ánh sáng mặt trời, không còn đường quay lại.
Ông Bảy hạ cây gậy gỗ xuống, cán gậy gõ nhẹ xuống đất cứng. Ông liếc nhanh về phía căn chòi gà phía sau vườn, lồng ngực già nua thắt lại khi nhớ lại hình ảnh Bà Trần Thị T. nằm bất động trên giường tre mục, thi thể khô đét phủ đầy vết muỗi đốt và phân chuột.
Ông bước thẳng tới chỗ Hòa đang gục trên đất, tay đưa ra nắm lấy cánh tay gã, nhẹ nhàng đỡ dậy. Hòa run lẩy bẩy, định gạt tay ông ra nhưng bắt gặp ánh mắt nghiêm nghị không chút giễu cợt của ông, gã thu tay lại, để ông kéo mình đứng thẳng, đầu vẫn cúi gằm.
“Đứng dậy hết.” Ông Bảy quay sang Thuận, Dũng, Trí, giọng trầm xuống, không còn gầm gừ như lúc trước nhưng sắc lạnh như dao cạo.
Dũng lau vội nước mắt ướt nhèm, đứng dậy trước, Trí và Thuận cũng lúng túng đứng theo. Bốn anh em đứng thành hàng ngang, vai chùng xuống, không dám nhìn thẳng vào mắt ông.
Ông Bảy chỉ tay về phía căn chòi gà, giọng nghẹn lại vì thương xót: “Bà Trần Thị T. một tay nuôi các anh khôn lớn, chồng mất sớm, bà ấy tần tảo sớm hôm, chẳng tiếc sức lực, giờ già yếu các anh lại nhốt bà ấy vào chòi nuôi gà hai năm trời. Để bà ấy mất đi trong cô độc, tay vin chặt vách đất đến lúc trút hơi thở cuối cùng, thi thể đầy vết muỗi đốt, dính đầy phân chuột. Các anh có còn chút lương tâm không?”
Hòa đứng đầu hàng, nghiến chặt hàm, giọng khàn đặc: “Ông đừng dạy đời chúng tôi. Bà ấy cứ giả bệnh đòi hỏi, chúng tôi chịu hết nổi mới nhốt bà ấy vào đó.”
Ông Bảy quay phắt lại, mắt trợn trừng, tay siết chặt cây gậy gỗ đến bạch cả đốt ngón: “Giả bệnh? Bà Trần Thị T. nằm đó, không ai thèm vào nhìn, không ai thèm đưa bát cháo, ly nước. Hai năm trời, các anh chỉ lo chia chác mảnh vườn này, lo ăn nhậu, lo vui vẻ, để mẹ đẻ ra mình nằm trong chòi gà như con vật hèn mọn!”
Thuận run rẩy, ngẩng đầu lên, đôi mắt đỏ hoe đẫm lệ: “Chúng tôi… chúng tôi sai rồi, ông Bảy. Giờ chúng tôi phải làm sao?”
Ông Bảy hít một hơi dài, nhìn bốn đứa con trai của Bà Trần Thị T. đứng run rẩy trước mặt, lòng vừa thương xót vị phụ nữ tần tảo năm xưa, vừa giận dữ trước lũ con trai vô tâm. Ông nghiêm giọng, rành rọt từng chữ: “Dù sao bà ấy cũng là mẹ các anh, lo mai táng tử tế, đừng để làng xóm chê cười thêm. Tang lễ phải đàng hoàng, có đủ con cháu chầu rìa, đừng để người ta bảo con cái Bà Trần Thị T. ác đức, vô ơn.”
Đám đông đứng xung quanh bỗng vỡ òa tiếng xì xào, có người gật đầu tán đồng, có người vẫn nhìn bọn họ với ánh mắt khinh bỉ. Dũng đứng cạnh, run rẩy mở miệng: “Chúng tôi sẽ lo, sẽ lo cho mẹ tử tế…”
Ông Bảy gật đầu, giọng vẫn lạnh tanh: “Tốt nhất là thế. Tôi sẽ ở đây giám sát, các anh mà làm sơ sài, tôi sẽ gọi công an, gọi báo chí lên đây ngay, để cả nước biết tội ác của các anh.”
Bốn anh em im lặng, không ai dám cãi lại. Họ biết, lần này, họ không thể chối bỏ trách nhiệm nữa. Bà Trần Thị T. đã ra đi, và họ là những người phải chịu trách nhiệm cho sự ra đi ấy.
Hòa đứng lặng người một lúc lâu, rồi bất ngờ quay đầu, bước thẳng về phía căn chòi gà phía sau vườn. Đôi chân gã run rẩy, lạo xạo trên nền đất khô cằn. Thuận, Dũng, Trí nhìn theo, chưa kịp phản ứng thì Hòa đã đẩy bật cánh cửa gỗ mục nát.
Mùi hôi thối nồng nặc xộc ra. Ánh sáng hiu hắt chiếu vào góc tối nhất, nơi thi thể Bà Trần Thị T. nằm bất động trên chiếc giường tre mục. Da thịt bà khô đét, nhăn nheo, đầy những vết muỗi đốt sưng tấy và những vệt phân chuột loang lổ. Bàn tay gầy guộc vẫn vin chặt lấy vách đất như thể bà đã cố bám lấy sự sống đến hơi thở cuối cùng.
Hòa lê từng bước chân nặng nề tiến vào. Đôi mắt gã dán chặt vào hình hài nhỏ bé của mẹ, thứ mà gã đã phớt lờ suốt hai năm trời. Đột nhiên, gối gã khuỵu xuống, đầu gục xuống sát nền đất lạnh lẽo. Những tiếng nấc nghẹn ngào vỡ òa.
“Mẹ ơi…” Hòa khóc nức nở, đôi vai gã run bần bật. “Mẹ ơi, con sai rồi… con đưa mẹ về nhà ngay… con đưa mẹ về…”
Trong tâm trí gã, những mảnh ký ức ùa về. Hình ảnh Bà Trần Thị T. gầy gò, vai đeo sọt lúa, chân đỏ ửng vì nước phèn, cõng Hòa nhỏ trên lưng đi gặt thuê về nuôi bốn đứa con. Bà không quản ngày đêm, gồng mình chống chọi đói nghèo sau khi ông bà mất sớm. Vậy mà giờ đây, người mẹ tần tảo ấy lại nằm chết trong chuồng gà, cô độc và khốn khổ.
Nỗi hối hận như dao cắt vào lòng Hòa. Gã nhớ lại mình đã từng thốt lên “bà ấy giả bệnh” với vẻ khinh bỉ thế nào. Gã nhớ cái cảm giác đóng then cửa chòi, tưởng rằng đã trút bỏ được gánh nặng. Giờ đây, trước sự thật trần trụi, gã chỉ muốn quỳ xuống van xin sự tha thứ từ một người không còn có thể nói.
Thuận đứng ở cửa chòi, trân trân nhìn cảnh tượng ấy, nước mắt lặng lẽ chảy dài trên gương mặt hốc hác. Dũng và Trí cũng tiến lại gần, nhưng không ai dám bước vào, ánh mắt họ tránh né thi thể người mẹ già, như thể đang trốn tránh chính lương tâm của mình.
Hòa khẽ rung mình, gạt vội vệt nước mắt trên má. Gã đứng thẳng dậy, đôi chân vẫn run rẩy nhưng cố gắng giữ thăng bằng. Gã đưa tay, rụt rè chạm vào bờ vai khô khốc của Bà Trần Thị T., lớp da nhăn nheo lạnh ngắt, khô cứng đến mức gã sợ chỉ cần ấn mạnh một chút sẽ vỡ vụn.
Gã quay đầu, ánh mắt đỏ ngầu nhìn về phía ba người em. Cổ họng Hòa phát ra tiếng rên rỉ khản đặc, nghẹn ngào, gã khẽ gật đầu, ra hiệu cho các em lại giúp sức.
Thuận là người bước vào đầu tiên, đôi tay run lẩy bẩy đỡ lấy chân Bà Trần Thị T. Dũng và Trí đứng chần chừ thêm giây lát, rồi cũng cúi đầu, tiến lại đỡ hai bên hông thi thể. Bàn tay gầy guộc của Bà Trần Thị T. vẫn bám chặt lấy vách đất, Hòa phải dùng sức nhẹ nhàng nạy từng ngón tay bà ra, đầu ngón tay khô đét bong tróc vảy da nhỏ.
Hòa, Thuận, Dũng, Trí khiêng thi thể của Bà Trần Thị T. di chuyển chậm rãi về phía cửa chòi. Cánh cửa gỗ mục kêu cót két khi họ bước qua, ánh nắng gay gắt của vùng quê miền Tây chiếu thẳng vào thi thể nhỏ bé, lộ rõ những vết muỗi đốt sưng tấy, những vệt phân chuột loang lổ trên lớp da khô.
Đám đông đứng chờ bên ngoài lặng im phăng phắc. Hàng xóm, người dân trong xóm, trong đó có Ông Bảy, đều nín thở nhìn theo. Không một tiếng xì xào, chỉ có tiếng gió thổi qua vườn cây, tiếng ruồi nhặng vo ve quanh thi thể. Sự thương cảm hiện rõ trên gương mặt những người già, sự phẫn nộ lẫn sợ hãi ánh lên trong mắt lớp trẻ.
Hòa bước đi, đôi chân gã như nặng nghìn cân. Tiếng rên rỉ phát ra đều đặn từ cổ họng gã, đứt quãng, đầy day dứt. Thuận cúi gằm mặt, nước mắt rơi xuống nền đất khô cằn, Dũng và Trí cũng vậy, vai họ run bần bật, không ai dám ngẩng lên nhìn vào đám đông, cũng không ai dám nhìn vào thi thể của Bà Trần Thị T. mà họ đã nhốt hai năm trời.
Bốn người khiêng bà đi qua khoảng sân trước nhà chính gia đình bà T., nắng chiếu xuống lưng áo rách rưới của Hòa, Thuận, Dũng, Trí, cũng như chiếu vào đôi mắt vô hồn của người mẹ già đã dành cả đời tần tảo nuôi họ khôn lớn. Không khí u ám bao trùm cả không gian, chỉ còn tiếng rên rỉ của Hòa, tiếng bước chân chậm chạp trên nền đất, và sự im lặng dày đặc của đám đông đang dõi theo.
Bốn người con trai khiêng thi thể Bà Trần Thị T. vào nhà chính gia đình bà T., đám đông lặng lẽ tản đi từng người một, những tiếng xì xào phẫn nộ vương lại sau lưng. Ông Bảy ở lại đến khi người cuối cùng rời đi, ông khạc nhẹ một bãi xuống đất, lắc đầu ngao ngán trước khi quay về nhà mình.
Mặt trời dần lặn, ánh nắng gay gắt của vùng quê miền Tây nhường chỗ cho chiều tà đỏ quạch, nhuộm tím cả khoảng vườn sau. Căn chòi nuôi gà phía sau vườn giờ đây trống không, cửa gỗ mục để ngỏ, kẽ hở trên vách đất nứt nẻ sau hai năm chịu sức ép từ những lần Bà Trần Thị T. vin lấy để đứng dậy.
Gió chiều thổi mạnh, luồn qua các khe hở trên vách chòi phát ra tiếng rít the thé, vang vọng khắp cả không gian vắng lặng. Camera di chuyển chậm dọc theo vách đất lấm bẩn, dừng lại tại năm ngón tay in hằn sâu vào lớp đất sét khô cứng – dấu vết cuối cùng của Bà Trần Thị T. lúc hấp hối, đôi tay gầy guộc bám chặt lấy hy vọng mong manh qua khỏi chốn giam cầm này.
Bụi đất bay mờ trong luồng gió lùa, trộn lẫn với mùi hôi hám của phân gà và chuột, nhuốm màu vàng đỏ của hoàng hôn. Tiếng gió rít không ngớt, trộn lẫn với tiếng lá cây xào xạc, tiếng chim chóc bay về tổ, không một tiếng người, không một lời thoại, chỉ có âm thanh lạnh lẽo của ký ức vẫn ám ảnh nơi chốn từng giam cầm Bà Trần Thị T. suốt hai năm trời.
Hoàng hôn tắt hẳn, bóng tối dần bao trùm căn chòi bỏ hoang, tiếng gió cũng nhẹ dần như nỗi đau xót vừa trải qua. Câu chuyện của Bà Trần Thị T. kết thúc trong sự tàn lạnh của chính những đứa con bà tần tảo nuôi nấng, nhưng dư âm của nó vẫn nhắc nhở mỗi người về cái giá của sự vô tâm. Bà Trần Thị T. từng một tay gánh vác cả gia đình sau khi chồng mất sớm, dành trọn đời mình để nuôi các con khôn lớn, thế mà khi tuổi già sức yếu, bà lại bị nhốt trong chòi gà như súc vật, hai năm trời không được hưởng chút tình thương máu mủ.
Những vết tay trên vách đất là lời cáo trạng đanh thép nhất cho lòng bất hiếu của con cái. Cuộc đời không cho phép quay lại sửa sai những lỗi lầm với người thân, phút giây vô tâm sẽ thành gánh nặng cả đời, day dứt mãi không nguôi. May thay, bốn người con trai của Bà Trần Thị T. đã nhận ra tội lỗi, tự nguyện trình báo chính quyền, chấp nhận mọi hình phạt dù biết không gì đưa bà trở lại.
Bầu trời đêm đầy sao, gió mát thổi qua vườn cây xua tan không khí u uất. Dù nỗi đau còn đó, mỗi người xem câu chuyện đều nhớ bài học: tình thân quý giá nhất, đừng để mất đi mới hối hận. Căn chòi bỏ hoang chỉ còn là ký ức, nhưng tiếng gió rít mỗi chiều tà vẫn nhắc về số phận đau thương của Bà Trần Thị T. và giá trị lòng hiếu thảo.

