Ngày bức tượng ᴄúɪ đầᴜ, người con mới biết ǫᴜỳ xᴜốɴɢ
“ʙáɴ luôn cái tượng đó đi. Đặt giữa phòng khách nhìn như cái bóng ᴍᴀ, khách vào ai ᴅáᴍ ᴍᴜᴀ nhà?”
Câu nói của anh Duy ᴠᴀɴɢ ʟêɴ ʟạɴʜ ᴛᴀɴʜ giữa căn nhà vừa được sửᴀ sᴀɴɢ lại, khiến cả gia đình ᴄʜếᴛ ʟặɴɢ.
Bức tượng Phật bằng gỗ mít cao gần một mét, đặt ở góc phòng khách đã hơn mười năm, từ ngày mẹ anh ᴄòɴ sốɴɢ. Khuôn mặt tượng ʜɪềɴ ᴛừ, đôɪ ᴍắᴛ ᴋʜéᴘ ʜờ như đang nhìn xuống, nụ cười nhẹ như gió thoảng.
Nhưng với Duy, nó chỉ là… “ᴍộᴛ ᴍóɴ đồ ᴄũ ᴋỹ ᴄʜɪếᴍ ᴄʜỗ”.
“Thời nào rồi còn ᴍê ᴛíɴ. ɴʜà ᴍᴜốɴ ʙáɴ đượᴄ ɢɪá thì phải sáɴɢ sủᴀ, hiện đại. Để cái này ở đây, người ta vào lại nghĩ nhà có chuyện.”
Chị ɢáɪ anh – chị Hạnh – khẽ lên tiếng:
“Đó là tượng mẹ ᴛʜỉɴʜ ᴠề… ʟúᴄ ᴇᴍ ʙệɴʜ ɴặɴɢ…”
“Thì sao?” – Duy ᴄắᴛ ɴɢᴀɴɢ – “ᴍẹ ᴍấᴛ ʀồɪ, ʙệɴʜ ᴄũɴɢ ǫᴜᴀ ʀồɪ. Đừng sống mãi trong quá khứ nữa.”
Không khí đặᴄ ʟạɪ.
Người duy nhất không nói gì là ᴛʜằɴɢ ʙé ɴᴀᴍ – ᴄᴏɴ ᴛʀᴀɪ 𝟽 ᴛᴜổɪ của Duy. Nó đứɴɢ ɴéᴘ ở ᴄửᴀ, ᴍắᴛ ɴʜìɴ ᴄʜằᴍ ᴄʜằᴍ vào bức tượng.
Chiều hôm đó, Duy gọi người đến xem đồ.
Một ông ʙᴜôɴ đồ ᴄổ bước vào, ʟɪếᴄ ǫᴜᴀ ʙứᴄ ᴛượɴɢ ʀồɪ ɪᴍ ʟặɴɢ rất lâu. Ông không hỏi ɢɪá ngay, chỉ đi vòng quanh, quan sát rất kỹ.
“Cái này… anh địɴʜ ʙáɴ thật à?” – ông hỏi.
“Ừ, bao nhiêu ông trả đi.”
Người đàn ông ᴄʜậᴍ ʀãɪ nói:
“Gỗ mít cũ, chạm tay. Không phải đồ chợ. Nhưng… cái này không phải ai cũng nên giữ… cũng không phải ai cũng nên ʙáɴ.”
Duy bật cười:
“Ông làm như có ᴛâᴍ ʟɪɴʜ ɢì ɢʜê ɢớᴍ lắm vậy.”
Người kia không cười.
Ông đặt tay lên đầᴜ ᴛượɴɢ, ʀồɪ ʀụᴛ ʟạɪ ɴɢᴀʏ ʟậᴘ ᴛứᴄ, ɴʜư ʙị đɪệɴ ɢɪậᴛ.
“Thôi… tôi ᴋʜôɴɢ ʟấʏ.”
“Ủa? Nãy còn nói tốt mà?”
Người đàn ông nhìn ᴛʜẳɴɢ ᴠàᴏ ᴍắᴛ Duy:
“Có những thứ… không phải để địɴʜ ɢɪá.”
Nói xong, ông ǫᴜᴀʏ ʟưɴɢ đɪ ᴛʜẳɴɢ.
Đêm đó, lần đầu tiên trong nhiều năm, Duy ᴍấᴛ ɴɢủ.
Không phải vì câu nói của ông ʙᴜôɴ đồ. ᴍà ᴠì… ᴛʜằɴɢ ʙé ɴᴀᴍ.
Nửa đêᴍ, ɴó ʟẩᴍ ʙẩᴍ trong mơ.
“Ba ơi… bà đang buồn…”
Duy ʙậᴛ ᴅậʏ:
“Ai?”
“Bà… bà đứng cạnh tượng… bà ᴄúɪ đầᴜ…”….. xem tiếp dưới phần bình luận
Duy đứng chết lặng giây lát, rồi như bị điện giật, anh quẳng chăn xuống giường, lảo đảo chạy vội sang phòng ngủ của Nam. Đẩy tung cửa, anh vươn tay bật cái *RẸT* đèn trần sáng rực. Ánh đèn chói lòa chiếu thẳng vào giường ngủ.
Nam đang ngồi thẳng dậy, trán đẫm mồ hôi, hai mắt trân trân nhìn chằm chằm vào góc tường trống trải. Đôi bàn tay nhỏ bé siết chặt lấy mép chăn, run bần bật.
Duy lao đến, đôi bàn tay to lớn nắm chặt lấy vai con, giọng anh run rẩy, gượng gạo nhưng cố hữu lắm mới ép được chữ ra khỏi cổ họng:
– Nam, bà là ai? Bà nói gì với con?
Nam giật mình, rụt rè nhìn ba, rồi đưa cánh tay nhỏ bé chỉ thẳng về phía cửa phòng khách, giọng lạc đi vì sợ hãi:
– Bà khóc… Bà bảo ba vô ơn… bảo ba muốn bán đồ của bà…
Gương mặt Duy thoáng đanh lại. Sự hoang mang trộn lẫn với sự tức giận dâng lên ngùn ngụt. Anh thẳng tay gạt phắt cánh tay bé nhỏ của con sang một bên, giọng đanh thép:
– Mơ nhảm! Đi ngủ ngay! Không có ai cả, con nhìn nhầm rồi!
Nam ôm chặt lấy đầu, run lẩy bẩy, không dám nhìn ba, cũng không dám nhắm mắt. Trong căn phòng tối sáng lập lòe, tiếng thở dốc của đứa trẻ và tiếng tim Duy đập thình thịch là âm thanh duy nhất còn sót lại. Duy đứng đó, cố tỏ ra cứng rắn, nhưng những ngón tay anh đang siết chặt vào thành giường lại run rẩy một cách hèn nhát.
Duy buông tay khỏi thành giường, quay lưng bước ra khỏi phòng Nam, khẽ đóng cửa lại sau lưng.
Về phòng ngủ, Duy nằm phịch xuống giường, nhưng chẳng tài nào chợp mắt được. Giọng run rẩy của Nam cứ văng vẳng trong đầu: “Bà khóc… Bà bảo ba vô ơn… bảo ba muốn bán đồ của bà…” Duy trở mình liên tục, mãi đến khi tia sáng bình minh đầu tiên len lỏi qua khe rèm.
Sáng hôm sau, Duy dậy sớm, quầng thâm đậm đặc dưới mắt. Duy đi thẳng ra phòng khách, ánh mắt dán chặt vào bức tượng Phật gỗ mít cao gần 1 mét, chạm tay thủ công, nằm im lìm ở góc phòng hơn 10 năm qua. Mẹ Duy đã thỉnh tượng về khi Duy bệnh nặng hơn 10 năm trước, nay bà đã mất, chỉ còn lại bức tượng này.
Duy lấy điện thoại, bấm số đầu tiên trong danh bạ:
– Chú Tuấn à, cháu có bức tượng Phật gỗ mít, chú qua xem giá giúp cháu nhé, ngay sáng nay được không?
Nghe tiếng đáp lại ở đầu dây bên kia, Duy gật đầu, cúp máy rồi bấm tiếp số thứ hai, hẹn người thứ hai đến ngay sau đó.
Tiếng chuông cửa reo không lâu sau. Ông buôn đồ cổ đầu tiên bước vào phòng khách, vừa liếc qua bức tượng, mặt lập tức tái mét, không nói nửa lời quay đầu bỏ chạy thục mạng ra ngoài.
Duy giật mình, vội vàng đuổi theo ra đến cửa:
– Ông ơi, ông đi đâu thế? Tôi chưa nói giá mà!
Nhưng ông buôn đồ cổ đã lên xe, phóng vút đi, không ngoảnh lại.
Duy ngạc nhiên, nhíu mày hỏi phụ tá đang đứng bên cạnh:
– Sao ông ấy chạy thế? Tôi chưa trả giá mà?
Phụ tá lắc đầu, giọng trầm xuống:
– Ông ấy bảo tượng tỏa ra khí lạ, có những thứ không định giá được bằng tiền, nên không dám mua.
Duy bực mình, đấm nhẹ tay xuống mặt bàn:
– Thật là nhảm nhí!
Những nghi ngờ bắt đầu nhen nhóm trong đầu Duy: Có thật là tượng có điều lạ? Hay chỉ là mấy lời mê tín nhảm nhí? Mà sao đêm qua Nam lại nói những lời đó?
Tiếng chuông cửa đột ngột reo vang, cắt ngang dòng suy nghĩ lộn xộn của Duy. Duy nhíu mày, lau vội vết mồ hôi đọng trên thái dương rồi bước nhanh ra mở cửa.
Người buôn đồ cổ thứ hai bước vào phòng khách, bộ vest xám vừa vặn, tay xách chiếc hộp da đựng bộ dụng cụ thẩm định đồ cổ quen thuộc. Ánh mắt kẻ trong nghề quét nhanh qua căn phòng rồi lập tức khóa chặt vào bức tượng Phật gỗ mít cao gần 1 mét, chạm tay thủ công, nằm im lìm ở góc phòng khách hơn 10 năm qua.
Người buôn đồ cổ thứ hai tiến lại gần tượng, đôi tay gân guốc từng thẩm định hàng nghìn món đồ cổ khẽ run lên khi đưa về phía bề mặt gỗ mịn màng. Chỉ cách mặt tượng chưa đầy một gang tay, Người buôn đồ cổ thứ hai đột ngột rụt tay lại, lùi vội hai bước, sắc mặt tái nhợt như vừa trông thấy quỷ dữ.
– Tượng này có linh, không phải đồ vô tri các anh nghĩ đâu, Người buôn đồ cổ thứ hai lẩm bẩm, giọng run rẩy, mắt không dám rời khỏi đôi mắt phật mở hé trên bức tượng.
Duy bật cười nhạt, khoanh tay trước ngực, tựa lưng vào bức tường trắng mới sơn. Duy nghĩ mấy lời này cũng chẳng khác gì ông buôn đồ cổ đầu tiên, toàn mê tín dị đoan để trốn tránh, hoặc cố tình trêu chọc mình.
– Các ông toàn nói chuyện mê tín! Bao nhiêu tiền các ông trả, nói mau cho rồi! Duy lớn tiếng, giọng đầy vẻ khinh khỉnh, chẳng thèm nhìn thẳng vào Người buôn đồ cổ thứ hai.
Người buôn đồ cổ thứ hai lắc đầu kiên quyết, ánh mắt dời đi chỗ khác, không dám nhìn thẳng vào bức tượng thêm một giây nào nữa.
– Tôi không dám mua, anh nên giữ lại, đừng hối lộ. Người buôn đồ cổ thứ hai nói dứt khoát, tay đã bắt đầu xếp đồ đạc vào hộp, dáng vẻ nóng lòng muốn rời đi.
Duy tức giận, bước vội tới chặn ngang lối đi của Người buôn đồ cổ thứ hai, mặt đỏ bừng vì giận dữ. Duy chắc mẩm mọi người đang cấu kết lại để trêu chọc mình, đúng là lũ mê tín hết thuốc chữa.
– Ông nói sao? Hồi nãy tôi chưa báo giá mà! Các ông cứ thay nhau chạy trốn, rồi nói mấy lời nhảm nhí này, có phải cố tình trêu táng tôi không? Duy gằn giọng, tay siết chặt mép bàn gỗ đến trắng bệch.
Người buôn đồ cổ thứ hai lắc đầu lần nữa, cúi gầm mặt xuống, giọng nhỏ nhưng rõ ràng:
– Tôi làm nghề này hơn ba mươi năm, chưa từng thấy tượng nào tỏa ra khí lạ thế này. Anh giữ lại đi, đừng vì chút tiền mà mang họa vào người.
Duy đẩy mạnh Người buôn đồ cổ thứ hai về phía cửa, cười gằn đầy cay độc:
– Cút đi! Tất cả các ông đều điên cả rồi! Mê tín nhảm nhí!
Người buôn đồ cổ thứ hai không dám ngoái lại, mở khóa cửa chạy vút ra ngoài, để lại Duy đứng giữa phòng khách, ngực phập phồng vì tức giận, mắt dán chặt vào bức tượng Phật vẫn im lìm như chưa có chuyện gì xảy ra.
Duy vẫn đứng sừng sờ giữa phòng khách, hơi thở phì phò sau cơn giận dữ. Những lời cảnh báo của hai ông buôn đồ cổ như những tiếng ve kêu rít trong đầu khiến cậu thêm điên tiết. Duy quay ngoắt lại, đôi mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm vào bức tượng Phật gỗ mít cao gần một mét đang đứng sừng sững ở góc phòng. Hơn mười năm qua, nó đã nằm ở đó, chặn đứng tham vọng đổi đời của cậu.
Tên gọi “mê tín” thoáng qua tâm trí Duy. Cậu bước nhanh đến, hận thù đổ dồn vào đôi bàn tay đang siết chặt.
– Giờ thì mày còn cản đường tao nữa không? Duy gầm gừ, giọng đầy vẻ thách thức.
Cậu dẫm mạnh chân xuống sàn gỗ mới sơn bóng loáng, hai tay dang rộng rồi bất ngờ tiến lại đẩy mạnh vào thân tượng. Một tiếng rắc khô khốc vang lên. Bức tượng nặng nề lung lay dữ dội, mất thăng bằng. Ngay lập tức, một mảnh gỗ nhỏ ở chân tượng vỡ vụn, rơi lăn xuống sàn.
Chưa kịp hả hê, ánh đèn trong phòng khách bỗng nhấp nháy liên hồi như có sự cố đường dây. Dù bên ngoài trời đang nắng gắt, tiếng gió rít kinh hoàng bỗng rú qua khe cửa sổ, mang theo hơi lạnh thấu xương. Không gian như bị nén lại, bóp nghẹt lấy lồng ngực Duy.
Ở góc phòng, Nam đang ngồi chơi với mấy khối gỗ, bỗng giật bắn mình. Thấy bức tượng rung rinh và cảnh tượng kỳ quái, cậu bé 7 tuổi khóc thét lên, tiếng la hét xé toạc bầu không khí im lặng:
– Bà giận rồi! Bà đập đồ, bà không cho ba đụng vào! Ba ơi chạy đi! Bà hiện về rồi!
Nghe tiếng con trai hét lên, máu trong người Duy như đông cứng lại. Cơn hoảng loạn tột độ ập đến. Cậu vội vàng vứt bỏ vẻ ngang bướng, lao tới ôm chầm lấy bức tượng để giữ thăng bằng, tay chân run lẩy bẩy. Duy nhìn quanh, mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa, cảm giác như có đôi mắt của Mẹ đang dõi theo từ cõi vô hình, trừng phạt sự ngông cuồng của mình. Nam co ro vào góc tường, hai tay bịt chặt lấy tai, mặt tái nhợt vì sợ hãi.
Tiếng khóc thét của Nam vẫn đang vang vọng trong không gian đặc quánh khi tiếng chuông cửa bất ngờ vang lên, xé tan bầu không khí rợn người. Duy giật nảy mình, tay chân vẫn còn run lẩy bẩy, vội vàng buông bức tượng ra và chạy ra mở cửa.
Chị Hạnh đứng đó, trên tay là một giỏ đồ ăn nóng hổi. Thấy sắc mặt tái nhợt và vẻ hoảng loạn của em trai, chị nhíu mày, nhanh chóng bước vào trong. Ánh mắt người chị lướt qua phòng khách, lập tức dừng lại ở mảnh gỗ vụn dưới chân tượng Phật và vết nứt mới xuất hiện trên thân gỗ mít.
– Duy, sao tượng bị vỡ? – Giọng chị Hạnh trầm xuống, đầy vẻ kinh ngạc rồi chuyển sang nghiêm nghị. – Mẹ lúc sinh thời dặn, tượng này linh thiêng, không được xúc phạm nửa lời. Mẹ thỉnh nó về khi em bệnh nặng hơn mười năm trước, nó là cái mốc tinh thần của cả nhà này đấy!
Duy vẫn đang thở dốc, cố gắng lấy lại vẻ bề trên nhưng đôi mắt đỏ ngầu và sự bực bội đang dâng trào. Cậu liếc nhìn mảnh vỡ dưới sàn, cảm giác bị xúc phạm bởi lời nhắc nhở của chị gái.
– Chị toàn nói chuyện mê tín! – Duy gắt lên, giọng gằn từng chữ. – Tôi có cố ý đâu, nó tự lung lay thôi. Chị không thấy tôi vừa sửa sang lại nhà này à? Chật chội, vướng víu biết bao nhiêu!
Chị Hạnh thở dài, ánh mắt đầy thất vọng và lo âu lướt qua gương mặt cau có của em trai. Chị biết Duy đang cố chấp, đang chạy trốn khỏi những điều mình không thể lý giải bằng sự ngang bướng. Chị không buồn cãi lại nữa, chỉ lẳng lặng bước đến gần bức tượng gỗ mít cao gần một mét.
Từ trong túi xách, chị Hạnh lấy ra một chiếc khăn điều, màu đỏ thẫm quen thuộc mà mẹ thường dùng. Với động tác chậm rãi nhưng đầy cung kính, chị trùm kín bức tượng lại, che đi những vết nứt và mảnh vỡ dưới chân tượng.
Duy đứng nhìn, cảm giác bực bội khó chịu dâng lên tột độ, như thể chính chiếc khăn đó đang bịt kín miệng cậu, ngăn cản tham vọng đổi đời của mình. Còn chị Hạnh, sau khi phủ xong tượng, chỉ lặng lẽ nhìn chiếc khăn điều, trong lòng thấp thỏm một nỗi lo không tên về những điều sắp sửa ập đến.
Đêm hôm đó, Duy ngồi bật dậy trên giường, tiếng khóc của Nam đêm qua và lời can ngăn của chị Hạnh vẫn quanh quẩn trong đầu khiến Duy không tài nào chợp mắt. Duy chộp lấy chiếc điện thoại trên đầu giường, mở các nhóm thợ mộc trên mạng xã hội, gõ vội dòng chữ tìm thợ đục đồ gỗ giỏi nhất, kèm yêu cầu đục bỏ khuôn mặt tượng Phật gỗ mít để làm mặt bàn trà, trả thù lao gấp đôi thị trường.
Chưa đầy mười lăm phút, Duy nhận được tin nhắn của một thợ đục có tiếng trong vùng, xác nhận sẽ đến căn nhà của Duy ngay trong đêm để xem bản vẽ.
Mười một giờ đêm, tiếng chuông cửa vang lên. Duy vội vàng chạy ra mở cửa, đối diện là một người đàn ông trung niên đeo kính, túi đồ nghề đục gỗ sờ sờ trên vai. Duy dẫn người đàn ông vào phòng khách, rút mạnh tấm khăn điều chị Hạnh vừa phủ xuống, lộ ra bức tượng gỗ mít cao gần một mét, chạm khắc thủ công tinh xảo, vết nứt ở chân tượng do Duy làm rơi tối trước vẫn còn rõ nét.
Thợ đục híp mắt nhìn bản vẽ Duy gửi, rồi ngước lên nhìn bức tượng, sắc mặt bỗng tái nhợt. Gã lắc đầu nguầy nguậy, lùi lại hai bước: “Duy điên à? Tượng này có linh ấy, tôi làm nghề đục gỗ hơn ba mươi năm, chưa bao giờ dám đụng vào đồ có khí lạ thế này. Dù trả bao nhiêu tiền tôi cũng không làm!”
Duy nghiến chặt hàm, nỗi bực bội tích tụ từ sáng tối nay dâng trào. Duy rút từ ngăn kéo bàn uống nước xấp tiền năm triệu đồng, ném mạnh lên mặt bàn kính, tiếng bốp vang lên đanh gọn: “Đây là tiền cọc, làm ngay đi, không làm tôi báo công an!”
Thợ đục sợ đến run rẩy, nhìn xấp tiền rồi nhìn bức tượng đang phủ bóng tối trong góc phòng, vội vàng thu dọn đồ nghề vào túi, chạy nhanh ra cửa mà không quên ngoái lại dặn: “Tôi không dám đụng vào đâu, Duy tự lo lấy mình nhé!”
Duy đứng giữa phòng khách, nhìn chiếc cửa đóng sầm lại, lồng ngực phập phồng. Duy càng lúc càng ngoan cố, trong đầu Duy lúc này chỉ có một niềm tin duy nhất: tất cả mọi người đều đang lừa dối Duy. Ông buôn đồ cổ nói tượng có điều lạ, chị Hạnh nói tượng linh thiêng, giờ đến thợ đục cũng từ chối. Duy siết chặt nắm đấm, ánh mắt nhìn bức tượng phủ khăn điều đầy sát khí, quyết tâm sẽ tự tay xử lý bức tượng này, không để bất kỳ ai ngăn cản Duy đổi đời.
Duy hít một hơi thật sâu, phồng mũi khịt khịt rồi đá mạnh cánh cửa vừa đóng sầm, tiếng động vang vọng khắp phòng khách vắng ngắt. Ánh mắt Duy vẫn dán chặt vào bức tượng phủ khăn điều, vết nứt ở chân tượng từ tối qua như đang nhấp nháy dưới ánh đèn vàng leo lét. “Linh thiêng? Khí lạ? Đồ ngu cả lũ,” Duy gầm gừ dưới hơi thở, bàn tay siết chặt đến nỗi khớp trắng bệch. Duy xoay người dứt khoát, bước chân giậm mạnh xuống nền gạch men, đi thẳng vào kho chứa đồ dưới chân cầu thang.
Duy giật tung cánh cửa sắt rỉ sét, bản lề kêu cót két chói tai. Ở đó, chiếc cưa máy chạy điện màu vàng Duy mua hồi tháng trước để tỉa cành cây trong vườn đang dựa sát tường. Duy vác cưa lên vai, dây điện lê thê kéo theo sau, bước nhanh trở lại phòng khách. Duy cắm phích cắm vào ổ điện cạnh tủ tivi, đèn báo nhỏ sáng xanh ngắt trong căn phòng tối om.
Duy tiến lại gần bức tượng, giật phăng tấm khăn điều xuống một cái dứt khoát. Khuôn mặt Phật chạm khắc thủ công nhìn Duy, nét mặt từ bi y như mười năm trước, khi mẹ Duy thỉnh tượng về hồi Duy đang ốm nặng. Duy lắc đầu gạt bỏ ký ức đó, hàm nghiến chặt. Duy đặt lưỡi cưa vào vai trái bức tượng, ngón tay cái đặt lên công tắc bật. “Mày định cản tao đổi đời à? Tao sẽ chẻ mày ra làm đôi, làm mặt bàn trà, lấy tiền gấp mười cái mơ ước hão của bà chị với thằng già buôn đồ cổ.”
Duy bấm công tắc. Cưa máy gầm lên rú rít, lưỡi cưa quay tít như bóng ma. Duy ấn mạnh người vào cưa, ép lưỡi cưa sượt vào gỗ mít đặc ruột. Tiếng kim loại cọ xát gỗ vang lên chói lọi, cưa từ từ khoét sâu vào vai tượng. Bỗng một tiếng nổ rung cả nền nhà—cưa máy phát nổ, mảnh nhựa nóng rực và mảnh kim loại văng tung tóe ngực Duy. Lưỡi cưa văng khỏi máy, lao đi với tiếng rít sắc lẹm.
*Rắc.*
Lưỡi cưa sượt thẳng vào mu bàn tay trái Duy, ngay dưới khớp ngón tay. Duy thét lên thảm thiết, cưa máy rơi rầm xuống sàn, Duy loạng choạng lùi lại, ôm chặt bàn tay vào ngực. Máu tươi tuôn trào từ vết thương, chảy ròng ròng qua kẽ tay, nhỏ giọt xuống sàn nhà thành vũng đen kịt. Hơi thở Duy đứt quãng, cơn đau buốt lan từ tay lên tận ót, trắng xóa tầm nhìn. “Đau quá! Đau quá!” Duy gào thét, khuỵu xuống đầu gối, trán đập vào sàn cứng.
Tiếng bước chân nhỏ xíu vội vã chạy vào phòng. Nam đứng sững ở cửa, tóc rối bù vì ngủ, mắt mở to trừng trừng nhìn bàn tay đầy máu của Duy. Đứa bé giơ ngón tay run rẩy chỉ vào bức tượng rồi chỉ vào Duy, giọng the thé vang vọng: “Bà đánh ba! Bà không cho ba đụng vào tượng! Bà giận lắm rồi!”
Duy đông cứng người. Lời nói của Nam đập vào tai Duy còn đau hơn vết thương ở tay. Duy ngẩng lên nhìn bức tượng, rồi nhìn xuống vết máu loang trên sàn, gương mặt Nam đầy sợ hãi. Mồ hôi lạnh rịn ra khắp da thịt Duy, tim đập lỗi nhịp đập mạnh vào lồng ngực đến mức đau. Gương mặt mẹ Duy chợt hiện lên trong đầu Duy—đôi bàn tay hiền từ bà đặt tượng vào góc phòng này, dặn Duy nó sẽ bảo vệ gia đình. Duy nhìn vết nứt ở chân tượng, vũng máu dưới sàn, ánh mắt đầy kinh hoàng của Nam. Một làn sóng hoảng sợ lạnh toát, ngạt thở ập đến Duy, hòa lẫn với cơn đau thể xác đến mức Duy không phân biệt được cái nào đau hơn. Duy lùi sát lưng vào tường, mắt liên tục đảo quanh giữa bức tượng và con trai, hơi thở đứt quãng thành từng hơi thở hoảng loạn.
Duy gồng mình đứng dậy, bàn tay trái đau nhói đến tận ót. Máu vẫn chảy ròng ròng qua kẽ băng gạc sơ sài quấn vội lúc nãy, nhỏ giọt xuống sàn thành vũng loang lổ. Nam vẫn đứng đờ người bên cửa, đôi mắt đỏ hoe nhìn Duy run rẩy. Duy lướt qua con trai, chân loạng choạng bước ra khỏi nhà, nổ máy xe máy phóng thẳng đến bệnh viện gần nhất. Gió đêm lùa vào mặt, tiếng máy xe gầm rú hòa lẫn tiếng tim đập dồn dập của Duy.
Tại khoa cấp cứu, Duy đưa bàn tay bị thương ra cho y tá, ngồi chờ trên ghế nhựa cứng đơ. Chưa đầy mười phút, bác sĩ khoảng năm mươi tuổi, đeo kính trắng, dẫn Duy vào phòng khám. Bác sĩ sờ nắn vết thương nhẹ nhàng, lau sạch máu rồi quan sát kỹ.
“Vết thương không sâu, may là lưỡi cưa không gãy vào xương. Chỉ cần băng bó lại, uống thuốc kháng sinh vài ngày là khỏi.” Bác sĩ ngẩng lên, ánh mắt nhìn thẳng vào Duy, giọng trầm xuống. “Nhưng anh nên cẩn thận, đừng động vào những thứ linh thiêng khi chưa hiểu rõ.”
Duy bật cười khẩy, rút tay lại khỏi tay bác sĩ. “Bác sĩ cũng tin mê tín à? Tôi chỉ là sơ ý, cưa máy hỏng thôi. Mấy thứ tượng gỗ vứt đi ở nhà tôi mà cũng linh thiêng được?”
Duy thầm nghĩ, mê tín vớ vẩn, toàn chuyện bịa đặt.
Bác sĩ lắc đầu, thở dài một tiếng, cầm tập hồ sơ bệnh án bước đi. Ánh mắt ông đầy vẻ thương hại, thoáng qua một chút bất lực. Duy nhìn theo bóng bác sĩ, mặt nhăn nhó vì cơn đau, nhưng trong mắt vẫn còn sự ngoan cố, khinh khỉnh. Duy quấn lại băng gạc, cầm đơn thuốc bước ra khỏi phòng khám, chân giậm mạnh xuống sàn, không thèm ngoảnh lại nhìn bác sĩ thêm lần nào.
Duy nhảy lên xe máy, vặn ga phóng thẳng về nhà. Gió đêm rít qua tai, bàn tay trái quấn băng gạc vẫn nhói đau từng cơn, máu thấm nhẹ ra lớp vải trắng. Trong đầu anh chỉ loanh quanh một ý nghĩ: phải bán cho được pho tượng gỗ mít đó, càng sớm càng tốt. Ông buôn đồ cổ từ chối mua, bác sĩ lại phán mê tín, tất cả chỉ là chuyện vớ vẩn. Chỉ cần “trấn yểm” xong, ai dám không mua?
Về đến căn nhà vừa sửa sang, Duy dậm mạnh chân xuống nền gạch, hất tung cánh cửa chính. Trong góc phòng khách, pho tượng Phật gỗ mít cao gần một mét vẫn đứng im lìm, lớp sơn đã bong tróc nhẹ sau hơn mười năm đặt ở đó, những đường chạm khắc thủ công hiện rõ dưới ánh đèn vàng mờ. Duy rút điện thoại, gọi ngay cho thầy cúng nổi tiếng nhất vùng, bảo sang nhà ngay lập tức để làm lễ “trấn yểm” tượng, nhất quyết bán cho bằng được.
Chưa đầy hai mươi phút, thầy cúng đội mũ, mang theo túi đồ đạc lỉnh kỉnh xuất hiện. Ông đi thẳng vào phòng khách, vừa nhìn thấy pho tượng, sắc mặt bỗng chốc trở nên nghiêm nghị. Không nói một lời, ông quỳ xuống sàn, cúi đầu lạy ba lạy trước tượng Phật, động tác chậm rãi, trang trọng.
Duy khoanh tay trước ngực, khóe môi nhếch lên vẻ khinh khỉnh, bàn tay trái đau nhói khiến anh nhíu mày. “Thầy làm gì mà kỳ cục thế? Mau trấn yểm đi, tôi không có nhiều thời gian.”
Thầy cúng đứng dậy, ánh mắt nhìn Duy đầy thương hại, giọng trầm hẳn xuống. “Con không nên bán tượng này, đây là phước phần của gia đình, mẹ anh đang phù hộ cho các con đó.”
Duy bật cười khanh khách, tiếng cười lạnh lẽo vang vọng trong phòng khách sáng trưng. “Thầy cũng muốn lấy tiền của tôi chứ gì? Trấn yểm bao nhiêu tiền, nói mau!”
Thầy cúng lắc đầu, ánh mắt nhìn Duy đầy vẻ thương hại cho sự ngu muội của gã đàn ông trước mặt. Ông không nói thêm lời nào, cúi xuống thu dọn túi đồ đạc, xốc lên vai rồi bước thẳng ra cửa, không ngoảnh lại lần nào.
Duy nhìn theo bóng thầy cúng biến mất sau cánh cửa, vẻ khinh khỉnh vẫn in hằn trên mặt. Anh mỉa mai khẽ thốt, bàn tay trái siết chặt khiến vết thương lại nhói đau. “Lão già đó, chắc tiếc không được hưởng tiền nên mới bỏ đi. Chờ đấy, mai tôi tìm thầy khác giỏi hơn, trấn yểm xong là bán ngay pho tượng này.”
Duy đứng lặng giữa phòng khách, ánh mắt vẫn dán chặt vào pho tượng gỗ mít cũ kỹ. Tiếng cười khanh khách của chính mình vang vọng trong đầu khiến anh thấy mình thật ngạo mạn. Bàn tay trái quấn băng gạc lại bắt đầu nhói đau, máu thấm nhẹ ra lớp vải trắng. Anh hất mạnh tay áo, tắt đèn và bước lên tầng hai, nhưng bóng tối trong căn nhà vừa sửa sang như dày đặc hơn bao giờ hết.
Nằm trên giường, Duy thao thức. Tiếng nhịp thở của con trai Nam ngủ bên cạnh không đủ để xua tan sự bứt rứt. Hình ảnh thầy cúng cúi lạy tượng, lời nói của ông buôn đồ cổ, và đặc biệt là ánh mắt thương hại của mọi người cứ thay nhau hiện về. Duy chìm dần vào giấc ngủ với tâm thế phản kháng kịch liệt.
Màn đêm đen kịt bỗng rẽ lối. Duy thấy mình đứng ngay giữa phòng khách, nhưng không phải là căn nhà sáng trưng bóng đèn hiện tại. Ánh sáng lập lòe của những ngọn nến soi rõ gương mặt hốc hác của chính anh.
Trước pho tượng Phật gỗ mít, một bóng hình quen thuộc xuất hiện. Đó là mẹ Duy, mặc bộ áo dài nâu sờn cũ, gương mặt hằn rõ vẻ buồn bã đến xé lòng. Mẹ đứng lặng lẽ, đôi mắt nhìn Duy đầy oán trách.
Mẹ giơ tay, ngón tay gầy guộc chỉ thẳng vào ngực Duy, giọng nói vang lên đầy uy nghiêm nhưng cũng thật xót xa: “Duy! Con vong ân bội nghĩa! Mẹ thỉnh tượng này về, ngày đêm cầu nguyện khi con bệnh nặng suýt chết đó. Mẹ đã dùng cả mạng sống này để đổi lấy sự bình an cho con. Thế mà giờ đây, con lại muốn bán nó đi?”
Duy muốn phản bác, muốn nói rằng đó chỉ là chuyện mê tín, nhưng cổ họng anh nghẹn lại, không phát ra được âm thanh nào. Hình ảnh người mẹ tảo tần sớm hôm, gánh gồng cả gia đình hiện về rõ mồn một.
“Mẹ phù hộ cho con ngôi nhà này, cho con có của ăn của để, vậy mà con định đem bán linh hồn của gia đình sao?”
Duy giật mình tỉnh dậy, cả người bật thẳng dậy khỏi giường. Mồ hôi túa ra ướt đẫm cả áo ngủ, lạnh ngắt dọc sống lưng. Tiếng tim đập “thình thịch” vang lên trong đầu anh như tiếng trống dồn.
Bên cạnh, Nam bỗng lẩm bẩm trong giấc ngủ: “Bà… bà cúi đầu… bà buồn lắm…”
Duy run rẩy quay sang nhìn con trai, rồi đưa mắt nhìn ra phía phòng khách tối om dưới tầng dưới. Lần đầu tiên, sự hoang mang cực độ tràn ngập trong lòng. Anh bắt đầu nghi ngờ chính mình. Phải chăng những gì mẹ nói trong mơ là thật? Phải chăng cái băng gạc ở tay trái và sự từ chối của ông buôn đồ cổ đều là điềm báo? Duy ôm chặt lấy đầu, cảm giác tội lỗi và sợ hãi bắt đầu nuốt chửng anh trong đêm tối.
Duy ngồi bất động trên giường suốt mười phút, lồng ngực phập phồng. Bên cạnh, Nam trở mình, kéo chăn lên tận cằm, môi vẫn mấp máy lẩm bẩm câu nói chưa rõ nghĩa. Duy nhẹ nhàng nâng người khỏi nệm, cố không phát ra tiếng động nào. Bàn chân trần chạm vào sàn gỗ mát lạnh, vết thương ở tay trái lại nhói lên, máu thấm nhẹ ra lớp băng gạc trắng, nhưng Duy hoàn toàn không để ý.
Duy đi lùi ra khỏi phòng ngủ, bước từng bậc thang xuống tầng một. Ánh trăng mờ ảo hắt qua cửa sổ phòng khách, soi rõ bóng đen pho tượng Phật gỗ mít ở góc phòng. Duy lướt qua nó, không dám nhìn thẳng, tim đập thình thịch trong lồng ngực.
Duy tới phòng kho nhỏ dưới chân cầu thang, nơi cất giữ toàn bộ đồ đạc cũ của Mẹ Duy sau khi bà qua đời. Duy mò mẫm tìm công tắc đèn, bóng đèn dây tóc cũ nổ lách tách, ánh sáng vàng vọt rọi xuống đống hộp carton chất đống. Duy biết rõ cái hộp kỷ vật bằng gỗ mít sơn mài đỏ mà Mẹ Duy luôn để trên nóc tủ áo, bây giờ chắc chắn nằm ở đây.
Duy lục tung mấy hộp đồ, tay run rẩy đẩy sang một bên mấy bộ quần áo cũ của Mẹ Duy, cuối cùng tìm thấy cái hộp gỗ mít sơn mài đỏ, khóa đồng đã gỉ sét từ lâu bị bẻ gãy từ khi Duy dọn nhà sửa sang. Duy mở nắp hộp, mùi hương gỗ mít cũ xộc lên mũi, lẫn với mùi nhang trầm quen thuộc của Mẹ Duy.
Bên trong hộp có mấy tấm ảnh cũ, một chiếc khăn len Mẹ Duy thường quàng, mấy cánh sen khô ép giữa trang sách, và một cuốn nhật ký bìa da đã sờn góc, trên bìa có khắc năm 2010. Duy nhấc cuốn nhật ký lên, tay run bần bật. Duy lật qua những trang giấy ố vàng, cho đến khi tìm thấy trang có cài bông nhài khô, mực viết bằng bút máy màu xanh, nét chữ run rẩy của Mẹ Duy hiện rõ:
“Năm 2010, Duy bệnh nặng, bệnh viện trả về lo hậu sự, tôi thỉnh tượng Phật này về cầu nguyện, sau 3 ngày Duy khỏi bệnh. Tượng là ân nhân của cả gia đình.”
Mắt Duy trợn trừng, tay run rẩy đến mức cuốn nhật ký suýt rơi xuống đất. Duy nhớ lại năm 2010, lúc đó Duy 22 tuổi, đột ngột lên cơn sốt xuất huyết não, bác sĩ nói tỉ lệ sống sót chỉ 5%, gia đình đã chuẩn bị hậu sự. Mẹ Duy ngày đêm ngồi bên giường, khóc đến khô cả nước mắt. Sau ba ngày bà thỉnh tượng Phật gỗ mít về, Duy bất ngờ tỉnh lại, bác sĩ cũng gọi là kỳ tích. Suốt bao năm qua, Duy luôn cho rằng đó là nhờ y học tiến bộ, chưa bao giờ liên hệ đến pho tượng gỗ cũ kỹ đặt góc phòng khách.
Nước mắt Duy trào ra, chảy dài trên gương mặt hốc hác. Duy ngồi bệt xuống sàn nhà lạnh ngắt, cuốn nhật ký ép chặt vào ngực, máu từ vết thương tay trái thấm vào trang giấy ố vàng, nhưng Duy không hề hay biết. Duy lẩm bẩm, giọng nghẹn đắng: “Mẹ… con… con không biết… con đáng chết…”
Cảm giác sốc toàn tập xộc đến, Duy nhớ lại lời ông buôn đồ cổ từ chối mua tượng, lời chị Hạnh nhắc nhở, giấc mơ đêm nay về Mẹ Duy trách móc, và cả lời Nam lẩm bẩm về bà cúi đầu bên tượng. Tất cả đều là sự thật. Duy đã định bán đi ân nhân đã cứu mạng mình, đã định vứt bỏ kỷ vật thiêng liêng nhất của gia đình để lấy tiền sửa sang căn nhà vô tri.
Duy gục đầu xuống đầu gối, nước mắt tuôn rơi không ngừng. Sự hối hận tột cùng nuốt chửng Duy, đau đớn hơn cả vết thương ở tay trái.
Duy gục đầu xuống đầu gối, nước mắt tuôn rơi không ngừng. Sự hối hận tột cùng nuốt chửng Duy, đau đớn hơn cả vết thương ở tay trái.
Duy bật dậy, cuốn nhật ký rơi khỏi tay, trang giấy dính máu vương xuống sàn. Duy lao ra khỏi phòng kho, chân trần dẫm lên nền gạch lạnh, máu từ bàn tay trái thấm qua băng gạc nhỏ giọt nhưng Duy hoàn toàn không để ý.
Duy chạy vội ra phòng khách, ánh trăng mờ ảo hắt qua cửa sổ soi rõ bóng pho tượng Phật gỗ mít ở góc phòng. Duy tiến tới, tay run rẩy nắm lấy mép chiếc khăn điều phủ tượng, giật mạnh. Tấm khăn rơi xuống thảm, lộ ra khuôn mặt hiền từ của pho tượng, đường chạm khắc thủ công trên gỗ mít hiện rõ dưới ánh sáng nhạt.
Ký ức chợt ùa về: ngày nhỏ, Mẹ Duy thường đứng bên tượng dạy Duy phải lễ phép trước tượng, mỗi lần Duy làm sai, mẹ đều bắt Duy quỳ lạy tượng để sám hối. Duy nhớ như in cảm giác trán chạm sàn lạnh, giọng mẹ dịu dàng nhắc nhở mình không được quên ơn.
Duy quỳ xuống sàn, đầu gối va mạnh xuống nền gạch, đau nhói nhưng Duy không màng. Duy cúi đầu sát đất, tiếng nức nở nghẹn ngào thoát ra: “Mẹ, con sai rồi, con vong ân, con xin lỗi mẹ.”
Tiếng chân nhỏ xíu lộp độp chạy từ cầu thang xuống. Nam mặc quần áo ngủ, tóc còn lộn xộn sau giấc ngủ, chạy ào tới ôm chặt cổ Duy, hai tay siết chặt, mắt cười tít lại: “Bà vui rồi ba ơi! Bà không giận nữa đâu!”
Duy ngẩng đầu, nước mắt chảy dài trên gương mặt hốc hác, nhìn Nam rồi nhìn lên tượng Phật, cảm giác hối lỗi dày đặc trong lồng ngực dần tan đi chút ít, thay vào đó là chút an tâm nhẹ nhõm.
Nam vẫn ôm chặt cổ Duy, má ấm áp áp vào gò má lạnh của Duy, giọng còn ngái ngủ lẩm bẩm: “Bà bảo ba ngủ đi, mai ba phải sửa tượng.”
Duy mỉm cười, tay nhẹ nhàng vỗ lưng Nam, bế Nam lên cầu thang. Ánh trăng mờ ảo phía sau vẫn soi rõ pho tượng Phật gỗ mít đứng đó, hiền từ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Sáng hôm sau, Duy tỉnh dậy từ sớm. Vết thương ở tay trái đã se lại, chỉ còn hơi nhức nhẹ. Duy bước xuống phòng khách, nhìn mảnh vỡ nhỏ ở góc áo tượng, lấy điện thoại gọi cho thợ sơn giỏi nhất khu vực: “Anh Tuấn à, qua nhà tôi sửa giúp mảnh vỡ nhỏ ở tượng Phật nhé. Phải dùng đúng sơn bóng màu gỗ mít, không được lộ vết đâu đấy. Tiền công anh cứ tính cao nhất, tôi không mặc cả.”
Thợ sơn đến sau ba mươi phút, mang theo đầy đủ dụng cụ mài, trám, sơn. Duy đứng cạnh nhìn chằm chằm từng thao tác của người thợ, không dám bỏ lỡ một chi tiết nhỏ. Mảnh vỡ được trám kỹ, mài nhẵn, sơn bóng đều đặn, để khô xong nhìn gần như không còn dấu vết nào.
Duy tự tay dọn dẹp góc phòng khách: lau sạch bụi trên kệ gỗ cũ, thay tấm khăn trải bàn mới màu kem nhạt, dời pho tượng từ góc khuất sang vị trí chính giữa bức tường lớn nhất phòng khách, ngay đối diện cửa chính. Duy cẩn thận lau từng kẽ chạm khắc thủ công trên thân tượng, rồi đặt lên bàn thờ nhỏ bên dưới một lư hương sứ mới, hộp diêm và gói hương trắng thơm.
Từ hôm đó, mỗi sáng thức dậy, việc đầu tiên của Duy là ra phòng khách thắp nén hương cho tượng, lau dọn xung quanh, rồi mới bắt đầu công việc trong ngày.
Một buổi trưa cuối tuần, vài vị khách đến nhà chơi. Vừa bước vào phòng khách, một người khách trầm trồ: “Tượng Phật nhà anh đẹp quá, nhìn tạc hay lắm, khí chất hiền từ mà uy nghiêm.”
Người khách khác gật gù: “Nghe nói tượng để ở đây hơn mười năm rồi đúng không? Linh lắm đấy, nhìn là biết có tuổi, có tâm.”
Duy mỉm cười, không nói lời nào, chỉ bước tới bên lư hương, thắp thêm một nén hương mới, khói hương cuộn tròn nhẹ nhàng bay lên. Duy nhìn pho tượng, cảm giác bình yên tràn ngập lồng ngực, thấu hiểu và trân trọng giá trị của pho tượng mà mẹ Duy đã thỉnh về hơn mười năm trước.
Một tháng trôi qua từ ngày vị khách kia trầm trồ trước pho tượng gỗ mít.
Duy bước vào văn phòng Sếp với dáng đi tự tin, bộ vest chỉnh tề. Không còn vẻ mặt hầm hố hay ánh mắt đầy toan tính như những ngày đầu muốn bán tượng để lấy tiền sửa nhà.
Sếp đặt tập hồ sơ xuống bàn, nhìn Duy chằm chằm, nụ cười hài lòng nở trên môi.
Sếp: “Tôi quyết định bổ nhiệm anh làm Giám đốc chi nhánh mới tại quận 7. Lương sẽ tăng gấp đôi so với hiện tại.”
Duy khựng lại, đôi mắt tròn xoe vì bất ngờ. Anh không ngờ sự thăng tiến đến nhanh đến thế.
Sếp đứng dậy, đi vòng qua bàn làm việc, vỗ vai Duy: “Tôi thấy anh dạo này thay đổi nhiều, trưởng thành hơn, trách nhiệm hơn. Cách anh xử lý các hợp đồng và chăm sóc nhân viên gần đây rất chuyên nghiệp. Tôi tin anh xứng đáng với trọng trách này.”
Duy cúi đầu, giọng trầm ấm đầy biết ơn: “Cảm ơn Sếp đã tin tưởng. Tôi sẽ không làm Sếp thất vọng.”
Rời khỏi văn phòng, bước chân Duy nhẹ tênh. Anh lái xe về nhà, lòng dâng lên niềm hạnh phúc lạ kỳ. Không phải vì số tiền lương khổng lồ kia, mà là vì sự công nhận, là cảm giác được đứng vững bằng chính năng lực và cái tâm đã tìm lại được của mình.
Về đến căn nhà vừa sửa sang, Duy không vội vào phòng thay đồ. Anh bước thẳng vào phòng khách. Ánh nắng chiều hắt qua rèm cửa, làm bóng tượng Phật gỗ mít sáng lên ấm áp. Duy nhìn pho tượng cao gần một mét, nhớ lại ngày ông buôn đồ cổ từ chối mua, nhớ lại lời chị Hạnh căn dặn, và cả giấc mơ của Nam đêm ấy.
Duy thầm nghĩ: “Tất cả là nhờ phước của mẹ và tượng Phật mà mẹ đã để lại.”
Anh lấy hộp diêm, bật lửa thắp một nén hương trắng. Khói hương cuộn tròn, mùi thơm thanh tao lan tỏa khắp căn phòng. Duy quỳ xuống, chắp tay trước tượng, cảm giác bình yên và viên mãn tràn ngập lồng ngực. Anh biết, mình đã thực sự trưởng thành.
Khói hương cắm trên đỉnh gốm vẫn đang tan dần trong không gian yên ắng của phòng khách. Duy từ từ đứng dậy, đôi mắt vẫn dán chặt vào pho tượng gỗ mít. Nụ cười nhẹ nhàng trên môi tượng Phật như hòa cùng ánh nắng chiều tà đang tràn qua khe rèm, tạo nên một vầng hào quang ấm áp bao trùm lấy căn nhà vừa được sửa sang.
Tiếng cười trong trẻo vang lên từ cửa. Nam, đứa bé bảy tuổi với chiếc áo sơ mi trắng tinh khôi, chạy nhào vào phòng khách. Đằng sau cậu là chị Hạnh với vẻ ngoài hiền hậu, trên tay mang theo lẵng hoa tươi và mâm ngũ quả.
Nam dừng lại ngay trước tượng Phật, đôi mắt sáng rực lên vẻ thích thú. Cậu bé chỉ tay vào khuôn mặt pho tượng, quay sang Duy với giọng reo hò:
Nam: “Ba ơi! Nhìn này, bà đang cười với con nè! Giống hệt nụ cười của mẹ hồi xưa!”
Duy khựng lại, trái tim như thắt lại. Anh bước lại gần con trai, nhìn theo hướng cậu bé chỉ. Trong ánh sáng nhập nhoạng của buổi chiều muộn, đường nét chạm khắc trên gỗ mít như mềm mại hẳn đi. Nụ cười của tượng không còn là những khối gỗ vô hồn, mà mang hơi thở của sự bình yên, như gió thoảng nhẹ nhàng.
Chị Hạnh đặt mâm quả lên bàn, tiến lại gần, giọng trầm ấm đầy xúc động:
Chị Hạnh: “Có lẽ lúc thỉnh tượng về, mẹ đã gửi gắm cả tâm hồn mình vào đây rồi. Chị nhìn thấy bà trong từng nét chạm này, nhất là cái nụ cười ấy.”
Duy không nói gì, chỉ gật đầu, đôi mắt nhòe đi vì một cảm giác xúc động khó tả. Anh nhớ lại cái ngày anh ta định bán đi pho tượng này để lấy tiền “nâng cấp” cuộc sống, và sự khinh bỉ của ông buôn đồ cổ khi nói rằng có những thứ không định giá được bằng tiền. Giờ đây, khi anh đã đứng vững bằng chính năng lực, pho tượng hiện lên như một lời nhắc nhở thiêng liêng.
Nam chạy đến bên tượng, cúi đầu lễ nhẹ. Cậu bé lẩm bẩm một mình, đôi tay nhỏ bé chắp lại:
Nam: “Bà ơi, ba con đã ngoan lắm. Bà cười để con yên tâm nhé.”
Duy quỳ xuống bên cạnh con, đặt tay lên vai Nam. Cả ba người – Duy, chị Hạnh và Nam – quây quần trước pho tượng. Ánh nắng cuối ngày dịu dàng nằm trên những bờ vai, tạo nên một bức tranh gia đình ấm áp và trọn vẹn.
Duy nhìn vào đôi mắt hiền từ của tượng Phật, thầm cảm ơn người mẹ đã khuất. Anh nhận ra, giá trị thực sự không nằm ở số tiền lương gấp đôi hay chức vụ Giám đốc, mà là khoảnh khắc anh tìm lại được sự bình yên giữa gia đình, nơi truyền thống và tình thương vẫn luôn hiện hữu, soi sáng cho anh đi đúng hướng.
Anh thầm thì, giọng trầm xuống đầy trân trọng: “Con cảm ơn mẹ. Bây giờ con đã hiểu rồi.”
Chị Hạnh mỉm cười, nhẹ nhàng vỗ vai Duy, rồi dẫn Nam sang bàn ăn chuẩn bị bữa tối. Duy đứng lại một mình trước tượng Phật thêm chút nữa, ánh nắng tà dần tắt hẳn, chỉ còn vầng hào quang nhỏ từ ngọn đèn bàn chiếu lên khuôn mặt tượng, nụ cười vẫn dịu dàng như cũ.
Đêm đó Duy ngủ ngon hơn bao giờ hết, không còn những cơn mất ngủ dằn vặt từ hôm nghe Nam lẩm bẩm giữa đêm. Sáng thứ Hai, Duy ngồi tại bàn làm việc trong căn nhà vừa sửa sang, tay lướt nhẹ trên màn hình điện thoại, mở ứng dụng mạng xã hội.
Duy gõ từng chữ, kể lại trọn vẹn câu chuyện của mình: từ lúc Mẹ Duy thỉnh tượng Phật gỗ mít về khi Duy bệnh nặng hơn 10 năm trước, đến lúc Duy suýt bán đi pho tượng để lấy tiền nâng cấp cuộc sống, sự từ chối của Ông buôn đồ cổ, lời nhắc nhở của Chị Hạnh, và giấc mơ của Nam. Duy kết bài: “Tôi từng nghĩ pho tượng này chỉ là gỗ mít cũ kỹ, không đáng giá bằng mấy đồng tiền lẻ cho cuộc sống hào nhoáng. Nhưng giờ tôi mới hiểu, kỷ vật gia đình không định giá được bằng tiền. Đừng vì lợi ích trước mắt mà vong ân bội nghĩa, đánh mất những thứ thiêng liêng nhất của mình.”
Duy nhấn nút “Đăng bài”, thở nhẹ một tiếng. Duy không nghĩ bài viết sẽ viral nhanh đến thế. Chưa đầy một giờ sau, thông báo like và chia sẻ bắt đầu nổ liên hồi. Hàng chục nghìn lượt tương tác đổ về, bình luận tràn ngập dưới bài viết.
Một người dùng viết: “Cảm ơn anh đã chia sẻ, tôi đang định bán chiếc vòng ngọc bà nội để lại để mua điện thoại mới, giờ tôi đã hủy quyết định đó.”
Người khác comment: “Đọc bài này mà rơi nước mắt, nhớ lại hồi còn định vứt bỏ cuốn nhật ký cũ của mẹ, may mà giữ lại được.”
Có cả những người xa lạ gửi tin nhắn riêng cho Duy, kể lại câu chuyện của chính họ, cảm ơn Duy đã thức tỉnh họ.
Duy ngồi nhìn màn hình điện thoại, nụ cười tự hào nở trên môi. Duy biết mình đã làm điều đúng đắn. Pho tượng Phật gỗ mít ở góc phòng khách kia, giờ không còn là vật vô tri, mà là minh chứng cho tình thương của Mẹ Duy, cho sự tỉnh ngộ của chính Duy.
Những ngày sau đó, căn nhà của Duy luôn tràn ngập ánh sáng dịu nhẹ, pho tượng Phật gỗ mít vẫn đứng đó ở góc phòng khách, chứng kiến từng khoảnh khắc bình yên của gia đình nhỏ. Duy không còn mải mê chạy theo những danh lợi hào nhoáng bên ngoài, mà dành nhiều thời gian hơn để ngồi lại với Chị Hạnh, chơi cùng Nam, hoặc chỉ đơn giản là nhìn ngắm tượng Phật, cảm nhận sự an yên mà nó mang lại. Có những buổi tối, Nam ngồi dưới chân tượng, kể cho bà nghe những chuyện vui ở trường, giọng trong trẻo vang lên trong không gian tĩnh lặng, khiến Duy thỉnh thoảng lại nhìn sang với ánh mắt dịu dàng.
Duy nhận ra rằng, cuộc sống này vốn dĩ không cần quá nhiều những thứ xa xỉ để trở nên hạnh phúc. Những giá trị cốt lõi nhất luôn nằm ở những điều giản đơn: một kỷ vật mang ký ức người thân đã khuất, một lời nhắc nhở từ chị gái, một câu nói ngây ngô của trẻ nhỏ, tất cả đều là mảnh ghép tạo nên sự bình yên trong tâm hồn. Những lúc mệt mỏi vì công việc, Duy chỉ cần nhìn nụ cười trên môi tượng Phật, nhớ lại lời dạy của Mẹ Duy năm xưa, là mọi áp lực dường như tan biến.
Giờ đây, mỗi khi có người hỏi Duy về bí quyết giữ sự bình tĩnh trước cám dỗ, Duy chỉ mỉm cười, chỉ tay về phía pho tượng gỗ mít ở góc phòng. Không cần nói quá nhiều, vì Duy hiểu rằng, có những bài học chỉ cần trải nghiệm một lần đã đủ theo suốt đời, nhắc nhở con người luôn trân trọng những gì đang có, đừng đánh đổi tình thân, đạo lý lấy lợi ích nhất thời, để rồi hối hận khi mọi thứ không còn quay lại như cũ.

