Cô bé 6 tu;/ổi con nhà đại gia giàu nhất phố, mỗi ngày đều mang một tờ giấy trắng ra cuối hành lang để ngồi viết gì đó. Một hôm cô giáo nhặt được tờ giấy bị bỏ quên, cả trường lập tức phải niêm phong hết cả tầng chỉ vì trong đó là…
Cô bé tên An Nhi, con gái duy nhất của ông Trần Quốc Duy, đại gia giàu nhất khu phố Nam Hòa – người sở hữu chuỗi khu thương mại và khách sạn lớn.
Từ ngày vào lớp 1, ngày nào cô bé cũng mang một tờ giấy trắng đến trường. Đến giờ ra chơi, Nhi luôn lẳng lặng đi xuống cuối hành lang tầng 3, ngồi một góc dựa tường để viết gì đó.
Điều lạ là: lúc ra chơi về lớp, tờ giấy lại trống trơn. Bạn bè nhìn vào không có gì ngoài trang trắng. Mọi người nghĩ cô bé nghịch ngợm vẽ rồi xóa, trẻ con mà.
Cho đến sáng thứ Hai hôm đó.
Trời mưa nhẹ, Nhi vào lớp hơi vội. Hết giờ ra chơi, cô giáo Phương đi xuống cuối hành lang kiểm tra thì thấy một tờ giấy trắng rơi dưới chân tường, chính là chỗ Nhi vẫn ngồi viết.
Cô Phương cúi xuống nhặt lên, định bụng đưa lại cho bé. Nhưng khi đưa ra ánh sáng, cô phát hiện một chuỗi chữ mờ mờ… như được viết bằng bút chì rồi tẩy qua loa.
Cô Phương nheo mắt nhìn kỹ…
Và tim cô như thắt lại.
Ngay lập tức, cô chạy ngược lên phòng giám hiệu, đóng sập cửa. Chỉ 10 phút sau, ban giám hiệu niêm phong toàn bộ tầng 3, yêu cầu học sinh tạm thời xuống sân, giáo viên không được giải thích lý do. 👇👇👇
Nắng sớm le lói qua khe mái nứt của kho nhà ông Ba cuối xóm Đông Trại, chiếu thẳng vào 100 chiếc chum sành vỡ nứt, mắm tôm nâu xám đục ngầu trào tràn ra nền đất, bốc mùi thối nồng nặc xộc thẳng vào mũi. Váng trắng nổi lềnh bềnh, lẫn những sợi đen dài ngoằng như tóc người quấn quýt vào nhau, lình thình trong đống mắm hỏng.
Ông Ba đứng lặng giữa kho, chân bỗng khuỵu xuống, ngồi bệt ngay xuống nền đất lạnh lẽo. Tay ông đập liên tục vào đùi, đập đến đỏ ửng cả lớp da nhăn nheo vì bao năm phơi sương dãi nắng làm nghề, nước mắt lưng tròng trào ra khóe mắt hằn sâu những nếp nhăn.
Vợ ông Ba từ ngoài cửa lao vội vào, chân vấp phải cục gạch vỡ suýt ngã. Bà cầm chiếc muôi múc đầy một muôi mắm hỏng, đưa lên mũi ngửi rồi đưa vào miệng nếm thử. Bất giác mặt bà tái mét, lập tức nhổ ồ ạt xuống đất, tay đập liên tục vào ngực, ho sặc sụa đến mức nước mắt giàn giụa.
Ông Ba gào lên, giọng khản đặc, run rẩy đến mức lời nói đứt quãng: “Mồ hôi nước mắt bao nhiêu năm nay, giờ sạch trơn rồi! 100 triệu! Cả đời tích cóp, giờ mất sạch rồi!”
Vợ ông Ba quỳ xuống cạnh ông, tay nắm chặt lấy cổ tay gầy guộc của ông, nước mắt nhỏ giọt lên mặt ông: “Tại tôi! Tại tôi không canh chừng kho kỹ! Đêm qua ông cãi nhau với thằng Tín xong về bảo nghe tiếng động lạ trong kho, tôi còn bảo ông mơ màng! Giá mà tôi dậy kiểm tra thì đâu đến nỗi này!” Bà khóc nấc lên, vai run lẩy bẩy, mắt nhìn đống mắm hỏng mà trợn trừng, hối hận đến mức muốn ngất đi.
Ông Ba lắc đầu, mắt đỏ hoe nhìn đống chum vỡ. Ba đời cha ông làm nghề ủ mắm tôm truyền thống, mỗi tháng bán cả tấn mắm cho dân buôn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, giờ uy tín bao năm dựng lên cũng theo đống mắm hỏng mà trôi sạch. Ông nhíu mày nhìn những sợi đen trong chum, thầm nghĩ: “Sợi đen này là gì? Ai hãm hại mình dã man thế?” Nhưng nỗi đau mất trắng quá lớn, ông không kịp truy cứu, chỉ đập tay xuống đất, gào thét trong tuyệt vọng.
Tiếng gào thét tuyệt vọng của ông Ba vừa dứt, cả xóm Đông Trại đã ùa sang như nước vỡ tràn đê. Họ vây kín lấy kho chum, kẻ đứng đầu ngõ, người ghé sát cửa sổ, tất cả đều bịt chặt mũi vì mùi thối rữa nồng nặc bốc lên.
Đám đông xì xào như đàn ong vỡ tổ. Một gã đàn ông cổ đeo vành khăn rằn, nhô người qua khe cửa, chỉ tay vào đống mắm nát bét: “Trời đất! 100 chum mà để hỏng sạch thế này thì phơi xác ai? Nhìn cái váng trắng với sợi đen lình thình kia kìa, ghê tởm quá!”
Một bà lão tay chắp vái, lùi lại mấy bước, giọng run lẩy bẩy: “Trông như tóc người nhỉ? Ác quá, ai nỡ làm thế? Nhà ông Ba hiền lành, làm nghề sạch sẽ ba đời nay mà bị hại độc thế này, chắc là có oan gia trái chủ rồi!”
Ông Ba đang ngồi bệt dưới đất, nghe đến chữ “tóc người”, bỗng giật bắn mình. Đôi mắt đỏ ngầu lập tức hướng về phía đống chum vỡ. Ông bò nhanh trên nền đất lạnh, tay run rẩy cầm một chiếc đũa gắp nhẹ một sợi đen dài ngoằng lên khỏi lớp mắm nâu xám.
Sợi đen ấy bết lại vì nước mắm, mảnh mai nhưng dai dẳng. Ông Ba đưa sát lên mắt, soi kỹ dưới ánh nắng hắt qua khe mái. Một luồng điện lạnh buốt chạy dọc sống lưng ông. Đó không phải rác rưởi hay rong rêu, cũng chẳng phải tạp chất mắm tôm. Đó là tóc thật! Tóc người!
Mặt ông Ba tái đi trong tích tắc, máu rút hết về tim. Ông lắp bắp, giọng khản đặc vì gào thét lúc nãy: “Đây là tóc ai? Sao lại ở trong mắm nhà tao? Ai đã bỏ vào đây?”
Vợ ông Ba cũng hoảng hốt chạy đến, nhìn sợi tóc trên tay chồng, bà run lẩy bẩy đến mức không nói nên lời. Bà nhìn đống chum hỏng, rồi nhìn sang đám đông đang xì xào bàn tán với ánh mắt vừa tò mò vừa sợ hãi.
Dân xóm bắt đầu rỉ tai nhau những lời đầy ác ý. “Chắc chắn có kẻ phá hoại rồi!”, “Nhà này bị thù chuốc phải không?”, “Thôi xong, mắm có tóc thế này thì uy tín ba đời đổ sông đổ biển rồi, còn ai dám mua nữa!”
Ông Ba nắm chặt sợi tóc trong lòng bàn tay gầy guộc, cảm giác bất an dâng lên tột độ. Ông nhíu chặt mày, nhớ lại đêm hôm trước, tiếng động lạ trong kho sau khi ông vừa cãi nhau nảy lửa với thằng Tín. Sợi tóc lạ này chính là bằng chứng hữu hình đầu tiên, đập tan đi cái suy nghĩ “tại mình làm hỏng” mà ông vừa tự trách. Kẻ gian đã lộ diện dấu vết!
Giữa lúc không khí đằng đằng sát khí, một chiếc xe máy cũ kỹ từ ngoài thị trấn phanh gấp trước sân nhà ông Ba. Tín bước xuống, tay chỉnh lại cổ áo sơ mi bóng loáng, ánh mắt lướt qua đống chum vỡ tan hoang với vẻ thản nhiên đến mức lạnh lùng. Gã đứng đó, khẽ nhếch mép cười nhạt trước thảm cảnh của người nghệ nhân ba đời.
Ông Ba vừa nhìn thấy Tín, máu xông lên não. Ông gạt đám đông sang một bên, lao thẳng đến túm lấy cổ áo gã lái buôn, siết chặt đến mức nghẹt thở. Mắt ông đỏ ngầu, gân cổ nổi cuộn lên vì phẫn nộ tột độ.
“Mày hại tao đúng không? Đêm qua mày cãi tao đóng vơi, giờ mắm hỏng là mày làm! Gần 100 triệu đồng, mày định hại chết tao à?”
Tín không hề hoảng loạn. Gã bình tĩnh gỡ từng ngón tay khèo nhèo của ông Ba ra khỏi cổ áo mình, dáng vẻ vẫn đĩnh đạc và đầy vẻ ngang nhiên.
“Chú bình tĩnh đi. Tôi đi lấy hàng đúng giờ, làm sao hại được. Chú đừng có vu oan cho người ta.”
Tiếng cãi vã thu hút thêm hàng xóm trong xóm Đông Trại vây kín hàng rào. Bà con xì xào, chỉ trỏ vào Tín với ánh mắt nghi ngờ. Vợ ông Ba ôm ngực, nước mắt lưng tròng giận dữ nhìn gã lái buôn: “Mày đứng đó mà cười nhạt, ác quá đi! Đêm qua tao nghe tiếng động lạ trong kho, chắc chắn là mày!”
Tín lắc đầu, giọng điệu sắc lạnh, cố tình nói to để cả xóm nghe thấy: “Tôi là lái buôn, tôi cần mắm ngon để bán chứ không đi phá hỏng hàng hóa của mình. Chú Ba ạ, chú già rồi nên người ta mới lừa gạt chứ trách nhầm người vô tội thì oan lắm.”
“Vô tội? Mày cãi nhau với tao đùng đùng đêm qua, hôm nay mắm thối, sợi đen lạ xuất hiện đầy trong chum thế kia, mày bảo không liên quan?!” Ông Ba run rẩy, tay chỉ vào đống mắm nâu xám bốc mùi hôi rữa, trong đầu hiện rõ hình ảnh sợi tóc người lúc nãy.
Tín khẽ nhún vai, ánh mắt lướt qua sợi tóc trên tay ông Ba một cách khinh bỉ nhưng thoáng qua đó là một sự lạnh lẽo khó nhận ra. “Chú cứ việc suy diễn. Công an đến điều tra thì tôi sẵn sàng hợp tác. Chứ giờ chú cứ túm cổ tôi thế này, chẳng khác gì kẻ hết đường đi mà cố vùng vẫy.”
Dân buôn các tỉnh đứng xem cũng bắt đầu thì thầm: “Đúng là lạ thật, ngon lành thế mà hỏng sạch, lại còn có tóc người… Chắc chắn có nội gian rồi.”
Ông Ba cảm thấy chóng mặt trước sự ung dung của Tín. Gã lái buôn này quá bình tĩnh, bình tĩnh đến mức đáng sợ, như thể gã đã nắm chắc mọi tình thế. Ông Ba thầm nghĩ: “Kẻ gian là mày, chắc chắn là mày! Tao sẽ tìm ra bằng chứng để tố cáo mày.”
Tín nhếch mép cười nhạt, không thèm đáp lại lời nào, leo lên chiếc xe máy cũ kỹ, vặn ga phóng vút đi giữa tiếng xì xào của dân xóm Đông Trại và mấy người dân buôn các tỉnh. Đám đông dần tan, ai nấy lắc đầu ngán ngẩm trước cảnh hàng trăm chum mắm vỡ nát, mắm thối bốc mùi nồng nặc giữa sân.
Ông Ba đứng lặng giữa sân, nhìn theo bóng xe biến mất ở khúc cua cuối xóm, nắm chặt tay đến mức khớp xương kêu rắc rắc.
Vợ ông Ba từ trong nhà chạy vội ra, áo bà ba nhăn nhúm, mặt mũi nhợt nhạt, nước mắt ròng ròng chảy dài. Bà lao thẳng vào ngực ông, khóc nức nở đến mức không thốt nên lời, vai run bần bật vì sợ hãi và hối hận.
“Chết chú ơi… chết chú ơi…” Bà tức tưởi nức nở, tay bấu chặt vào vạt áo sờn của ông Ba.
Ông Ba nhẹ nhàng vỗ lưng vợ, dẫn bà vào trong nhà, ngồi xuống cái bàn gỗ đã mòn mặt vì mấy chục năm làm nghề. Ly trà nguội ngắt đứng im trên mặt bàn, bụi mắm vẫn còn vương vãi khắp sân, không khí trong nhà nặng nề đến mức thở không thông.
Vợ ông Ba lau nước mắt bằng gấu áo, mũi đỏ hoe, giọng nghẹn ngào kể lại từng chữ: “Đêm qua… đêm qua sau khi chú cãi nhau với Tín xong, tao về nhà nằm mà tim đập thình thịch không ngủ được. Đến canh ba, tao nghe tiếng động lạ ở kho chum… sột soạt, có tiếng vật gì va mạnh vào chum sành, nghe rõ mồn một từ trong nhà…”
Bà dừng lại, ụm ụm khóc thêm một hồi, mũi thút thít: “Tao tưởng là mèo hoang hay chuột chạy vào kho trộm mắm, nên lăn người sang phía khác, bịt chăn kín đầu không ra xem. Giờ nghĩ lại… nếu lúc đó tao ra kho, biết đâu đã bắt được kẻ gian, mắm không hỏng hết thế này…”
Ông Ba đột ngột đập mạnh tay xuống mặt bàn gỗ, làm ly trà nhảy lên bật ngược, nước trà văng tung tóe. Mặt ông tái xanh, gân cổ nổi lên cuồn cuộn, mắt đỏ ngầu nhìn thẳng vào vợ: “Sao bà không báo tôi ngay lúc đó? Có thể lúc đó kẻ gian đã ra tay! Gần 100 chum mắm, gần 100 triệu đồng, bà biết không?!”
Vợ ông Ba giật mình, rồi gục hẳn đầu vào vai ông Ba, khóc nức nở, giọng đầy hối lỗi: “Tao sai rồi… tao quá chủ quan… tao tưởng chỉ là mèo hoang thôi mà… giờ mắm hỏng hết, tao thương chú, thương cơ nghiệp mấy đời này… tao hối hận lắm…”
Bà run rẩy, sợ hãi đến mức răng va vào nhau kêu lách cách. Nỗi hối hận xâm chiếm toàn bộ tâm trí bà, nước mắt thấm ướt cả vải áo sờn của ông Ba. Bà thầm nghĩ vội vã: “Giá ra kho lúc đó thì tốt rồi.”
Ông Ba thở dài, vòng tay ôm lấy vợ, nhưng trong lòng ông, sự nghi ngờ lại càng dâng lên cao hơn. Tiếng động lạ nửa đêm, Tín vừa cãi nhau với ông, lô mắm hỏng đột ngột, sợi tóc lạ trong chum… Tất cả dường như đều chỉ về gã lái buôn trẻ mấy thị trấn. Ông nhìn ra kho chum nát tan ngoài sân, lòng lo lắng như lửa đốt. Ông thầm nhủ: “Phải tìm bằng chứng tố cáo Tín.”
Ông Ba buông Vợ ông Ba, bước vội ra sân, hướng thẳng về phía kho chum nằm trong Nhà ông Ba. Cánh cửa gỗ lim dày đóng kín từ đêm hôm trước, ổ khóa đồng cũ kỹ treo lủng lẳng trên chốt. Khi Ông Ba tiến lại gần, ánh mắt sắc bén của nghệ nhân ủ mắm 3 đời lập tức nhận ra bất thường: thân ổ khóa bị cắt toạc một vết sâu, mép kim loại cong vênh, còn dính vệt dầu mỡ tươi nguyên.
Ông Ba quay vào nhà, gọi điện cho thợ khóa ở đầu Xóm Đông Trại. Chưa đầy mười phút sau, người thợ khóa mang đồ nghề đến, quỳ xuống sát chân cửa kho, dùng ngón tay thấm nhẹ vào vết cắt rồi nhíu mày, chỉ thẳng vào vết rạch sắc lẹm trên thân khóa:
“Anh Ba nhìn này, vết cắt này mới toanh, chắc đêm qua thôi. Kẻ gian dùng kìm cộng lực cắt đứt khóa trong tích tắc, cắt xong còn lau dầu cho khóa không gỉ sớm, định che giấu sự việc. Anh nên báo công an ngay, kẻo tài sản mất thêm.”
Ông Ba lắc đầu, mặt tái xanh, tay siết chặt mép cửa kho đến mức khớp tay trắng bệch. Ông Ba thầm nghĩ: “Báo công an thì cả Xóm Đông Trại biết nhà ông Ba bị trộm, dân buôn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định nghe tin sẽ không dám đặt hàng nữa.”
“Không được báo công an.” Giọng Ông Ba khàn đặc, cương quyết lắc đầu liên tục. “Báo công an thì mất uy tín, ai dám mua mắm nhà tao nữa? Dân buôn các tỉnh nghe tin nhà ông Ba bị phá hoại, mắm hỏng, họ sẽ tẩy chay, cơ nghiệp mấy đời này coi như bỏ sạch.”
Thợ khóa nhíu mày, thu dọn đồ nghề, lắc đầu ngán ngẩm: “Anh Ba suy nghĩ kỹ đi, không báo chính quyền thì kẻ gian sẽ còn quay lại, lần sau có khi không chỉ phá mắm đâu. Gần 100 triệu đồng mắm hỏng rồi, tính sao?”
Ông Ba không đáp, đứng lặng nhìn vết cắt trên ổ khóa, lòng lo lắng như lửa đốt. Ông Ba thầm nhủ: “Phải tự mình tìm bằng chứng, không để công an nhúng tay vào.”
Điện thoại trên tay Ông Ba reo liên tục, âm thanh chát chúa xé toạc bầu không khí nặng nề của Nhà ông Ba. Vợ ông Ba từ trong bếp chạy vội ra, mặt tái mét, giơ cao chiếc điện thoại: “Chú Ba! Khách Hà Nội vừa gọi, bảo hủy hết đơn đặt hàng tuần tới. Cả tấn mắm đấy! Họ nói mắm mình bị bỏ độc, chẳng ai dám mua nữa rồi!”
Lồng ngực Ông Ba thắt lại. Kẻ gian không chỉ đập nát 100 chum mắm, mà còn tung tin đồn độc địa để dập tắt uy tín ba đời. Ông Ba lập tức bấm số gọi lại cho khách hàng sỉ lớn nhất ở Hà Nội. Tiếng tút… tút… kéo dài đến mức nghẹt thở.
“Alô? Anh Ba à?” Giọng người đàn ông phía đầu dây lạnh tanh như băng giá.
“Anh Sơn ơi, nghe em nói này! Mắm hỏng chỉ lô này thôi, mấy lô khác vẫn ngon, anh lấy giúp tôi!” Ông Ba năn nỉ, giọng run rẩy, hạ sát cái tự tôn của một nghệ nhân ủ mắm lão luyện. “Em cam đoan mắm vẫn chuẩn, em còn dùng chính thân mình để đảm bảo cho anh xem!”
Bên kia đầu dây, khách hàng thở dài, giọng đầy vẻ dứt khoát: “Tin đồn bay khắp nơi rồi, anh Ba ạ. Giờ Hải Phòng, Nam Định đều hủy đơn sạch rồi. Ai dám mua mắm của ông lúc này? Người ta bảo ông dùng hóa chất độc hại, có cả sợi đen lạ trong chum nữa kìa. Xin lỗi anh Ba nhé, coi như chúng ta tạm ngưng hợp tác.”
Cạch! Tiếng máy cúp ngang sọc khiến Ông Ba ngã ngửa vào ghế mây cũ kỹ. Điện thoại liên tục rung lên trong lòng bàn tay chai sần.
“Chú ơi, khách Nam Định hủy hết cả tấn mắm!”
“Chú Ba, bên Hải Phòng báo không nhận hàng nữa, họ sợ mang tiếng bán đồ độc!”
Tiếng thông báo hủy đơn hàng dội vào tai Ông Ba như những nhát búa chí mạng. Ông Ba ngồi thụp xuống đất, đôi bàn tay vụn vỡ ôm lấy đầu. Cả tấn mắm tuần tới giờ thành giấy lộn, gần 100 triệu đồng vốn liếng cùng với danh tiếng cả đời người bỗng chốc tan biến.
“Tại sao… Tại sao lại độc ác thế?” Ông Ba rên rỉ, đôi mắt đỏ hoe nhìn về phía kho chum lạnh lẽo, nơi những sợi đen như tóc người đang nổi lềnh bềnh trong váng trắng.
Vợ ông Ba đứng lặng người, nước mắt lăn dài trên gò má hằn sâu vì sương gió. Căn nhà nghèo cuối Xóm Đông Trại chìm trong không khí chết chóc của mắm thối và sự tuyệt vọng tột cùng.
Đôi bàn tay chai sần của Ông Ba siết chặt cho đến khi các khớp xương trắng bệch. Sự tuyệt vọng trong căn nhà cuối xóm Đông Trại bỗng chốc bị xé toạc bởi một tia sáng lạnh lẽo trong ánh mắt ông. Không thể để uy tín ba đời tan biến trong mùi mắm thối. Ông Ba đột ngột đứng bật dậy, làm vợ ông giật mình lùi lại.
“Chú Ba, chú định đi đâu lúc này? Khách hủy hết rồi, mình về kho ngồi mà tính đường…” Giọng bà vợ run rẩy trong nước mắt.
Ông Ba quệt vội gò má, giọng khàn đặc lại vì phẫn nộ: “Tính đường? Tao sẽ đi đòi lại danh dự cho tổ tiên! Mắm hỏng thì tao ủ lại được, chứ ai đấy đổ oan cho tao dùng độc chất thì tao phải tìm ra tông tích.”
Suốt hai ngày liền, Ông Ba không về nhà. Ông bám đuôi Thằng Tín từ ngoài thị trấn về tận các ngả đường trong xóm. Ban ngày, ông đội chiếc nón lá sờn rách, lẫn vào đám đông những người bán hàng rong, đôi mắt già nua nhưng sắc lạnh không rời dáng vóc gầy gò của lái buôn. Tín đi lại như một con thoi, gặp gỡ nhiều dân buôn, nhưng chưa hề có dấu hiệu gì đáng ngờ cho đến tối thứ hai.
Tại một quán cà phê vắng vẻ, khuất sau những lùm cây cuối thị trấn, Thằng Tín bất ngờ dừng xe. Ông Ba vội vàng lánh sang một gốc cây to, thò đầu quan sát qua khe cửa sổ nhòe mờ khói thuốc. Một gã đàn ông lạ mặt, ăn vận chỉn chu, bước xuống từ chiếc ô tô biển số lạ. Hai người ngồi vào góc khuất nhất, nơi ánh đèn vàng vọt chỉ vừa đủ soi rõ gương mặt họ.
Ông Ba nín thở tiến lại gần hơn. Qua lớp kính mờ, ông thấy Tín rút từ trong túi áo lót ra một phong bì cộm. Hắn đẩy nhanh sang cho gã kia. Gã lạ mặt mở ra, mỉm cười hài lòng khi thấy số tiền dày cộm, rồi đẩy lại cho Tín một phong bì khác, dày hơn nhiều.
Tay Ông Ba run lên bần bật khi lôi chiếc điện thoại cũ kỹ ra khỏi túi. “Cạch! Cạch!” Ánh đèn flash lóe lên trong bóng tối lờ mờ, thu trọn khoảnh khắc Tín và gã lạ mặt đang móc nối. Ông Ba nhìn vào màn hình: rõ mặt Tín, rõ gã lạ mặt, và rõ cả phong bì giữa chừng.
“Quả nhiên tụi nó có âm mưu!” Ông Ba gầm gừ, máu căm phẫn sôi trào trong huyết quản, gương mặt ông tái mét dưới ánh trăng khuya.
Ông Ba nhìn chằm chằm vào bức ảnh trên chiếc điện thoại cũ kỹ, ánh sáng màn hình hắt lên gương mặt hốc hác dưới ánh trăng khuya. Ông phóng to ảnh, ghi nhớ từng chi tiết trên gương mặt gã đàn ông lạ mặt: hàm râu cạo nhẵn, nốt ruồi nhỏ dưới khóe mắt trái, biển số xe 29A đậu phía sau rõ mồn một. Ông Ba thở hắt ra, cất điện thoại vào túi áo sờn, đẩy chiếc xe đạp cũ dựa gốc cây, đạp nhanh về hướng chợ thị trấn.
Sáng hôm sau, Ông Ba đứng trước quán cà phê tấp nập khách lái buôn, giơ tấm ảnh in ra từ máy tính xóm trưởng cho bà chủ quán đang lau bàn: “Bà thấy gã này chưa? Mấy hôm trước có đi cùng thằng Tín không?” Bà chủ nheo mắt nhìn kỹ, gật đầu: “Ừ, nó tên Hùng, làm thợ kiểm tra chất lượng mắm cho mấy công ty thực phẩm tỉnh. Mới thuê nhà cuối phố Trần Phú hồi tháng trước đấy.”
Ông Ba gật đầu, không nói thêm lời, quay đầu đi thẳng. Chưa đầy một tiếng sau, ông đã đứng trước căn nhà thuê cửa đóng then cài của Hùng. Ông Ba gõ cửa ba tiếng, mạnh và dứt khoát. Hùng mở cửa, nhìn ông Ba từ trên xuống dưới, nhướng mày: “Bác tìm ai?”
“Tao tìm mày.” Ông Ba đưa tấm ảnh lên, chỉ thẳng vào gương mặt Hùng. “Về nhà tao uống chén nước, có chuyện cần hỏi thẳng.” Giọng Ông Ba khàn đặc, không chấp nhận sự từ chối. Hùng nhún vai, cầm áo khoác khoác lên vai, đi theo ông.
Kho chum mắm tôm nằm sau gian nhà chính, mùi mắm chua nồng bốc lên đặc quánh. Ông Ba dẫn Hùng vào nhà, vợ ông Ba đang ngồi nhặt rau ở góc bếp, liếc nhìn khách lạ rồi cúi đầu tiếp tục công việc. Ông Ba kéo chiếc ghế gỗ mời Hùng ngồi, tự mình ngồi đối diện, đôi mắt sắc lạnh dán chặt vào gã đàn ông.
“Mày có nhận tiền của thằng Tín để hại lô mắm 100 chum của tao không?” Câu hỏi xé toạc bầu không khí im lặng, giọng Ông Ba run run vì kìm nén phẫn nộ.
Hùng ngả người ra sau ghế, cười khẩy, tiếng cười vang lên trong căn nhà nhỏ. “Ông già cẵn, nói năng không giữ gìn. Tôi là thợ kiểm tra chất lượng mắm được cấp phép, Tín nhờ tôi kiểm tra lô mắm của ông thôi. Có gì đâu mà hại hóc?”
Ông Ba nhíu mày, hai tay siết chặt thành ghế gỗ đến trắng khớp. “Kiểm tra chất lượng sao lại cắt khóa cổng kho, lẻn vào giữa đêm hôm? Mấy sợi tóc rụng trong chum mắm, không phải của mày thì của ai?” Ông Ba lục trong túi áo ra một chiếc túi zip nhỏ, bên trong là mấy sợi đen dài như tóc người, ném mạnh lên bàn. “Đây, dân buôn Hà Nội còn trả lại tao, hỏi tao dùng độc chất gì mà mắm thối nhanh thế!”
Hùng nhìn mấy sợi tóc, sắc mặt không đổi, vẫn bình thản trả lời: “Tối hôm đó tôi đi kiểm tra kho, vô ý làm rụng tóc vào thôi. Còn cắt khóa thì do ổ khóa cũ quá, tôi đẩy cửa mạnh nên gãy, định báo lại cho ông sau chứ có ý định gì đâu.” Hùng vuốt vạt áo, giọng điệu ngang nhiên. “Lô mắm đó hỏng là do ông ủ không đúng quy trình, tôi đã ghi đầy đủ trong báo cáo gửi Tín rồi. Ông muốn kiện tụng gì cứ việc.”
Ông Ba đứng bật dậy, ghế gỗ ngã ra sau sàn nhà kêu rắc rắc. Hoang mang và bối rối len lỏi trong lồng ngực ông, nhưng ông vẫn cố giữ giọng vững vàng. “Quy trình ủ mắm ba đời nhà tao, ai cũng công nhận. Mày nói dối, tao đã có ảnh mày nhận tiền của Tín đêm hôm đó ở quán cà phê!”
Hùng cười nhạt, đứng dậy chỉnh lại cổ áo. “Ảnh gì chứ? Tín nhờ tôi kiểm tra mắm, đưa phong bì thù lao thôi. Ông mà loan tin tầm bậy, tôi kiện ông tội vu khống.” Hùng quay lưng đi về phía cửa, giọng vọng lại: “Bảo Tín không trả tiền thù lao đủ cho tôi, lần sau tôi không giúp nữa.”
Vợ ông Ba chạy từ bếp ra, nắm lấy tay ông, nước mắt ròng ròng: “Chú Ba, mày làm gì mà hung thế? Hắn nói có giấy tờ đàng hoàng, mình làm sao chứng minh được?” Ông Ba đứng sững giữa nhà, nhìn tấm ảnh trên bàn, rồi nhìn bóng Hùng biến dần ở đầu ngõ, lòng nặng trĩu như đá.
Vợ ông Ba vẫn nắm chặt cổ tay ông, nước mắt thấm đẫm vạt áo sờn của ông. Ông Ba hất nhẹ tay vợ ra, bước nhanh về phía kho chum phía sau nhà. Mùi mắm thối nồng nặc xộc thẳng vào mũi, hàng trăm chiếc chum nâu xám xếp thành hàng dài, váng trắng nổi lềnh bềnh trên mặt nước mắm đục ngầu. Ông Ba khom lưng, múc một vốc nước mắm từ chum số 12, lọc qua rây inox nhỏ, nhặt thêm ba sợi đen dính chặt trong nước, bỏ vào chiếc túi zip nhỏ vẫn để trên bàn gỗ cạnh kho.
Sáng hôm sau, Ông Ba đạp chiếc xe đạp cũ kỹ, mang túi mẫu đến cơ sở xét nghiệm chất lượng nông sản tỉnh. Ông đứng chờ suốt ba tiếng trước cửa phòng thí nghiệm, mắt không rời khỏi tấm kính nhỏ nhìn vào phòng làm việc của kỹ thuật viên. Đến trưa, ông cầm tấm phiếu hẹn, được báo sẽ có kết quả sau hai ngày.
Hai ngày sau, Ông Ba nhận được cuộc gọi từ cơ sở xét nghiệm, bảo ông lên lấy kết quả gấp. Ông vội vàng khóa cổng nhà, đạp xe như điên về phía thị trấn. Khi cầm tờ kết quả xét nghiệm trên tay, những ngón tay gầy guộc của ông run rẩy đến mức suýt làm rách tờ giấy. Tờ kết quả ghi rõ: “Mẫu sợi đen thu thập từ 100 chum mắm tôm hỏng của hộ ông Ba là tóc người thật, dính hàm lượng cao chất độc diệt khuẩn mạnh, ức chế hoàn toàn quá trình lên men tự nhiên của mắm tôm, làm mắm thối rữa trong thời gian cực ngắn.”
Ông Ba đập mạnh nắm tay xuống mặt bàn gỗ, tờ kết quả văng ra nửa mét, rơi xuống nền nhà lát gạch cũ. “Đúng là có kẻ hại! Giờ mới biết chất độc gì!” Giọng ông khàn đặc, run rẩy vì kìm nén phẫn nộ, gân xanh nổi lên dọc theo thái dương hốc hác.
Vợ ông Ba đang nhặt rau ở góc bếp chạy lại, nhặt tờ kết quả lên đọc, mặt tái mét: “Chú Ba, thế là hắn nói dối? Không phải do mình ủ sai quy trình?”
“Tóc nó rụng đầy trong chum, chất độc nó bỏ vào, giờ có giấy trắng mực đen, xem nó còn chối cãi sao được.” Ông Ba siết chặt tờ kết quả đến nhăn nhúm, ánh mắt sắc lạnh hướng về phía thị trấn. Hy vọng tìm ra kẻ gian trỗi dậy mạnh mẽ trong lồng ngực ông, thay thế cho cảm giác nặng nề lúc trước.
Tiếng gõ cửa vang lên gấp gáp, cắt ngang sự tĩnh lặng đầy uất hận trong nhà ông Ba. Vợ ông Ba đang định mở lời an ủi thì cánh cửa bất ngờ bị đẩy mạnh. Thằng Tín đứng đó, thở hổn hển, khuôn mặt lấm lem bụi đường nhưng ánh mắt lại sáng rực một vẻ gì đó rất lạ.
“Ông Ba! Xem này!” Tín bước nhanh vào, không chờ mời, tay siết chặt chiếc điện thoại như thể nó là vật báu.
Ông Ba nhíu mày, gân xanh ở thái dương vẫn còn nổi đầy. Ông nhìn Tín với ánh mắt đầy nghi kỵ. Kẻ từng cãi nhau sằng sặc về chuyện đóng vơi mắm chưa đầy vài ngày trước, giờ lại đột ngột xuất hiện lúc nhà đang rối bời như thế này. “Mày làm gì đây? Tao không có thời gian hòng hóc với mày đâu.”
Tín không nói nhiều, lướt nhanh màn hình rồi đưa điện thoại sát trước mặt ông Ba. “Tôi biết ông đang điên tiết lên vì lô mắm hỏng. Nhưng nhìn kỹ đi, đừng vội đuổi khách.”
Trên màn hình, ánh đèn pin lờ mờ hiện lên cảnh một người đàn ông lạ mặt, cơ thể gầy gò, mặc áo sờn vai, lẻn vào kho chum đêm hôm trước. Hắn ta cầm một chai chất lỏng, tay run rẩy rót thẳng vào chum số 12. Khi cúi người xuống, một búi tóc xơ xác rụng xuống, rơi lăn vào trong chum mắm.
Đôi mắt ông Ba trợn trừng, tròng mắt đỏ ngầu vì thức khuya và căm phẫn. Ông Ba bất giác lùi lại nửa bước, giọng nghẹn lại: “Thằng này là ai? Sao tao không biết? Tay này từ đâu lòi ra thế?”
Tín thản nhiên bỏ điện thoại vào túi, gật đầu đầy ẩn ý. “Ông không biết là phải. Tôi thấy nó lảng vảng suốt mấy ngày quanh xóm Đông Trại, mắt láo liên nhìn kho chum nhà ông, nên tôi lắp camera bí mật từ hôm ông cãi nhau với tôi ở chợ. Tôi sớm biết ông Ba không phải dạng vừa đâu, nhưng không ngờ lại có kẻ hèn hạ thế này.”
Nghe đến đây, nắm đấm của ông Ba siết chặt lại. Lời tiết lộ của Tín như một mũi kim xuyên thủng bầu không khí nghi ngờ mù mịt. Có kẻ hãm hại ông, và Tín – kẻ thù trong làm ăn – lại là người mang bằng chứng sống về tận cửa.
Ông Ba quắc mắt nhìn Tín, giọng gằn từng chữ: “Nhà nó ở đâu? Tao phải gặp mặt con người hại đời này.” Tín lấy bút, vội vã ghi địa chỉ lên tờ giấy đưa cho ông. “Số 15, ngõ hẹp ngoài thị trấn. Ông cẩn thận, nó có bè lũ đấy.” Ông Ba không nói thêm, siết chặt nắm đấm, phóng như bay ra khỏi nhà.
Tại một căn nhà cấp bốn nhem nhuốc cuối xóm, tiếng cười nói ồn ào vọng ra ngoài. Ông Ba dừng lại trước cửa, thở dốc. Qua khe cửa, ông thấy tên lạ mặt đang ngồi quây quần cùng ba, bốn kẻ khác, trên bàn đầy bia rượu và món nhậu rẻ tiền. Hắn vỗ bàn, giọng lè nhè: “Tao vừa bán được mớ mắm ngon tuyệt vời. Đếm xem, bao nhiêu đây?” Hắn xòe ra một xấp tiền lẻ, khoe khoang với bạn bè. Những kẻ xung quanh trầm trồ, vỗ tay.
Ông Ba cảm thấy máu nóng dồn lên não. Ông đẩy tung cửa, mắt đỏ ngầu, gào thét: “Mày hại 100 chum mắm của tao, tao kiện mày!”
Hắn đứng dậy, vỗ ngực, nhìn ông Ba với vẻ ngang ngược: “Tao làm gì chứng minh được? Mày cứ kiện đi, tao sợ à?”
Hắn cười nhếch mép, vẻ ngang ngược tưởng rằng ông Ba chỉ là kẻ tay không bắt giặc. Ông Ba không hề nao núng, đôi mắt rực cháy sự quyết tâm. Ông lạnh lùng rút điện thoại từ trong túi quần ra, ngón tay lướt nhanh trên màn hình.
“Chứng minh hả? Xem kỹ này,” ông Ba gằn giọng, đưa màn hình điện thoại thẳng vào mặt kẻ gian. Trong video, rõ ràng là hình ảnh kẻ gian lén lút đột nhập vào kho chum đêm hôm đó, tay cầm lọ thuốc bỏ vào chum mắm.
Kẻ gian thấy vậy, sắc mặt tái mét, lùi lại va vào tường. “Cái… cái gì thế này?”
Chưa kịp phản ứng, tiếng còi hú của xe công an vang lên trước ngõ. Ông Ba đã báo trước và chờ đợi thời khắc này. Cửa nhà bị đạp tung, lực lượng chức năng ập vào, khống chế kẻ gian cùng bè lũ đang ngồi nhậu.
Một cảnh sát trưởng bước lên, giơ lệnh khám xét: “Chúng tôi nhận được tố giác về hành vi phá hoại tài sản và đầu độc thực phẩm. Khám nhà ngay!”
Kẻ gian bị áp giải ra ghế, mặt tái xanh. Tại nhà kho phía sau, công an tìm thấy hàng loạt lọ dung dịch không rõ nguồn gốc và một xấp tiền mặt lớn được giấu kỹ trong két sắt.
“Đây là tiền bán đống mắm hỏng của ông Ba đấy à?” cảnh sát hỏi, tay cầm xấp tiền lẻ vừa thu được.
Kẻ gian cúi gằm mặt, tiếng nói run rẩy: “Em… em khai. Em tức ông Ba đuổi việc em hồi trước mà không chịu trợ cấp tháng lương, nên em mới nảy sinh ý đồ hại lô mắm để ông ấy mất uy tín với dân buôn. Em bỏ chất độc diệt khuẩn vào chum, làm mắm thối nhanh rồi rải tóc của em vào đó để tạo vẻ như là do quy trình ủ sai…”
Ông Ba đứng lặng người, lắng nghe lời khai. Những sợi tóc đen dài từng bị dân buôn bàn tán nhục mạ, hóa ra chỉ là mánh khóe bẩn thỉu của kẻ tiểu nhân.
Cảnh sát thu giữ tang vật và dẫn giải kẻ gian lên xe. Khi chiếc xe nháy đèn xanh đỏ lùi ra ngõ, ông Ba ngước nhìn bầu trời xóm Đông Trại. Hơi thở ông dài ra, một cảm giác nhẹ nhõm chưa từng có tràn ngập trong lồng ngực.
“Cuối cùng… cũng ra được kẻ gian,” ông Ba thốt lên, giọng nghẹn lại vì xúc động. Ông nhìn theo xe công an, khóe mắt rơm rớm nước nhưng nụ cười đã trở lại, rạng rỡ hơn bao giờ hết. Uy tín của nghệ nhân ủ mắm ba đời giờ đây đã được rửa sạch.
Tin tức kẻ gian bị bắt nhanh chóng lan khắp xóm Đông Trại, rồi thẳng tiến đến các đầu mối tiêu thụ lớn. Chưa đầy buổi sáng, chiếc điện thoại cũ kỹ của ông Ba đã reo lên không ngớt.
“Alô, anh Ba à? Em ở Hà Nội đây. Nghe nói kẻ phá hoại đã bị bắt chưa? Vậy là mắm nhà anh vẫn chuẩn hương vị ba đời đúng không? Cho em đặt gấp 3 tấn tháng này nhé!” Một dân buôn hét lên qua điện thoại.
“Ba ơi, tui ở Hải Phòng nè. Mọi người trong chợ giờ ai cũng biết anh oan rồi. Gửi vào cho tui 2 tấn gấp, khách đang chờ mỏi cổ!” Tiếp nối là cuộc gọi từ Nam Định.
Ông Ba cười sảng khoái, nụ cười rạng rỡ sau bao ngày u tối. Vợ ông Ba từ trong nhà chạy ra, nghe tin cũng mừng rỡ quệt nước mắt. “Chồng tôi nói rồi, mắm nhà ông Ba chưa bao giờ hỏng cả! Giờ mọi người tin chưa?” Bà vợ reo hò, vỗ tay đầy phấn khích trước sự chứng kiến của dân xóm Đông Trại.
Ngay chiều hôm đó, ông Ba quyết định cắt đứt hẳn mọi vận hạn. Trước sự chứng kiến của cả xóm, 100 chum mắm nâu xám, nổi váng trắng bị khiêng ra bãi đất trống. Ngọn lửa rực rỡ nhanh chóng bao trùm, thiêu rụi những chum mắm thối cùng những sợi tóc đen bẩn thỉu của kẻ gian. Khói bốc lên nghi ngút, mang theo mùi hôi thối của sự vu khống bay xa.
“Đốt hết đi! Cắt đứt mọi chuyện buồn phiền!” Ông Ba gầm lên, đôi mắt kiên định nhìn vào ngọn lửa.
Sau khi dọn dẹp xong, ông Ba cùng vợ bắt tay vào dặm lại kho chum. Ông thuê thợ về trát lại nền, quét vôi ve mới. Đặc biệt, ông Ba lắp đặt hệ thống camera an ninh 24/7 quanh kho, đảm bảo không một kẻ nào có thể lẻn vào lần nữa.
Sáng hôm sau, khi mọi thứ vừa ổn thỏa, một chiếc xe tải nhỏ từ thị trấn chạy vào. Thằng Tín bước xuống, vẻ mặt vui vẻ nhưng vẫn giữ chút dè dặt.
“Chú Ba ơi, chúc mừng chú đã tìm ra kẻ gian!” Tín tiến lại gần, giơ tay bắt. “Em nghe tin chú được minh oan rồi, mừng lắm. Trước đây chuyện đóng vơi mắm chúng ta có chút hiểu lầm, giờ em hiểu chú làm đúng rồi.”
Tín rút từ trong cốp xe một xấp giấy: “Đây, đơn đặt hàng 2 tấn mắm cho tháng tới. Em đã liên hệ với mấy đầu mối ở Nam Định, họ đồng ý lấy hàng của chú ngay.”
Ông Ba nhìn Tín, nụ cười hiền hậu nở trên khuôn mặt sạm nắng. Ông nắm chặt bàn tay của Tín, siết mạnh.
“Cảm ơn chú nhé, lần trước tớ oan cho chú rồi. Tớ xin lỗi chú vì đã nóng tính.”
Tín vui vẻ cười, vỗ vai ông Ba: “Chú nói gì kỳ vậy, chuyện cũ bỏ qua hết đi. Từ nay chúng ta hợp tác lại, làm ăn lớn nhé!”
Hai người bắt tay nhau, dưới ánh nắng sớm mai rực rỡ của xóm Đông Trải. Mọi hiềm khích dường như tan biến, thay vào đó là sự tin tưởng và hợp tác mới.
Ngay sau khi tiễn Tín rời khỏi xóm Đông Trại, Ông Ba quay thẳng vào kho, mở toang hết cửa sổ cho gió lùa vào làm khô ráo nền nhà vừa được trát lại. Lần này, ông Ba tự tay kiểm tra từng hạt muối tinh khiết, mẻ lúa lên men đạt chuẩn, không để sót dù chỉ một chút tạp chất. Vợ ông Ba cầm khẩu trang y tế đứng sát bên, mỗi lần ông Ba cân đối tỉ lệ nguyên liệu, bà đều gật đầu xác nhận kỹ lưỡng.
“Chú cứ yên tâm, lô này em khóa kín cửa kho, chỉ có hai vợ chồng mình giữ chìa khóa, người lạ không bén mảng vào được đâu.” Vợ ông Ba nói, tay siết chặt ổ khóa mới lắp thêm trên cánh cửa gỗ dày ba lớp.
Ông Ba gật đầu, đôi mắt rực sáng. Khâu vệ sinh được ông Ba chú trọng gấp đôi so với trước: sàn kho phủ lớp vôi mới trắng tinh, chum sành được tráng nước sôi tiệt trùng ba lần, thậm chí ông Ba còn tự tay nhặt từng mảnh vụn nhỏ bám trên thành chum trước khi đổ nguyên liệu vào ủ. Suốt mấy tháng ròng, ông Ba ngày đêm canh chừng lô mắm mới, mỗi sáng đều ghi chép nhiệt độ, độ ẩm, tuyệt đối không để bất kỳ kẻ lạ nào tiếp cận khu vực kho.
Đến một buổi sáng mù sương, sương trắng còn đọng trên mái ngói kho, ông Ba cầm chiếc đèn pin soi vào chum sành đầu tiên. Nắp đậy vừa bật mở, mùi thơm nức mũi lập tức lan tỏa khắp cả xóm Đông Trại. Màu mắm đỏ tím đặc sánh, lấp lánh dưới ánh sáng sớm mai, không một váng trắng hay sợi đen lạ nào xuất hiện.
Vợ ông Ba cầm cái muôi múc nhanh một ít, đưa lên miệng nếm thử. Bà nhắm mắt nhai chậm, rồi bất ngờ mở mắt, gật đầu lia lịa: “Lần này ngon hơn trước, chắc chắn bán chạy.”
Ông Ba đứng bên cạnh, nụ cười tự tin nở trên khuôn mặt sạm nắng. Hy vọng bùng lên trong lồng ngực ông, nhìn lô mắm đỏ tím thơm nức kia, ông như nhìn thấy uy tín ba đời của gia đình được khôi phục vững chắc hơn xưa. Vợ ông Ba đứng cạnh, vẻ mặt vui mừng, an tâm hoàn toàn, tay vẫn còn cầm chiếc muôi dính mắm, không giấu nổi nụ cười rạng rỡ.
Ba tháng sau, lô mắm tôm đỏ tím thơm nức của Ông Ba vừa tung ra thị trường đã cháy hàng chỉ trong vài ngày. Dân buôn từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định tranh nhau đặt hàng trước cả nửa năm, cổng nhà ông Ba cuối xóm Đông Trại lúc nào cũng tấp nập xe tải ra vào, khách hàng đứng xếp hàng dài ngoài đường, dòng người nối đuôi nhau dài hơn gấp rưỡi hồi trước sự cố mắm hỏng.
Sáng nay, tại sân vận động thị trấn, hội chợ nông sản vùng đang diễn ra tấp nập. Bục nhận giải cao nhất nằm chính giữa sân, phía dưới là hàng trăm người tham dự. Ông Ba bước lên bục, tay cầm tấm bằng khen “Giải Nhất Hội Chợ Nông Sản Vùng” còn nóng hổi. Ánh đèn sân khấu chiếu thẳng vào khuôn mặt sạm nắng của Ông Ba, nụ cười tự hào nở rộ trên môi, đôi mắt già nua ánh lên vẻ hạnh phúc khôn tả.
Tiếng vỗ tay vang dội khắp cả sân. Dân xóm Đông Trại đứng phía dưới reo hò chúc mừng, mấy bà hàng xóm từng xì xào sau lưng Ông Ba hồi mắm hỏng giờ cũng vỗ tay rộn rã, mặt hơi đỏ lên nhưng vẫn cố hét to chúc mừng. Tín đứng ở hàng ghế phía dưới, mặc áo sơ mi sạch sẽ, tay vỗ theo nhịp, ánh mắt nhìn lên Ông Ba đầy vẻ kính nể.
Ông Ba cầm tấm bằng khen, nhìn xuống đám đông. Ánh mắt ông dừng lại ở Tín một giây, rồi chuyển sang dân xóm Đông Trại đang vỗ tay nhiệt liệt. Nụ cười trên môi Ông Ba dịu lại, giọng nói vang lên qua loa phóng thanh, trầm ấm, rõ ràng:
“Uy tín là vàng, giữ được mới là quan trọng.”
Tiếng vỗ tay lại vang lên rầm rĩ hơn. Vợ ông Ba đứng phía dưới bục, tay lau nước mắt, miệng cười đến nhăn cả mặt. Dân buôn các tỉnh vây quanh bắt tay Ông Ba, lời chúc mừng cứ thế tuôn ra không ngớt. Tín đứng ở rìa đám đông, cũng vỗ tay theo, trong lòng thầm ngưỡng mộ người nghệ nhân già đã giữ trọn chữ tín suốt ba đời nay.
Vợ ông Ba vội vàng chạy lên bục, tay nắm chặt lấy cánh tay ông Ba, giọng nghẹn ngào: “Từ giờ trở đi, ai còn dám nói sau lưng anh là kẻ hỏng mắm chứ?”
Ông Ba vỗ nhẹ lên mu bàn tay vợ, nụ cười trầm ổn: “Đã qua rồi, giờ lo việc chính thôi.”
Mấy ngày sau, cổng nhà ông Ba cuối xóm Đông Trại dựng tấm biển gỗ nho nhỏ: “Lớp dạy nghề ủ mắm tôm miễn phí cho thanh niên Đông Trại”. Sáng sớm, mấy đứa thanh niên trong xóm xách thùng nhựa, đứng vòng quanh kho chum nghe ông Ba chỉ dẫn. Tín cũng đứng ở đám đông, tay chép vội mấy dòng vào cuốn sổ nhỏ, thỉnh thoảng ngước mắt nhìn ông Ba đầy kính trọng.
Ông Ba cầm cái muôi múc mắm từ chum thứ mười, chỉ vào lớp váng đỏ tía phía trên: “Ủ mắm không chỉ là đợi thời gian, là phải canh nhiệt độ, canh độ mặn, không được lấy lòng tham mà bớt muối, bớt cá. Trước kia mấy ông lái buôn ép đóng vơi mắm, giờ tôi dạy các cháu, làm nghề phải giữ cái tâm trước.”
Một đứa thanh niên giơ tay hỏi: “Chú Ba ơi, hồi mắm hỏng chú buồn lắm hả?”
Ông Ba nhìn sang kho chum 100 chiếc đang sủi bọt nhẹ, ánh mắt dịu đi: “Có chứ, nhưng buồn rồi phải làm lại. Giờ sản xuất ổn định rồi, mỗi tháng bán cả tấn, dân buôn các tỉnh vẫn chờ đơn, tôi không lo nữa.”
Đến tối, xóm Đông Trại vắng hẳn tiếng người. Ông Ba ngồi trên chiếc ghế tre kê bên kho chum, phía xa là đống lửa đốt rác của xóm đang bốc khói mỏng. Vợ ông Ba bưng ra chén trà ấm, đặt lên bàn: “Anh ngồi đây làm gì, vô nhà nghỉ đi, hôm nay mệt cả ngày.”
Ông Ba lắc đầu, tay vỗ nhẹ lên thân chum gốm lạnh: “Để nhìn mấy chum mắm này, an tâm hơn. Mười năm ủ mắm, chưa bao giờ trải qua chuyện kinh khủng như lần này.”
Vợ ông Ba ngồi xuống bên cạnh, nhìn theo ánh lửa đỏ rực: “May mà anh tìm ra kẻ gian, giờ ai cũng biết tiếng anh. Mấy đứa thanh niên học nghề mỗi ngày một đông, sau này anh già rồi, có người kế nghiệp.”
Ông Ba gật đầu, nhìn đống lửa đốt rác nhảy múa trong đêm, lẩm bẩm lặp lại câu nói lúc nãy, giọng trầm tĩnh, không còn chút lo âu nào.
Gió đêm thổi qua xóm Đông Trại, mang theo mùi mắm tôm thơm nhẹ từ kho chum. Ông Ba nhìn đống lửa đốt rác dần tàn, những tàn tro bay lơ lửng rồi rơi xuống đất, như những chuyện cũ buồn bã đã qua đi. Ba tháng kể từ ngày lô mắm hỏng, ông đã đi qua bao ngày đêm lo âu, điều tra, chờ công lý. Giờ đây, mọi thứ trở lại guồng quay: đơn hàng từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định ùn ùn đổ về, lớp học nghề mỗi ngày một đông, ngay cả Tín – kẻ từng cãi nhau với ông về việc đóng vơi mắm – giờ cũng là học viên chăm chỉ nhất, thỉnh thoảng giúp ông chở mắm giao khách.
Người ta thường nói sau cơn mưa trời lại sáng, nhưng với ông Ba, cái sáng ấy nhờ giữ trọn chữ tín, nhờ không bỏ cuộc khi gặp sóng gió. Ông không oán trách kẻ gian, vì oán trách chẳng thay đổi được gì, chỉ làm lòng nặng nề thêm. Ông cũng không kiêu ngạo khi nhận giải, vì làm nghề ba đời, cái quan trọng nhất không phải danh hiệu, mà là giữ hương vị mắm tôm truyền thống, giữ niềm tin của dân buôn, hàng xóm lối xóm.
Tiếng ếch nhái kêu vang từ cánh đồng xa, hòa cùng tiếng sột soạt lá cây trong gió. Ông Ba tu sip trà ấm, nhìn những chum mắm lặng lẽ trong kho, mỗi chum là một thời gian ủ đọng, một tâm huyết cả đời người. Ông thầm nghĩ, mười năm nữa, khi già yếu không còn làm được, những đứa thanh niên học nghề hôm nay sẽ tiếp nối, giữ gìn nghề truyền thống cho xóm Đông Trại. Thế là đủ, chẳng còn điều gì lo lắng. Ánh lửa cuối cùng tắt phụt, để lại khoảng không gian tối nhưng bình yên, như chính cuộc đời ông: trải qua bão tố, rồi trở về tĩnh lặng, an yên của người làm nghề chân chính.

