“Hàng xóm nuôi ch-ó sủa bậy cả đêm nhà tôi không thể chợp mắt, không thể chịu nổi, đêm đó tôi lén bỏ 1 thứ trước cửa nhà, thấy đàn chó hàng xóm cả đêm lúi húi rồi sau đó im bặt, 3 ngày sau nhà hàng xóm khóc thả-m gọi trưởng thôn đến… tôi nghĩ bụng “”còn non lắm””…
Nhà tôi sát vách với nhà ông Tư – một người nổi tiếng “”nuôi chó không nuôi dạy””. Cả xóm ai cũng than, nhưng nhà tôi là hứng đủ.
5 con chó to, đêm nào cũng sủa từ chập tối đến gần sáng. Tiếng sủa vang như pháo, g;/ào như có người xông vào, nhưng thực ra chẳng ai cả. Chỉ là gió thổi, hay một cái lá rơi cũng khiến chúng tru tréo loạn lên.
Tôi đã lịch sự góp ý, đã từng viết giấy, nhắn tin, thậm chí đến tận nhà… Nhưng lần nào cũng bị ông Tư gắt:
– “Chó nhà tao, tao thích nuôi thế đấy! Không ưa thì bán nhà mà đi!”
Một đêm mưa phùn, con gái tôi sốt 39 độ, mẹ già thức trắng vì không ngủ nổi, tôi ngồi bên cửa sổ mà máu sôi lên theo từng tiếng sủa rát óc.
Tôi chịu không nổi nữa.
Tôi không muốn làm gì á-c, nhưng cũng không thể để gia đình tôi chịu cảnh này mãi. Tôi nhớ đến bột ngải khô trộn tro than mà người bạn dân tộc từng đưa, bảo dùng xua đuổi chó mèo.
Tôi lén ra ngoài, tay run run, rắc thứ đó quanh bờ tường nhà ông Tư. Trước cửa đặt thêm một nắm muối gạo trộn tỏi nướng, thứ mà theo lời bạn tôi: “ch-ó ngửi thấy sẽ mất phương hướng, không còn định vị được lãnh thổ mà sủa nữa.”
Đêm đó, tôi ngủ một mạch đến sáng – lần đầu tiên sau nhiều tháng trời.
Chó không sủa.
Yên lặng đến đáng ngờ.
Ngày thứ hai, cũng yên tĩnh.
Ngày thứ ba, nhà ông Tư đột nhiên khóc như đám tan;/g.
Tiếng bà vợ gào lên:
– “Mày ơi dậy đi… tụi nó ”
Cả xóm kéo đến. Tôi cũng ra, cố giữ mặt lạnh như không biết chuyện gì.
Ông Tư quỳ giữa sân, ôm một con chó mà tru lên thảm thiết.
Ông gọi trưởng thôn, nói có người “”hạ đ;/ộc chó””.
Cả xóm xì xào, người nghi người kia. Không ai dám thẳng thắn nói gì, vì ông Tư cũng chẳng ưa ai.
Chỉ tôi đứng lặng, không nói. Tôi
biết mình không dùng thuốc độc. Tôi chỉ muốn yên giấc, không muốn giết.
Nhưng có điều tôi không ngờ được là…👇👇”
“Tiếng gào thét thảm thiết của bà Vợ ông Tư và tiếng tru tréo đau đớn của Ông Tư vang vọng khắp xóm, phá tan sự tĩnh lặng bất thường đã kéo dài ba ngày qua. Cả xóm đổ dồn về nhà ông Tư. Khung cảnh hiện ra là sự hỗn loạn tột cùng. Ông Tư quỳ sụp giữa sân gạch, ôm chặt lấy một trong Đàn chó nhà ông Tư, con vật đang thoi thóp trong tay ông. Nước mắt, nước mũi ông giàn giụa, khuôn mặt đau khổ đến tột cùng. Bên cạnh, bà Vợ ông Tư gào khóc, chỉ vào những con chó khác nằm la liệt trên sân, bất động và lạnh ngắt. Đám đông hàng xóm đứng vây quanh, xì xào bàn tán, ánh mắt vừa tò mò, vừa sợ hãi, vừa đầy nghi kỵ. Họ chưa từng thấy cảnh tượng nào như thế này. Nhân vật chính đứng lẫn trong đám đông, cố giữ vẻ mặt bình thản nhất có thể, ánh mắt vô hồn nhìn vào hiện trường, làm như mình chỉ là một người hàng xóm hiếu kỳ khác. Anh thấy cổ họng mình khô khốc. Mọi chuyện đã vượt xa khỏi dự tính ban đầu của anh.
Một chiếc xe máy dừng lại ở đầu ngõ. Trưởng thôn, người đàn ông có khuôn mặt khắc khổ nhưng luôn giữ được vẻ điềm tĩnh, bước xuống và nhanh chóng tiến vào nhà Ông Tư. Đám đông tự động dạt ra, nhường đường cho ông. Trưởng thôn bước vào sân, lập tức thu vào tầm mắt toàn bộ cảnh tượng bi thương. Ông Tư vẫn đang nức nở. Bà Vợ ông Tư thấy Trưởng thôn, như vớ được phao cứu sinh, lao đến.
“”Trưởng thôn ơi! Ông xem này! Chó nhà tôi… tụi nó chết hết rồi!”” Bà Vợ ông Tư vừa nói vừa chỉ tay run rẩy về phía bầy chó.
Ông Tư lúc này ngẩng đầu lên, giọng đứt quãng vì tiếng khóc: “”Trưởng thôn… tụi nó… bị hạ độc rồi! Chắc chắn là bị hạ độc!””
Trưởng thôn nhìn qua xác những con chó nằm bất động trên sân, rồi lại nhìn con chó duy nhất còn sống nhưng đang hấp hối trong lòng Ông Tư. Mùi khó chịu thoang thoảng trong không khí. Ông quay sang Ông Tư và bà Vợ ông Tư, cố gắng giữ giọng bình tĩnh nhất có thể giữa sự hỗn loạn.
“”Bình tĩnh nào, hai ông bà. Có chuyện gì, kể rõ tôi nghe xem nào. Từ bao giờ? Có thấy ai lạ quanh đây không?”” Trưởng thôn hỏi, ánh mắt nhanh chóng lướt qua đám đông hàng xóm, như muốn tìm kiếm manh mối từ những khuôn mặt đang biểu lộ đủ thứ cảm xúc kia.
Ông Tư bắt đầu kể lại trong tiếng nức nở, còn bà Vợ ông Tư thêm vào bằng những tiếng khóc lóc và lời buộc tội chung chung, rằng “”có kẻ ác tâm”” muốn hại gia đình họ. Đám đông hàng xóm vẫn xì xào, người nghi ngờ người này, người đồn đoán nguyên nhân khác. Không ai dám nói thẳng ý nghĩ của mình ra, đặc biệt là về việc bầy chó này đã gây ồn ào khó chịu như thế nào trong suốt một thời gian dài. Nhân vật chính đứng im, ánh mắt trống rỗng, cố gắng không để lộ bất cứ cảm xúc hay phản ứng nào cho thấy sự liên quan của mình. Anh chỉ đứng đó, quan sát, và cảm giác bất an bắt đầu len lỏi trong lòng. Anh chỉ muốn có được giấc ngủ yên bình, chứ không phải gây ra thảm kịch này. Nhưng rõ ràng, thứ “”xua đuổi”” đó đã có tác dụng ngoài sức tưởng tượng của anh. Vụ việc này, chắc chắn sẽ không chỉ dừng lại ở đây.”
“””Từ… từ đêm qua rồi, Trưởng thôn ạ…”” Ông Tư nói, giọng nghẹn lại, nước mắt tiếp tục chảy dài trên khuôn mặt nhăn nhó vì đau khổ. “”Đêm qua… mưa phùn lất phất… tự dưng thấy tụi nó… tụi nó cứ lúi húi… không có sủa ầm ĩ như mọi khi… chỉ rên ư ử…””
Ông Tư ngưng bặt, lại cúi xuống vuốt ve bộ lông đã lạnh ngắt của con chó trong tay. Tiếng nức nở vang lên. Bà Vợ ông Tư đứng bên cạnh, cũng khóc lóc, liên tục lặp lại: “”Khổ thân tụi nó quá! Có ác tâm nào… hại tụi nó!””
Trưởng thôn kiên nhẫn chờ Ông Tư trấn tĩnh lại một chút. Ông đặt tay nhẹ lên vai Ông Tư.
“”Rồi sao nữa, ông? Sáng nay ông phát hiện ra thế nào?”” Trưởng thôn hỏi một cách nhẹ nhàng, nhưng ánh mắt vẫn đầy vẻ quan sát, lướt qua đám đông đang dán mắt vào hiện trường.
Ông Tư hít một hơi run rẩy, cố gắng kể tiếp. “”Sáng nay… sáng nay bà ấy ra… ra cho ăn… thì thấy… thấy tụi nó nằm la liệt thế này! Con thì chết hẳn rồi… con thì… thoi thóp…”” Ông chỉ tay về phía những xác chó khác trên sân, rồi lại nhìn con vật tội nghiệp đang thở yếu ớt trong lòng.
Đến đây, sự đau đớn dường như bị lấn át bởi sự phẫn nộ. Ông Tư ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt đỏ hoe nhìn thẳng vào Trưởng thôn, giọng nói bỗng trở nên chắc nịch một cách đáng sợ, dù vẫn còn lẫn tiếng nức nở.
“”Trưởng thôn ơi! Tôi nói cho ông nghe! Chắc chắn một điều! Tụi nó KHÔNG TỰ DƯNG MÀ CHẾT THẾ NÀY ĐƯỢC!”” Ông Tư gằn giọng, nắm chặt bàn tay. “”Có kẻ ác tâm nào đó… đã hạ độc đàn chó nhà tôi! Chắc chắn là như vậy!””
Lời buộc tội vang lên rõ ràng, như một viên đá ném vào mặt hồ tĩnh lặng. Đám đông xì xào to hơn. Ánh mắt họ bắt đầu tìm kiếm, soi mói những người đứng xung quanh. Nhân vật chính cảm thấy lưng mình lạnh toát. Cái khoảnh khắc Ông Tư thốt ra từ “”hạ độc”” như một tiếng sét đánh ngang tai. Anh đứng bất động, cố gắng hòa mình vào sự bàng hoàng chung của đám đông, nhưng trong lòng thì như có ai bóp nghẹt. Mọi thứ đang đi sai hướng một cách kinh hoàng. Thứ anh rải ra… liệu có phải là “”độc”” theo nghĩa đó không? Thứ bột ngải trộn tro than, muối gạo trộn tỏi nướng… Người bạn dân tộc nói chỉ là để xua đuổi, gây khó chịu… Không phải để giết chết! Hoặc ít nhất, anh đã nghĩ như vậy.
Trưởng thôn nhíu mày. “”Hạ độc à? Ông Tư có thấy dấu hiệu gì lạ không? Hoặc có nghi ngờ ai không?”””
“Trưởng thôn im lặng một lát, đôi mắt nhìn quanh đám đông. Ông Tư vẫn đang ôm con chó, nức nở. Bà Vợ ông Tư thì ngồi bệt xuống đất khóc lóc. Rõ ràng, lúc này chưa thể khai thác thêm gì từ hai người họ. Hơn nữa, Trưởng thôn cần có cái nhìn toàn cảnh hơn, từ những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi đàn chó bấy lâu nay.
“”Thôi, ông Tư, bà Tư cứ ở đây với các cháu,”” Trưởng thôn nói, giọng vẫn điềm đạm nhưng ánh mắt đã chuyển hướng sang những người hàng xóm đang đứng gần đó. “”Tôi ra đây hỏi thăm bà con một chút về tình hình trước đây, xem có ai để ý thấy điều gì bất thường không.””
Ông rời khỏi chỗ ông Tư, tiến về phía một vài người hàng xóm lớn tuổi đang đứng xì xào. Tôi đứng nép mình trong đám đông, cố gắng giữ vẻ mặt bình tĩnh, nhưng tim đập thình thịch trong lồng ngực. Tôi không nói một lời, chỉ chăm chú lắng nghe.
“”Chào các ông các bà,”” Trưởng thôn bắt đầu. “”Mấy con chó nhà ông Tư… trước giờ vẫn hay ồn ào phải không ạ?””
Một bà cụ với mái tóc bạc trắng lập tức cất lời, giọng than thở: “”Ôi giời ơi, Trưởng thôn ơi! Nói đến tụi nó thì chỉ có nước khóc thôi! Đêm nào cũng sủa, sủa từ chập tối đến gà gáy sáng. Nhà tôi già rồi, chẳng có đêm nào ngủ trọn giấc. Bà nhà bên kia (bà chỉ tay về phía một người khác) cũng vậy đấy, đêm nào cũng mất ngủ, người như tàu lá úa.””
Người phụ nữ được bà cụ chỉ đến gật đầu lia lịa, khuôn mặt mệt mỏi hằn rõ quầng thâm dưới mắt. “”Đúng rồi Trưởng thôn ạ! Khổ lắm! Có hôm con bé nhà tôi (cô ấy liếc nhìn sang tôi một thoáng, khiến tôi hơi giật mình) nó ốm, sốt hầm hập mà cứ giật mình vì tiếng chó sủa. Góp ý với ông Tư thì ông ấy gạt đi ngay, bảo chó trông nhà, sủa là đúng rồi. Chẳng nghe ai cả.””
Một người đàn ông trung niên tiếp lời, giọng có chút bực bội: “”Vâng, mấy lần tôi sang bảo ông ấy nhốt bớt vào ban đêm, hoặc rọ mõm gì đấy cho đỡ ồn. Ông ấy bảo chó nhà ông ấy, ông ấy nuôi thế nào kệ ông ấy, liên quan gì đến tôi. Thái độ khó chịu lắm!””
Nhiều người khác cũng hùa theo, kể lể đủ chuyện về sự phiền toái của đàn chó: đi qua nhà ông Tư là chúng xông ra sủa inh ỏi, trẻ con sợ không dám đi học một mình, rồi phân chó vương vãi ra ngõ… Mỗi lời than phiền của họ như từng nhát dao cứa vào lòng tôi. Tôi nghe họ nói về sự mất ngủ, về những đứa trẻ, những người già bị ảnh hưởng, và cả sự bất lực khi góp ý với ông Tư.
Trong khi họ nói, tôi lén nhìn về phía ông Tư và bà Tư đang ngồi thẫn thờ bên xác chó. Tôi cũng nhìn những khuôn mặt đang kể lể. Trên khuôn mặt của họ, tôi thấy sự mệt mỏi, sự bực bội vì những phiền toái kéo dài. Nhưng lạ lùng thay, trong ánh mắt họ nhìn về phía ông Tư, tôi lại thấy đan xen giữa sự thương hại cho tai họa bất ngờ giáng xuống nhà ông, và một chút gì đó rất nhỏ, rất khẽ, như một nụ cười hả hê ẩn giấu ở khóe môi, như thể nói: “”Đấy, ông thấy chưa? Quả báo đấy!””
Tôi đứng đó, người cứng đờ. Sự hả hê ngầm đó khiến tôi cảm thấy lạnh sống lưng, một cảm giác tội lỗi và ghê sợ dâng lên. Họ đang hả hê… về cái chết của lũ chó… thứ mà *tôi* đã gây ra. Thứ *tôi* đã rải ra… liệu có phải thực sự đã giết chết chúng không? Tôi chỉ muốn xua đuổi… chỉ muốn có một đêm yên giấc… chứ không phải thế này! Mọi thứ đang vượt ngoài tầm kiểm soát của tôi một cách kinh hoàng. Trưởng thôn vẫn kiên nhẫn lắng nghe, thỉnh thoảng gật gù, ghi nhớ những lời mọi người nói. Tôi chỉ đứng yên, chìm trong dòng suy nghĩ hỗn độn và cảm giác tội lỗi đè nén.”
“Trưởng thôn lắng nghe xong, gật gù. Ông cám ơn những người hàng xóm đã chia sẻ, rồi ánh mắt ông đảo một vòng quanh đám đông đang tụ tập. Nó dừng lại ở chỗ tôi.
Ông tiến lại phía tôi, khuôn mặt vẫn giữ vẻ nghiêm nghị nhưng giọng nói lại khá nhẹ nhàng. “”Chào anh,”” Trưởng thôn nói. “”Nhà anh cũng sát vách nhà ông Tư, anh cũng bị ảnh hưởng bởi tiếng chó sủa nhiều đúng không?””
Tôi cố gắng giữ vẻ mặt thật bình thản, gật đầu. Tim tôi đang đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, nhưng tôi hít một hơi thật sâu và trả lời, giọng cố gắng tỏ ra tự nhiên nhất có thể. “”Vâng, Trưởng thôn ạ. Khổ lắm ạ.””
Trưởng thôn nhìn thẳng vào mắt tôi, ánh mắt sắc sảo khiến tôi suýt nữa thì không dám đối diện. “”Thế đêm qua, anh có nghe thấy tiếng động gì lạ hay nhìn thấy ai lảng vảng quanh nhà ông Tư không? Ngoài tiếng chó sủa như mọi khi ấy?””
Tôi lắc đầu, khuôn mặt vẫn tỏ vẻ ngây thơ vô tội. “”Dạ không ạ. Kỳ lạ thật đấy, đêm qua tự nhiên tôi lại ngủ rất ngon, ngon chưa từng thấy sau bao đêm mất ngủ vì tiếng chó. Cả nhà tôi cũng vậy, mẹ tôi với con bé nhà tôi cũng ngủ li bì đến sáng. Chắc do mưa phùn đêm qua nên tiếng chó đỡ vọng chăng? Tôi không nghe thấy hay nhìn thấy bất cứ thứ gì bất thường cả, mãi đến sáng nay nghe tiếng ồn ào ở đây mới chạy sang xem có chuyện gì.””
Lời nói dối tuôn ra một cách trôi chảy, tự nhiên đến mức chính tôi cũng thấy bất ngờ. Tôi cố gắng duy trì nét mặt bình thản, nhưng bàn tay tôi thì siết chặt lại sau lưng. Tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng khi nói dối trực diện với Trưởng thôn.
Trưởng thôn nhìn tôi thêm vài giây, như thể đang cố đọc xem tôi có giấu diếm điều gì không. Ánh mắt ông lướt qua khuôn mặt tôi, xuống đôi tay tôi đang siết chặt. Tôi vội vàng thả lỏng tay ra, cố gắng mỉm cười.
Cuối cùng, ông thở ra một hơi nhẹ. “”Ừm,”” ông nói khẽ. “”Thế à? Anh ngủ ngon được một đêm cũng là may rồi. Mấy nhà khác cũng nói thế, bảo đêm qua ngủ ngon hơn mọi khi.””
Tôi không đáp lại, chỉ gật đầu. Tôi nhận thấy Trưởng thôn lại đảo mắt nhìn quanh, hình như đang cân nhắc nên hỏi ai tiếp theo. Khoảnh khắc đối mặt trực tiếp với ông đã qua, nhưng cảm giác căng thẳng thì vẫn còn nguyên. Tôi biết, sự nghi ngờ có thể chưa xuất hiện, nhưng bất cứ sơ hở nhỏ nào cũng có thể dẫn đến thảm họa.”
“Tôi đứng đó, nhìn theo bước chân Trưởng thôn khi ông chuyển sự chú ý sang người hàng xóm khác. Lời nói dối vẫn còn văng vẳng trong tai tôi, lạnh ngắt nhưng hiệu quả. Thoát được rồi, ít nhất là lúc này. Nhưng một cảm giác nặng trĩu lập tức thay thế sự căng thẳng ban đầu. Tôi đã nói dối. Tôi đã che giấu sự thật về thứ bột ngải khô trộn tro than và muối gạo trộn tỏi nướng mà người bạn dân tộc đã chỉ cho, thứ mà tôi đã rắc quanh nhà ông Tư trong đêm mưa phùn ấy.
Cơn buồn ngủ lạ thường của cả xóm đêm qua, sự yên tĩnh đến bất ngờ, và giờ là cái chết đột ngột của đàn chó… Tất cả như những mảnh ghép sắc nhọn đang dần kết nối lại trong tâm trí tôi, tạo nên một bức tranh đáng sợ. Không phải do mưa phùn. Là do thứ tôi rắc. Là thứ thuốc xua đuổi chó mèo ấy, được người bạn dân tộc tôi nói là “”chỉ làm chúng sợ và bỏ đi””. Nhưng giờ thì chúng đã chết. Chết thảm.
Nên nói ra không? Nói rằng tôi chỉ muốn xua đuổi chúng đi để con gái và mẹ già được ngủ yên? Rằng tôi không hề có ý giết chết chúng? Cái ý nghĩ đó vừa thoáng qua đã bị đè bẹp bởi cơn sóng sợ hãi cuộn trào. Nếu tôi nói ra, liệu có ai tin không? Một đàn chó khỏe mạnh bỗng dưng lăn ra chết, ngay sau đêm nhà tôi được ngủ ngon. Thêm vào đó là những thứ bột kỳ lạ rắc quanh nhà ông Tư. Họ sẽ nghĩ gì? Họ sẽ nghĩ tôi đầu độc chúng. Cố tình. Họ sẽ quy kết tôi tội ác. Tội giết chó. Tội phá hoại tài sản. Thậm chí tệ hơn…
Tôi nhìn những khuôn mặt đang xì xầm xung quanh. Những người hàng xóm. Có người thương hại ông Tư, có người bàng hoàng, có người tò mò, và chắc chắn, sẽ có người nghi ngờ. Nếu tôi đứng ra nhận là người đã rắc thứ đó, họ sẽ nhìn tôi thế nào? Ánh mắt của họ sẽ biến thành sự phẫn nộ, sự xa lánh, và sự lên án. Cả xóm sẽ quay lưng lại với gia đình tôi. Con gái tôi sẽ bị kỳ thị, mẹ tôi sẽ đau khổ.
Thà im lặng. Thà để mọi chuyện tự diễn biến. Thà để họ nghĩ bất cứ điều gì khác, miễn là không phải sự thật kinh hoàng này. Cái giá của sự thành thật lúc này quá đắt. Nó không chỉ là lời xin lỗi hay bồi thường. Nó là sự hủy hoại danh tiếng, là sự cô lập giữa chính cộng đồng mình đang sống. Nỗi sợ hãi về cơn thịnh nộ tập thể, về sự nghi kỵ tột cùng, còn lớn hơn nhiều so với gánh nặng của lời nói dối.
Tôi tự nhủ, giọng khô khốc trong đầu: Giữ bí mật. Phải giữ bí mật này bằng mọi giá. Không ai được biết. Không một ai. Dù cho lòng tôi có day dứt đến đâu, dù cho hình ảnh đàn chó chết có ám ảnh đến mấy, tôi cũng không thể nói ra. Tôi không thể đánh cược sự bình yên (dù chỉ là vẻ ngoài) của gia đình mình với nguy cơ đối mặt với cơn bão táp từ cả xóm. Bí mật này, tôi sẽ giữ nó cho riêng mình, mãi mãi.”
“Nhân vật chính đứng nép mình giữa đám đông, ánh mắt cố gắng né tránh nhìn thẳng vào Ông Tư và Vợ ông Tư. Tiếng xì xầm xung quanh như xa dần khi sự chú ý của mọi người quay lại sân nhà ông Tư. Ban đầu, họ chỉ tập trung vào một con chó nằm bất động gần cổng. Nhưng rồi, Vợ ông Tư, với khuôn mặt bợt bạt và đôi mắt sưng húp, run rẩy bước đi. Bà chỉ tay vào một góc khác trong sân, nơi có thêm một con chó nữa nằm im lìm.
“Ông ơi… lại thêm một con nữa!” tiếng bà nghẹn lại.
Ông Tư vội vã chạy tới, cúi xuống kiểm tra. Ông lật nhẹ người con chó, khuôn mặt ông biến sắc. Nó cũng đã chết. Cái chết giống hệt con đầu tiên, không một vết thương rõ ràng. Một tiếng nấc lớn bật ra từ lồng ngực ông.
“Trời ơi… sao lại thế này!” Ông Tư gào lên, ôm lấy xác con chó thứ hai.
Vợ ông Tư không dừng lại. Nước mắt giàn giụa, bà lảo đảo bước ra phía cổng. Bà chỉ ra lề đường, ngay sát hàng rào nhà ông Tư. Lại thêm một con chó nữa, cứng đờ, nằm vật ra đó.
“Ba… ba con rồi… Trời đất ơi! Ba con chó nhà tôi…” Bà Tư khụy xuống, tiếng khóc xé lòng vang vọng khắp xóm.
Đám đông bàng hoàng. Ba con chó to khỏe mạnh, chết một cách bí ẩn chỉ sau một đêm. Sự việc vượt quá sức tưởng tượng của họ.
Ông Tư đứng dậy, nhìn quanh sân rồi nhìn ra ngoài cổng, ánh mắt tuyệt vọng tìm kiếm. “Còn mấy con nữa? Còn mấy con nữa đâu rồi?” ông lẩm bẩm, giọng run rẩy.
Vợ ông Tư lắc đầu, vừa khóc vừa nói đứt quãng: “Cháu… cháu tìm mãi không thấy… Mấy con còn lại… mất tích hết rồi ông ơi!”
Nước mắt, tiếng nấc, và tiếng gào khóc thảm thiết hòa quyện vào nhau, biến sân nhà ông Tư thành một khung cảnh đau thương tột độ. Ông Tư và vợ ôm lấy nhau, khóc nức nở bên xác những con chó, tiếng khóc vang vọng, ai oán như thể mất đi người thân. Cảm xúc đau đớn, bàng hoàng, và phẫn nộ dâng lên đến đỉnh điểm trong họ.
Nhân vật chính đứng đó, cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Ba con chết. Và số còn lại mất tích. Cái cảm giác tội lỗi, nặng trĩu và sắc nhọn, đâm thẳng vào tim. Đó không chỉ là xua đuổi. Đó là sự hủy diệt. Thứ bột ngải khô trộn tro than và muối gạo trộn tỏi nướng ấy, nó không chỉ khiến chúng sợ hãi bỏ đi. Nó đã giết chết chúng. Và nó đã khiến những con còn lại biến mất. Ánh mắt Nhân vật chính lướt qua những khuôn mặt xung quanh, rồi dừng lại trên Ông Tư và Vợ ông Tư đang quằn quại trong nỗi đau. Không, không thể nói ra. Cái bí mật này phải được chôn vùi. Mãi mãi. Dù cho tiếng khóc của họ có như ngàn mũi kim đâm vào lương tâm Nhân vật chính đi nữa.”
“Tiếng khóc của Ông Tư và Vợ ông Tư vẫn chưa ngớt. Giữa đám đông lặng lẽ, Trưởng thôn xuất hiện, khuôn mặt ông đầy vẻ lo lắng khi nhìn thấy cảnh tượng đau lòng. Ông đến gần Ông Tư, vỗ nhẹ vai an ủi, rồi nhìn xuống xác ba con chó to. Sự việc quá kỳ lạ và nghiêm trọng.
“Thôi bình tĩnh lại đi ông bà ơi,” Trưởng thôn giọng trầm buồn. “Việc đã rồi. Giờ mình phải xem xét nguyên nhân thế nào. Mấy con còn lại đâu rồi?”
Ông Tư gạt nước mắt, chỉ tay ra ngoài cổng, giọng run rẩy: “Tìm mãi không thấy ông ạ… Như bốc hơi cả vậy.”
Trưởng thôn nhíu mày. Ba con chết bí ẩn, hai con còn lại mất tích. Chắc chắn không phải do bệnh thông thường. Ông nhìn quanh đám đông, rồi quay sang Ông Tư.
“Thế này không ổn rồi,” Trưởng thôn nói chắc nịch. “Phải nhờ người có chuyên môn xem xét kỹ. Trong xóm mình có ai am hiểu về vật nuôi không? Hoặc tôi gọi điện cho cán bộ thú y xã xuống ngay?”
Ông Tư gật đầu lia lịa, ánh mắt lóe lên tia hy vọng mong manh. “Ông gọi cán bộ thú y giúp tôi với! Phải tìm ra ai đã nhẫn tâm làm việc này!” Vợ ông Tư cũng ngừng khóc, nhìn Trưởng thôn đầy van lơn.
Không lâu sau, một người đàn ông trung niên, dáng người khắc khổ, được Trưởng thôn dẫn đến sân nhà ông Tư. Đó là cán bộ thú y của xã, người có tiếng là cẩn thận và có kinh nghiệm. Ông Tư và vợ vội vàng chào hỏi, rồi như trút hết nỗi lòng kể lại sự việc.
Người cán bộ thú y không nói nhiều. Ông lẳng lặng cúi xuống bên xác con chó đầu tiên. Ông đeo găng tay, kiểm tra mắt, mũi, miệng con vật một cách tỉ mỉ. Ông nhẹ nhàng lật người con chó, xem xét lông, da, rồi sờ nắn phần bụng. Khuôn mặt ông đăm chiêu. Tiếp theo, ông chuyển sang xác con chó thứ hai, rồi thứ ba, lặp lại quy trình kiểm tra.
Ông Tư và Vợ ông Tư đứng sát bên, nín thở theo dõi từng cử chỉ của người cán bộ thú y. Mỗi lần ông cúi xuống, mỗi lần ông chạm vào con vật đã chết, trái tim họ lại thắt lại vì đau xót, nhưng cũng đầy mong chờ. Họ tin rằng, với sự am hiểu của chuyên gia, manh mối về kẻ thủ ác sẽ sớm được hé lộ.
Sau khi kiểm tra xong xác các con vật, người cán bộ thú y đi lại quanh sân, dọc theo hàng rào ra đến lề đường nơi tìm thấy con chó thứ ba. Ông quan sát nền đất, ngửi nhẹ không khí xung quanh. Ánh mắt ông dừng lại ở vài điểm nào đó trên mặt đất, dường như đang tìm kiếm điều gì đó đặc biệt.
Nhân vật chính đứng lẫn trong đám đông, cố gắng giữ vẻ mặt bình thường, nhưng lồng ngực như bị nghẹt thở. Mỗi bước chân của người cán bộ thú y, mỗi cái cúi đầu của ông, đều như một nhát dao cứa vào tâm can. Liệu ông ta có ngửi thấy mùi lạ không? Liệu ông ta có phát hiện ra thứ bột hay hạt muối nào còn sót lại không? Cái cảm giác tội lỗi và sợ hãi hòa quyện, tạo thành một áp lực khủng khiếp. Ánh mắt Ông Tư và Vợ ông Tư nhìn người cán bộ thú y đầy hy vọng, hy vọng tìm ra bằng chứng “”hạ độc””. Nhưng với Nhân vật chính, đó là hy vọng dẫn đến sự sụp đổ của chính mình.
Người cán bộ thú y đứng thẳng dậy, phủi bụi trên tay. Ông quay lại phía Ông Tư và Vợ ông Tư, ánh mắt vẫn giữ vẻ suy tư. Ông Tư vội vã bước tới, giọng khẩn khoản: “Thế nào hả ông? Có tìm ra nguyên nhân gì không? Có phải bị đầu độc không?” Ánh mắt ông và vợ dán chặt vào người cán bộ thú y, chứa đựng tất cả niềm hy vọng cuối cùng.”
“Người cán bộ thú y vẫn giữ vẻ đăm chiêu, từ từ cất giọng:
“Tôi đã xem xét kỹ lưỡng cả ba con rồi. Tình trạng chung là không có dấu hiệu xuất huyết trong hay các tổn thương đặc trưng do bả chó hay thuốc độc diệt chuột, diệt côn trùng phổ biến gây ra. Dạ dày cũng không có thức ăn hay vật thể lạ nghi là bả.”
Ông Tư và Vợ ông Tư nghe vậy thì càng thêm khó hiểu. Nếu không phải bả, thế là gì? Ánh mắt họ đầy vẻ hoang mang tột độ.
“Thế… thế là sao hả ông?” Vợ ông Tư lắp bắp hỏi. “Không phải bả thì là gì mà chết thảm thế này?”
Người cán bộ thú y trầm ngâm một lát rồi nói tiếp: “Tuy nhiên, tôi phát hiện các con vật đều có dấu hiệu của sự hoảng loạn, mất phương hướng cực độ ngay trước khi chết. Đồng tử giãn rộng, cơ thể co cứng bất thường. Các dấu hiệu này không giống với ngộ độc thông thường.”
Ông Tư cau mày, giọng gằn xuống: “Mất phương hướng? Hoảng loạn? Ý ông là sao?”
“Có khả năng,” người cán bộ thú y nói chậm rãi, “là chúng đã ngửi hoặc tiếp xúc trực tiếp với một thứ gì đó lạ, một loại hóa chất hay chất kích thích nào đó không phải là thuốc độc phổ biến, khiến hệ thần kinh bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến sợ hãi tột độ và suy kiệt mà chết. Mùi đó có thể rất nồng, gây khó chịu tức thời.”
Câu nói của người cán bộ thú y như một gáo nước lạnh dội vào Ông Tư và Vợ ông Tư. Không phải bả, không phải kiểu giết hại quen thuộc mà họ từng nghe nói. Đây là một phương pháp tàn độc và bí ẩn hơn nhiều.
“Thứ gì cơ?” Ông Tư nghiến răng. “Ai mà nhẫn tâm đến mức dùng cái thứ quái quỷ gì đó để làm chết đàn chó của tôi thế này!”
Vợ ông Tư bắt đầu khóc nấc lên lần nữa. Nỗi đau mất chó hòa lẫn với sự tức giận và sợ hãi trước thủ đoạn tàn ác không thể gọi tên. Ai đó đã dùng cách gì đó cực kỳ khủng khiếp, khiến những con vật hiền lành của họ phải chết trong sợ hãi và đau đớn tột cùng.
Đám đông xung quanh cũng xôn xao bàn tán. Không phải bả chó? Vậy là thứ gì? Lời nhận định của chuyên gia không mang lại câu trả lời rõ ràng, mà chỉ làm tăng thêm sự u ám và bất an cho cả xóm.
Nhân vật chính đứng dựa vào gốc cây mít cuối sân, cảm giác toàn thân như đông cứng lại. Hoảng loạn, mất phương hướng, ngửi hoặc tiếp xúc với thứ lạ… Từng từ của người cán bộ thú y như những nhát búa đóng vào đầu. Ông ta đang mô tả chính xác những gì mình đã làm. Muối, gạo, tỏi nướng, bột ngải khô, tro than… Chúng không phải là thuốc độc, nhưng rõ ràng chúng đã gây ra hiệu ứng khủng khiếp như vậy. Cái cảm giác sợ hãi và tội lỗi lúc này đã biến thành một cục nghẹn đắng nơi cổ họng. Ánh mắt tức giận và đầy hằn học của Ông Tư khi nghe chuyên gia phân tích khiến Nhân vật chính chỉ muốn quay lưng bỏ chạy. Mọi chuyện đang đi theo hướng tồi tệ nhất. Manh mối về thứ ‘lạ’ đó… liệu có ai phát hiện ra không?”
“Đám đông xung quanh vẫn xôn xao bàn tán, mỗi người một vẻ kinh ngạc xen lẫn sợ hãi. Cái chết bí ẩn của đàn chó không giống bất kỳ trường hợp nào họ từng biết. Ông Tư và Vợ ông Tư vẫn chết lặng, ánh mắt đờ đẫn nhìn xác những con vật cưng.
Trưởng thôn, sau khi nghe kỹ lời phân tích của người cán bộ thú y về “”thứ lạ”” từ bên ngoài gây ảnh hưởng thần kinh, bắt đầu đảo mắt quan sát khu vực xung quanh. Ông muốn tìm kiếm xem có dấu hiệu gì bất thường không. Ánh mắt ông dừng lại ở lối đi nhỏ sát bờ tường rào nhà ông Tư, dẫn ra gần cổng chính. Đây là nơi mà đàn chó thường hay chạy loanh quanh, cũng là nơi Nhân vật chính đã hành động vào đêm mưa phùn ba ngày trước.
Trưởng thôn bước tới, cúi thấp người nhìn kỹ nền đất. Đêm mưa phùn hôm trước đã làm nhòe nhoẹt nhiều thứ, nhưng nếu để ý kỹ, vẫn có thể nhận ra những vệt mờ bất thường. Ông đưa tay quệt nhẹ vào một mảng đất hơi sẫm màu gần gốc cây cảnh. Có một thứ bột mịn còn vương lại, không rõ là gì. Ông đưa tay lên mũi ngửi thử. Một mùi hương ngai ngái, hăng hắc, lẫn với mùi khét nhẹ của tro và mùi tỏi nướng thoang thoảng.
“Đây này!” Trưởng thôn bỗng lên tiếng, giọng hơi ngạc nhiên. “Có thứ gì đó ở đây.”
Ông Tư, Vợ ông Tư và người cán bộ thú y lập tức tiến lại gần. Ông Tư cau mày nhìn điểm Trưởng thôn vừa chỉ.
“Thứ gì thế hả ông?” Ông Tư hỏi, trong lòng dâng lên một dự cảm chẳng lành.
Người cán bộ thú y cũng cúi xuống xem xét. Ông cẩn thận lấy một ít bột còn sót lại vào đầu ngón tay, xoa nhẹ và ngửi.
“Mùi lạ thật,” ông lẩm bẩm. “Không phải thuốc bảo vệ thực vật, cũng không phải thuốc diệt chuột loại phổ biến. Nó có vẻ là hỗn hợp của nhiều thứ… có mùi thảo mộc khô, mùi tro… và cả mùi tỏi nướng nữa.”
Ông ngẩng đầu lên nhìn ông Tư, vẻ mặt càng thêm đăm chiêu.
“Những dấu vết này nằm rải rác ngay lối đi gần cổng và dọc bờ tường,” người cán bộ thú y nói, ánh mắt lướt qua khu vực. “Và mùi này… nó rất đặc trưng. Rất có thể đây chính là ‘thứ lạ’ mà tôi vừa nói đến. Có vẻ như đàn chó đã tiếp xúc trực tiếp với nó ở đây.”
Lời nói của chuyên gia như một lời khẳng định. Manh mối đã xuất hiện. Có kẻ đã cố tình rải thứ gì đó ở khu vực này, thứ đã gây ra cái chết khủng khiếp cho đàn chó.
Nhân vật chính đứng lẫn trong đám đông, nhìn Trưởng thôn và chuyên gia cúi xuống kiểm tra những dấu vết mình để lại. Từng từ họ nói, từng hành động họ làm, như những nhát kim đâm thẳng vào lồng ngực Nhân vật chính. Mùi ngải, mùi tro, mùi tỏi nướng… tất cả đều quá quen thuộc. Cảm giác sợ hãi lúc nãy giờ biến thành sự hoảng loạn tột độ. Tim Nhân vật chính đập thình thịch trong lồng ngực, đập mạnh đến mức tưởng như người đứng cạnh cũng có thể nghe thấy. Toàn thân run rẩy, mồ hôi lạnh túa ra như tắm. Ánh mắt Nhân vật chính dán chặt vào đám đông đang xúm lại xem xét dấu vết, sợ hãi tột độ rằng chỉ vài giây nữa thôi, một ai đó sẽ ngẩng lên, nhìn thẳng vào Nhân vật chính và nhận ra mọi chuyện. Manh mối đã bị phát hiện rồi.”
““Đúng vậy,” người cán bộ thú y gật gù, tay vẫn miết nhẹ thứ bột trên ngón tay. “Cái mùi này… nó kích thích khứu giác rất mạnh. Nếu là hỗn hợp có tác dụng gây mất phương hướng, hoảng loạn như tôi suy đoán, thì khu vực này chính là nơi đàn chó đã tiếp xúc trực tiếp và bị ảnh hưởng đầu tiên.”
Ông ngẩng lên, nhìn về phía nhà ông Tư rồi đảo mắt quanh khu vực.
“Hãy thử hình dung,” ông nói, giọng trầm xuống. “Trong đêm tối, dưới cơn mưa phùn. Đàn chó đang yên bình bỗng ngửi thấy mùi lạ, rất khó chịu và gây hoảng loạn. Chúng lập tức bị kích động, chạy tán loạn để thoát khỏi thứ mùi đó.”
Trưởng thôn và ông Tư lắng nghe một cách căng thẳng. Đám đông xung quanh cũng im phăng phắc.
“Bị mất phương hướng, hoảng loạn trong đêm tối… chúng không còn nhận biết được đâu là nhà, đâu là lãnh thổ an toàn nữa,” người cán bộ thú y tiếp tục, tay chỉ về phía xa, nơi có con đường lớn chạy qua và phía dưới là con mương nước. “Chúng chỉ biết chạy theo bản năng thoát thân, chạy thật xa khỏi cái mùi đang giày vò thần kinh. Mà lối đi này, ngay sát cổng… dẫn thẳng ra đường lớn, ra các khu vực xung quanh.”
Một sự thật kinh hoàng bắt đầu hiện ra. Ông Tư há hốc miệng.
“Ý ông là… chúng nó chạy loạn trong đêm?” ông Tư lắp bắp.
“Chính xác,” người cán bộ thú y khẳng định. “Trong trạng thái hoảng loạn tột độ, mất phương hướng. Việc chúng chạy ra đường lớn, bị xe cộ đâm phải… hoặc chạy vào những khu vực nguy hiểm như bờ mương, con lạch rồi ngã xuống… thậm chí va đập vào vật cứng trong lúc chạy thục mạng… là hoàn toàn có thể xảy ra.”
Ông dừng lại một lát, ánh mắt nhìn từng người trong đám đông.
“Có vẻ như… đây không phải là một vụ đầu độc có chủ đích giết chết ngay lập tức,” ông nói chậm rãi. “Mà là một hành động gây mất phương hướng, khiến đàn chó tự lao vào chỗ chết vì hoảng loạn và không kiểm soát được hành vi.”
Sự bàng hoàng lan khắp cả xóm. Một cái chết không trực tiếp bằng thuốc độc, mà tàn khốc hơn, là đẩy những con vật vào tình trạng kinh hoàng rồi tự tìm đến kết cục bi thảm. Ánh mắt ông Tư và Vợ ông Tư đỏ hoe, không kìm được nước mắt khi hình dung cảnh những con chó của mình, hoảng loạn tột cùng, vùng vẫy trong đêm mưa rồi kết thúc bi thảm dưới bánh xe, dưới dòng nước lạnh hoặc bên những vật cản cứng ngắc.
“Vậy là… là do thứ này?” ông Tư run rẩy chỉ vào dấu vết trên đất.
“Rất có khả năng,” Trưởng thôn đáp, giọng nặng trĩu. “Thứ này đã khiến chúng nó ra nông nỗi này.”
Không khí trở nên nặng nề. Nỗi sợ hãi lúc đầu vì cái chết bí ẩn giờ đây chuyển thành sự chua xót và phẫn nộ đối với kẻ đã rải thứ hỗn hợp tàn nhẫn này. Ai đó trong đám đông khẽ thốt lên, “Thật độc ác… Không giết trực tiếp, mà làm cho chúng nó phải chết thê thảm như vậy.”
Nhân vật chính đứng trong bóng tối, nghe rõ từng lời phân tích, từng tiếng nấc nghẹn của ông Tư. Cảm giác sợ hãi ban nãy giờ đã biến thành nỗi kinh hoàng tột cùng và sự ăn năn ghê gớm. Không phải ngộ độc, không phải bẫy chết ngay. Thứ mình rải đã không giết chết chúng một cách nhanh chóng, mà đẩy chúng vào cơn ác mộng, buộc chúng phải chạy loạn trong đêm mưa và chết một cách đau đớn, thảm thương. Mỗi từ ngữ miêu tả cảnh đàn chó hoảng loạn, lao vào chỗ chết như một nhát dao đâm vào tim Nhân vật chính. Cái chết của chúng, hóa ra, lại tàn khốc hơn những gì Nhân vật chính từng nghĩ. Hành động của mình đã gây ra một bi kịch không chỉ cho đàn chó, mà còn cho cả ông Tư, Vợ ông Tư và cả xóm. Manh mối đã được tìm thấy. Sự thật đang dần hé lộ. Ai là kẻ đã làm điều này? Ánh mắt nghi ngờ có thể sẽ sớm đổ dồn vào những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi tiếng chó sủa. Mồ hôi lạnh vẫn túa ra, ướt đẫm lưng áo Nhân vật chính.”
““Không phải đầu độc trực tiếp thì là gì?” Ông Tư gào lên, giọng lạc đi vì uất hận. Mặt ông đỏ bừng, gân máu nổi lên. Sự bàng hoàng ban nãy giờ đã chuyển hóa thành cơn giận dữ bùng phát. “Thứ này… thứ rắc xuống đất này… nó không độc làm chết ngay thì nó cũng là thứ độc hại!”
Ông Tư chỉ tay run rẩy vào vệt bột trên mặt đất, mắt long sòng sọc nhìn quanh đám đông.
“Nó làm cho chó của tôi hoảng loạn, làm cho chúng nó không còn biết đường về nhà! Nó đẩy chúng nó lao ra đường, lao xuống mương chết thê thảm!” Ông gằn từng tiếng, nước mắt chảy giàn giụa nhưng không còn là nước mắt xót thương đơn thuần, mà là nước mắt căm phẫn. “Đó không phải là cố tình phá hoại thì là gì? Cố tình rắc thứ độc hại vào nhà tôi để giết chết đàn chó của tôi!”
Lời buộc tội giờ đây không còn là “hạ độc” theo nghĩa đen, mà là một hành động tàn nhẫn, cố tình gây ra sự hỗn loạn để dẫn đến cái chết. Ông Tư cảm thấy như kẻ thù không chỉ muốn lấy mạng đàn chó, mà còn muốn giày vò chúng, muốn phá nát cuộc sống yên bình của gia đình ông.
Vợ ông Tư đứng cạnh, nức nở theo từng tiếng gào của chồng. Đám đông xung quanh vẫn im lặng, nhưng ánh mắt họ bắt đầu chuyển từ kinh hãi sang phẫn nộ. Một số người bắt đầu xì xào bàn tán, suy đoán về động cơ của kẻ đã rải thứ hỗn hợp đó. Ai lại tàn nhẫn đến mức dùng cách này để khiến đàn chó phải chết thê thảm đến vậy?
Trưởng thôn khẽ thở dài, bước lại gần ông Tư, vỗ nhẹ lên vai ông. “Ông Tư bình tĩnh, chúng ta cần tìm hiểu rõ ràng. Chắc chắn kẻ nào làm chuyện này sẽ phải chịu trách nhiệm.”
“Trách nhiệm gì nữa!” Ông Tư gạt tay Trưởng thôn ra, giọng khản đặc. “Đàn chó của tôi chết hết rồi! Máu mủ tôi nuôi bao năm trời! Kẻ nào cố tình làm chuyện này… Kẻ nào rắc thứ phá hoại này vào nhà tôi… là kẻ thù của tôi! Kẻ đó đã giết chết chúng nó!”
Ông Tư đảo mắt tìm kiếm trong đám đông, ánh nhìn đầy căm hận dừng lại trên từng gương mặt. Ông muốn tìm ra kẻ đã nhẫn tâm gây ra bi kịch này. Cái chết của đàn chó, dưới ánh sáng của sự thật vừa được hé lộ, trở nên đau đớn và bất công hơn bao giờ hết.
Nhân vật chính vẫn đứng nép mình, cố gắng hòa lẫn vào bóng tối. Mỗi lời buộc tội của ông Tư như một nhát búa giáng xuống đầu. Cơn giận dữ và lời nguyền rủa của ông không nhắm vào một ai cụ thể, nhưng Nhân vật chính biết rõ nó đang nhằm thẳng vào hành động của mình. Không phải cố ý giết chết trực tiếp, nhưng đã gián tiếp gây ra một thảm kịch khủng khiếp. Cảm giác tội lỗi đè nặng, khiến Nhân vật chính gần như không thở nổi. Chỉ cần một ánh mắt soi mói, một câu hỏi nghi ngờ, mọi chuyện có thể vỡ lở. Tim Nhân vật chính đập thình thịch, cảm giác như cả xóm đang nín thở chờ đợi ai sẽ là người bị phát hiện.”
“Ông Tư vẫn thở hổn hển, ánh mắt đầy căm phẫn rà soát từng gương mặt trong đám đông. Không ai dám nhìn thẳng vào mắt ông. Tiếng xì xào bắt đầu nổi lên, rất nhỏ, như tiếng côn trùng cánh mỏng bay vo ve.
“Khổ thân đàn chó quá…” Một người phụ nữ rụt rè thì thầm với người đứng cạnh.
“Ừ, chết thảm thật…” Người kia đáp, giọng đầy thương cảm. Họ nhìn về phía căn nhà ông Tư, nơi vợ ông vẫn đang gục xuống nức nở.
Nhưng chỉ cách đó vài bước, tiếng xì xào lại mang một âm hưởng khác.
“Cũng tại ông ấy thôi…” Một người đàn ông nói khẽ, đủ để những người xung quanh nghe thấy. “Nuôi cả đàn chó to như vậy, sủa inh ỏi ngày đêm. Ai mà chịu nổi?”
Một người khác tiếp lời, giọng đầy ẩn ý: “Cây kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Cái gì đến thì nó cũng phải đến.”
“Đúng đấy, bao nhiêu lần cả xóm ý kiến rồi, ông ấy có nghe đâu?”
Những lời bàn tán vụn vặt, mang tính đánh giá và hả hê kín đáo, len lỏi trong đám đông. Không ai nói to, không ai chỉ đích danh ai, nhưng bầu không khí trở nên nặng nề hơn bởi những suy nghĩ trái chiều. Có người thực sự thương xót cho cái chết của đàn chó, xem đó là một tai nạn tàn khốc. Lại có người thầm nghĩ đây là hậu quả tất yếu cho sự ích kỷ, không quan tâm đến hàng xóm láng giềng của ông Tư bấy lâu nay. Họ không vui mừng trước cái chết, nhưng cũng không giấu nổi sự thầm lặng đồng tình với việc tiếng sủa kinh khủng kia đã chấm dứt.
Những cái lắc đầu đầy ẩn ý xuất hiện đây đó. Tiếng thở dài lẫn trong tiếng gió và tiếng nức nở của vợ ông Tư. Dù suy nghĩ thế nào đi nữa, không ai trong đám đông dám đứng ra bênh vực hay lên án gay gắt. Họ chỉ đứng đó, chứng kiến, xì xào, và cảm thấy một sự bất an lạ lùng. Ai đã làm điều này? Dù hành động đó có thể được một vài người coi là “đáng đời”, nhưng cách thực hiện tàn nhẫn và bí ẩn khiến tất cả đều cảm thấy rợn người. Ai lại lén lút rải thứ hỗn hợp đó vào ban đêm? Kẻ đó là người trong xóm hay từ nơi khác đến? Động cơ thực sự là gì?
Nhân vật chính cảm thấy hơi thở nghẹn lại trong lồng ngực. Mỗi lời thì thầm, mỗi ánh mắt lướt qua đều khiến Nhân vật chính giật mình. Cảm giác như mọi người đều đang nhìn, đang nghi ngờ. Tiếng xì xào về “quả báo”, về “cái gì đến cũng phải đến” như những mũi kim đâm vào lương tâm Nhân vật chính. Nhân vật chính biết họ không nói về mình, nhưng chính hành động của Nhân vật chính đã gián tiếp tạo ra cái “quả báo” khủng khiếp này. Nhân vật chính lùi lại một chút, cố gắng lẫn vào hàng cây ven đường, chỉ mong biến mất khỏi nơi này. Tim đập như trống trận, chỉ sợ một tiếng động nhỏ, một cái nhìn vô tình cũng sẽ lật tẩy tất cả. Đám đông vẫn đứng đó, những khuôn mặt nửa tối nửa sáng trong ánh đèn đường leo lét, tràn ngập sự tò mò, e ngại, và một nỗi bất an không tên về kẻ giấu mặt đã gây ra vụ việc chấn động cả xóm nhỏ.”
“Nhân vật chính lùi lại một chút, cố gắng lẫn vào hàng cây ven đường, chỉ mong biến mất khỏi nơi này. Tim đập như trống trận, chỉ sợ một tiếng động nhỏ, một cái nhìn vô tình cũng sẽ lật tẩy tất cả. Đám đông vẫn đứng đó, những khuôn mặt nửa tối nửa sáng trong ánh đèn đường leo lét, tràn ngập sự tò mò, e ngại, và một nỗi bất an không tên về kẻ giấu mặt đã gây ra vụ việc chấn động cả xóm nhỏ.
Từ chỗ mình đang ẩn mình, Nhân vật chính nhìn về phía ông Tư. Người đàn ông già vẫn quỳ bên những xác chó, tấm lưng gầy rung lên bần bật trong tiếng nấc nghẹn. Hai bàn tay run rẩy vuốt ve bộ lông đã lạnh ngắt của con chó lớn nhất, nước mắt hòa lẫn với nước mưa phùn chảy dài trên khuôn mặt nhăn nheo. Tiếng khóc ai oán, thảm thiết của ông Tư như nhát dao cứa thẳng vào lồng ngực Nhân vật chính.
Cảnh tượng đó quá sức chịu đựng. Cái chết của đàn chó, nỗi đau tột cùng của ông Tư… Tất cả như một gáo nước lạnh dội thẳng vào Nhân vật chính, đánh tan mọi sự bào chữa, mọi lý lẽ Nhân vật chính từng dùng để biện minh cho hành động của mình. Ban đầu chỉ là muốn đàn chó đi chỗ khác, chỉ là muốn có một đêm yên tĩnh cho con gái ốm, cho mẹ già có thể chợp mắt sau bao đêm mất ngủ vì tiếng sủa đinh tai nhức óc. Chỉ đơn giản là muốn đuổi chúng đi, không hề muốn chúng phải chết một cách thê thảm như thế này.
Nhân vật chính nhắm mắt lại, cố gắng hít thở thật sâu, nhưng không khí như đặc quánh lại, nghẹn ở cổ họng. Tiếng khóc của ông Tư, tiếng xì xào bàn tán của hàng xóm, và cả sự tĩnh lặng đáng sợ đột ngột ập đến sau bao đêm ồn ào… Tất cả như những âm thanh vọng lại trong tâm trí, dày vò khôn nguôi.
Đúng là giờ không còn tiếng chó sủa nữa. Ngôi nhà giờ đây tĩnh lặng một cách kỳ lạ. Sự yên tĩnh mong muốn đã đến, nhưng cái giá phải trả lại quá đắt, quá tàn nhẫn. Cảm giác nhẹ nhõm thoáng qua ban đầu nhanh chóng tan biến, nhường chỗ cho một gánh nặng tội lỗi khổng lồ đè lên vai. Nhân vật chính là người gây ra thảm kịch này. Dù không cố ý giết chết chúng, nhưng chính hành động rải thứ bột đó vào đêm mưa đã dẫn đến kết cục đau lòng này.
Nhân vật chính mở mắt, nhìn lại ông Tư. Ông Tư vẫn đang ôm lấy xác con chó, lẩm bẩm điều gì đó không rõ. Vợ ông Tư ngồi bên cạnh, khóc đến lả đi. Cả xóm vẫn đứng đó, chứng kiến nỗi đau và sự mất mát. Và Nhân vật chính, kẻ đứng sau tất cả, lại phải lẩn khuất trong bóng tối, mang theo nỗi day dứt khôn tả. Cái “”bài thuốc xua đuổi”” từ người bạn dân tộc đã trở thành liều thuốc độc chết người. Giấc ngủ yên bình Nhân vật chính tìm kiếm giờ đây lại trở thành cơn ác mộng ám ảnh.”
“Nhân vật chính vẫn nấp sau hàng cây, đôi mắt dõi theo ngôi nhà ông Tư. Không còn tiếng ồn ào, không còn tiếng chó sủa vang vọng khắp xóm. Thay vào đó là một sự tĩnh lặng đến rợn người, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng cuốc đất khô khốc và tiếng khóc thút thít.
Ông Tư, với khuôn mặt hốc hác, lặng lẽ đào những cái hố nhỏ trong mảnh vườn sau nhà. Vợ ông Tư ngồi sụp bên cạnh, ôm lấy một trong những xác chó, nước mắt không ngừng chảy. Cảnh tượng đó khác xa với hình ảnh ông Tư hăng hái quát tháo đàn chó hay vợ ông Tư tất bật chăm sóc chúng mỗi ngày. Giờ đây chỉ còn lại sự mất mát và nỗi đau câm lặng.
Họ không nói với nhau nhiều, chỉ những cái chạm tay, những tiếng thở dài. Từng xác chó được đặt cẩn thận xuống hố. Không có lễ nghi nào, không có người đến chia buồn rầm rộ như với con người. Chỉ là một đám tang đơn giản, lặng lẽ, dành cho những sinh linh đã gắn bó.
Nhân vật chính nhìn thấy Ông Tư cúi xuống, chậm rãi lấp đất. Mỗi nhát cuốc như đập vào lồng ngực Nhân vật chính. Nỗi day dứt biến thành cơn đau thể xác. Sự tĩnh lặng này chính là điều Nhân vật chính khao khát, nhưng sao lại thấy nặng nề hơn cả những đêm dài mất ngủ vì tiếng chó sủa? Sự yên bình đó được đổi bằng sinh mạng, bằng nỗi đau tột cùng của một gia đình.
Gánh nặng tội lỗi đè lên vai Nhân vật chính càng lúc càng nặng. “”Chỉ muốn xua đuổi…””, “”Chỉ muốn yên tĩnh…””, những lời biện hộ nghe sao chói tai và vô nghĩa lúc này. Nhân vật chính là thủ phạm. Kẻ đứng sau màn kịch câm bi thương đang diễn ra trước mắt.
Hoàng hôn buông xuống, tô điểm màu tím u ám lên bầu trời và ngôi nhà ông Tư. Đống đất mới đắp lên những cái hố nhỏ như những nấm mồ cô đơn. Ông Tư và vợ ngồi bên cạnh đó thật lâu, như không muốn rời đi. Khung cảnh tang thương đó như một bức tranh khắc sâu vào tâm trí Nhân vật chính, nhắc nhở về cái giá khủng khiếp của sự ích kỷ và hành động thiếu suy nghĩ. Cả ngôi nhà, cả mảnh vườn, và cả trái tim Nhân vật chính chìm trong sự u ám và nặng nề chưa từng thấy.”
“Những đêm sau đó, cả xóm chìm vào một sự yên tĩnh lạ lùng. Không còn tiếng chó sủa xé tai, không còn những đêm dài thao thức vì tiếng ồn. Con gái nhân vật chính đã ngủ ngon hơn, tiếng ho khan giảm hẳn. Mẹ già nhân vật chính không còn thở dài than vãn mỗi sáng vì mất ngủ. Cái sự yên bình mà Nhân vật chính từng khao khát giờ đây đã hiển hiện.
Thế nhưng, sự yên tĩnh này không mang lại cảm giác thanh thản. Nó giống như sự im lặng trước một cơn bão, hay sự vắng vẻ đáng sợ của một nơi vừa xảy ra chuyện chẳng lành. Mỗi buổi sáng thức dậy, nhìn ra xóm, Nhân vật chính không còn thấy ông Tư dắt đàn chó đi dạo hay tiếng chúng nô đùa sau vườn. Thay vào đó là sự trống vắng.
Ông Tư vẫn sống ở đó, trong ngôi nhà quen thuộc. Nhưng ông đã thay đổi. Vẻ mặt ông luôn đượm vẻ đau khổ, hốc hác hơn hẳn. Đôi mắt ông không còn sự hăng hái thường ngày, thay vào đó là nỗi buồn và một sự cảnh giác khó tả. Thỉnh thoảng, ông Tư lại ngước nhìn những ngôi nhà xung quanh, ánh mắt dừng lại lâu hơn ở một vài điểm, như đang tìm kiếm điều gì đó, hay nghi ngờ ai đó. Cái nhìn đó khiến bất kỳ ai vô tình chạm phải đều cảm thấy ớn lạnh.
Nhân vật chính cảm nhận rõ ràng sự căng thẳng mỗi khi buộc phải đi ngang qua nhà ông Tư. Dù chỉ là đi chợ hay đi làm, bước chân luôn có cảm giác nặng nề, lén lút. Mỗi lần ông Tư tình cờ đi ra cổng khi Nhân vật chính đi qua, ánh mắt họ vô tình chạm nhau. Ánh mắt ông Tư sắc lạnh, dò xét, còn Nhân vật chính thì cố gắng tỏ ra bình thường, nhưng lòng lại quặn thắt bởi cảm giác tội lỗi và sự sợ hãi bị phát hiện.
Cái yên tĩnh của xóm lúc này không phải là sự bình yên, mà là một thứ áp lực vô hình đè nặng lên tất cả. Mọi người trong xóm cũng nhận ra sự thay đổi ở ông Tư, và họ bắt đầu thì thầm, bàn tán. Một số người tỏ vẻ thương xót, nhưng số khác, đặc biệt là những người từng chịu đựng tiếng chó sủa, lại nhìn ông Tư với ánh mắt phức tạp – có chút hả hê vì hết bị làm phiền, nhưng cũng có chút sợ hãi trước sự mất mát của ông và sự thay đổi trong ánh mắt đó.
Nhân vật chính biết, cái giá của sự yên tĩnh này không chỉ là sinh mạng của đàn chó, mà còn là sự rạn nứt trong mối quan hệ xóm giềng, là nỗi ám ảnh dai dẳng trong tâm trí. Và điều tồi tệ nhất, là ánh mắt đầy nghi ngờ của ông Tư, như thể ông đang lặng lẽ điều tra, tìm kiếm thủ phạm, và bất cứ lúc nào cũng có thể hướng thẳng vào Nhân vật chính.”
“Sự yên tĩnh bao trùm cả xóm. Buổi sáng thức dậy, Nhân vật chính không còn giật mình bởi tiếng chó sủa vang động hay tiếng ông Tư la mắng chúng. Con gái Nhân vật chính đã ngủ một mạch đến sáng, khuôn mặt hồng hào hơn. Mẹ già Nhân vật chính không còn than thở đau đầu vì mất ngủ. Giấc ngủ trọn vẹn, cái sự yên bình tưởng như quý giá nhất, giờ đây lại mang một vị chát đắng.
Nhân vật chính nhìn ra cửa sổ. Nhà ông Tư vẫn ở đó, im lìm. Không tiếng động. Không đàn chó chạy nhảy ngoài sân. Nó trống rỗng một cách ám ảnh.
Trong lòng Nhân vật chính, gánh nặng của đêm mưa phùn năm ấy chưa bao giờ vơi bớt. Cái cảm giác tội lỗi cứ âm ỉ như ngọn lửa tàn dưới lớp tro. Mỗi lần đi ngang qua nhà ông Tư, bước chân Nhân vật chính lại chậm lại, lén lút hơn bao giờ hết. Không còn những lời chào hỏi xã giao thường ngày. Không còn những câu chuyện phiếm đầu ngõ. Chỉ còn sự im lặng căng thẳng.
Một buổi chiều, Nhân vật chính đi chợ về. Vừa hay, ông Tư bước ra cổng nhà, vẻ mặt khắc khổ, hốc hác. Ánh mắt ông lướt qua Nhân vật chính. Đó không phải là ánh mắt của người hàng xóm thân quen, mà là ánh mắt dò xét, đầy nghi kỵ, như thể ông đang cố đọc điều gì đó ẩn giấu trong tâm hồn Nhân vật chính. Nhân vật chính vội vàng cúi xuống, cố gắng tỏ ra bình thường, bước nhanh hơn. Tim đập thình thịch trong lồng ngực. Cái cảm giác bị theo dõi, bị nghi ngờ, dù không lời nào được nói ra, còn đáng sợ hơn bất kỳ tiếng chó sủa nào trước đây.
Vợ ông Tư thi thoảng vẫn gặp Nhân vật chính ngoài chợ. Bà không nói gì về chuyện đàn chó, chỉ lặng lẽ mua bán. Nhưng ánh mắt bà cũng mang nặng nỗi buồn và sự đề phòng khó tả. Mối quan hệ xóm giềng đã rạn nứt không thể hàn gắn.
Người trong xóm thì thầm bàn tán. Có người thương ông Tư mất của, mất bạn. Có người lại hả hê vì tai ương của ông, vì họ cuối cùng cũng được yên ổn. Nhưng nhìn chung, mọi người đều cảnh giác. Cái chết bí ẩn của đàn chó gieo rắc một nỗi sợ hãi vô hình. Ai đó đã dám làm điều đó, một điều tàn nhẫn và bí ẩn. Và thủ phạm vẫn đang sống giữa họ.
Nhân vật chính sống trong nỗi day dứt và sợ hãi ấy. Mỗi khi nhìn thấy con gái ngủ ngon, thấy mẹ già không còn mệt mỏi, Nhân vật chính tự nhủ rằng mình đã làm điều đúng đắn vì gia đình. Nhưng cái giá phải trả quá đắt. Nó không chỉ là sự mất mát của người khác, mà còn là sự bình yên giả tạo của chính mình.
Cái bí mật đó như một hòn đá tảng đè nặng. Mỗi đêm, Nhân vật chính lại nhớ về đêm mưa phùn định mệnh, nhớ lại cảm giác tuyệt vọng, nhớ lại bài thuốc bí ẩn của người bạn dân tộc, nhớ lại hành động lén lút trong bóng tối. Bột ngải khô trộn tro than. Muối gạo trộn tỏi nướng. Chúng đã làm được việc của chúng, nhưng hậu quả thì ngoài sức tưởng tượng. Nhân vật chính hiểu rằng, sự bình yên này chỉ là tạm bợ, được xây dựng trên nỗi đau của người khác và sự che đậy đầy tội lỗi. Nó không mang lại sự thanh thản mà Nhân vật chính từng nghĩ.
Ngày tháng cứ thế trôi đi. Xóm nhỏ vẫn tĩnh lặng, nhưng là một sự tĩnh lặng đầy ám ảnh. Ông Tư vẫn nhìn mọi người với ánh mắt dò xét. Nhân vật chính vẫn sống trong sợ hãi và day dứt khôn nguôi. Bài học về cái giá của sự yên bình, về hậu quả không lường trước của những hành động trong tuyệt vọng, và về gánh nặng của bí mật, khắc sâu vào tâm khảm Nhân vật chính. Cuộc sống đã trở lại quỹ đạo, nhưng tâm hồn thì không bao giờ còn như trước. Sự yên bình đã đến, nhưng nó mang theo một vết sẹo vĩnh viễn, một lời nhắc nhở đau đớn về ranh giới mong manh giữa đúng và sai, giữa sự giải thoát và tội lỗi. Giấc ngủ ngon của gia đình không thể xoa dịu được nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng Nhân vật chính. Cái giá của sự bình yên này, thật quá đắt.”

