“Mày còn vác mặt đến đây làm gì cho nhục nhã.” Tiếng con Linh rít qua kẽ răng xé toạc sự ngột ngạt ở hành lang tầng ba khu giảng đường.
Tôi cùng cả chục sinh viên đứng ken đặc trước cửa phòng hội đồng khoa, vây kín lối đi như bức tường người sẵn sàng nuốt chửng kẻ lạc loài. Tất cả chúng tôi có mặt ở đây từ sáng sớm chỉ để đợi một cảnh tượng duy nhất: xem Thảo bị tước quyền bảo vệ khóa luận tốt nghiệp và nhận quyết định đuổi học thích đáng.
Cả cái khoa này ai cũng biết Thảo vừa làm đơn gửi thẳng lên ban giám hiệu, vu khống thầy Dũng – giảng viên chủ nhiệm mẫu mực kiêm trưởng bộ môn mà bọn tôi kính trọng. Tin đồn lan nhanh như dầu loang. Mọi người sục sôi phẫn nộ, lập nhóm tẩy chay, dán nhãn Thảo là loại sinh viên hư hỏng, tráo trở, muốn dùng trò bẩn để vòi vĩnh điểm số nhưng bất thành nên quay sang cắn càn.
Thế nhưng, Thảo xuất hiện mà không hề có vẻ run rẩy hay xấu hổ như mường tượng của chúng tôi. Con bé mặc chiếc áo sơ mi trắng đã bạc màu ở cổ tay, bước từng nhịp gót giày gõ cộc cộc xuống nền gạch hoa cũ kỹ. Không một tiếng nức nở, không một cái cúi đầu lẩn tránh.
“Tránh ra.” Thảo cất giọng, đều đều và lạnh ngắt.
Thằng Huy nhổ toẹt một bãi kẹo cao su xuống sát mũi giày Thảo, mặt hếch lên đầy thách thức: “Bọn tao không tránh đấy. Mày định vu oan giá họa cho ai nữa. Thầy Dũng vì mày mà mấy ngày nay sụt cân, mất cả danh dự. Hôm nay hội đồng kỷ luật mở công khai, để xem mặt mày còn giấu đi đâu.”
Mấy đứa phía sau hùa theo, buông những lời miệt thị cay độc nhất. Có đứa giơ điện thoại dí sát mặt Thảo quay phát trực tiếp, gào lên gọi con bé là vết nhơ của khóa. Bầu không khí hừng hực thù hằn, ngột ngạt đến mức chỉ cần một mồi lửa nhỏ là nổ tung. Bản thân tôi lúc ấy cũng sôi máu, hả hê chờ đợi cánh cửa gỗ lim kia mở ra để chứng kiến kẻ phản nghịch quỳ gối xin tha thứ.
Thảo không chớp mắt lấy một lần. Con bé lướt qua thằng Huy như thể nó chỉ là một khối không khí vô hình. Nhưng khi Thảo bước ngang qua tôi, tôi bỗng khựng lại. Ánh
mắt Thảo không phải sự chai lì của kẻ bất cần, mà là sự tĩnh lặng rợn người của một kẻ đã chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc đối đầu sinh tử.
Dưới nách Thảo, một xấp tài liệu dày cộp bọc trong phong bì xi măng màu nâu cũ kỹ được ghì chặt. Góc phong bì bị xé một vệt nhỏ, lộ ra góc giấy ố vàng cùng dòng chữ viết tay bằng mực đỏ nhòe nhoẹt và con dấu tròn lem luốc mờ ảo. Tôi kịp nhìn thấy các đầu ngón tay của Thảo bấm sâu vào mép giấy đến mức khớp xương trắng bệch, gân xanh nổi rõ rệt.
Cánh cửa phòng hội đồng đột ngột bật mở. Thầy Dũng bước ra, chỉnh lại gọng kính vàng quen thuộc cùng bộ vest phẳng phiu. Gương mặt thầy đượm vẻ nghiêm nghị, đau xót như người thầy vừa bị đứa học trò cưng đâm sau lưng.
“Các em giải tán bớt đi, đừng làm ồn trước cửa phòng họp.” Thầy Dũng nhẹ nhàng khuyên bảo đám sinh viên, rồi quay sang nhìn Thảo với ánh mắt trĩu nặng thất vọng. “Vào đi em. Thầy đã cho em rất nhiều cơ hội để rút lại lá đơn bịa đặt đó, nhưng em vẫn cố chấp đến bước đường này.”
Đám sinh viên phía sau lập tức ồ lên, đồng thanh chửi bới con bé trơ trẽn, bắt nó phải xin lỗi thầy ngay tại chỗ.
Thế nhưng ngay khoảnh khắc thầy Dũng vừa dứt câu, ánh mắt thầy vô tình liếc xuống góc phong bì xi măng rách mép trên tay Thảo. Nụ cười từ tốn nhân từ trên khóe môi thầy bỗng nhiên đông cứng lại. Cơ mặt thầy giật nhẹ một nhịp rất khẽ, bàn tay đang cầm tập hồ sơ bên hông run lên bần bật, lúng túng giấu vội ra sau lưng.
Thảo không nói một lời nào. Con bé ngẩng cao đầu, dùng cả hai tay đẩy thẳng cánh cửa phòng hội đồng bước vào trong, để lại sau lưng một tiếng rầm chát chúa trước sự ngơ ngác của cả đám đông.
Cánh cửa gỗ lim nặng trịch khép lại, nhưng nó không ngăn được luồng uất ức đang sục sôi nơi hành lang. Thằng Huy quệt mạnh giọt mồ hôi trên trán, nhổ thêm một bãi nước bọt rồi gằn giọng: “Để xem vào đấy con ranh còn giở trò gì được nữa. Thầy Dũng hiền quá nên nó mới trèo lên đầu lên cổ.”
Đám đông chung quanh nhao nhao hưởng ứng. Những chiếc điện thoại vẫn giơ cao, ống kính chĩa thẳng vào tấm biển đồng “Phòng Hội Đồng Khoa” như rình rập một con mồi sắp bị hành quyết. Tôi đứng lọt thỏm giữa những tiếng xì xào rủa sả, lồng ngực tự dưng nghẹn lại bởi một cảm giác lợm giọng khó tả. Cái run rẩy thoáng qua ở bàn tay thầy Dũng khi nhìn vào góc phong bì rách của Thảo cứ ám ảnh lấy tâm trí tôi. Một người đàn ông đĩnh đạc, luôn giữ vẻ đạo mạo điềm đạm trước hàng trăm sinh viên, tại sao lại để lộ một thoáng hoảng loạn trần trụi đến thế? Nhưng giữa một đám đông đang khát máu và tin chắc mình nắm giữ chính nghĩa, bất kỳ sự hoài nghi nào lúc này cũng đồng nghĩa với phản bội.
Khoảng mười lăm phút sau, khe cửa hé mở một khoảng hẹp. Bác bảo vệ già cùng một thầy trong ban thanh tra bước ra ngoài. Đám sinh viên dồn tới, nhao nhao hỏi thăm tình hình, mong mỏi nghe thấy bản án đuổi học ngay tức khắc. Nhưng thầy thanh tra chỉ lạnh lùng xua tay, yêu cầu tất cả giữ trật tự và lùi xa khỏi khu vực phòng họp. Qua khe cửa hé mở chớp nhoáng ấy, tôi rướn người nhìn vào trong.
Bầu không khí bên trong nặng như chì. Thảo đứng trơ trọi giữa căn phòng rộng mênh mông, đối diện với chiếc bàn chữ U của năm vị giáo sư lớn tuổi nhất khoa. Con bé đơn độc đến tội nghiệp dưới ánh đèn tuýp trắng bợt, hai vai gầy guộc nhưng sống lưng vẫn thẳng tắp. Xấp tài liệu bọc phong bì xi măng nâu vẫn nằm nguyên vẹn trên mặt bàn trước chỗ Thảo đứng. Con bé chưa hề mở nó ra. Không một tờ giấy nào được rút ra ngoài.
Bên cạnh đó, thầy Dũng đã hoàn toàn lấy lại vẻ mực thước thường ngày. Thầy đứng cạnh bàn hội đồng, hai tay chắp trước bụng, đầu hơi cúi xuống như một người cha già bất lực trước đứa con ngỗ nghịch. Giọng thầy truyền qua kẽ cửa dù nhỏ nhưng rành rọt, từng lời nắn nót rót vào tai những người bên trong: “Kính thưa các thầy cô trong hội đồng… Em Thảo vì áp lực không đạt điều kiện làm khóa luận tốt nghiệp đợt một, cộng thêm hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đã có những hành vi thiếu kiểm soát. Tôi rất đau lòng khi học trò do chính mình dìu dắt lại nảy sinh tâm lý thù hằn, bịa đặt chuyện tôi đòi hỏi tiền bạc hay lạm quyền quấy rối để làm cớ khiếu nại…”
Thảo không ngắt lời, nhưng tôi thấy sống lưng con bé khẽ run lên. Bàn tay Thảo đặt trên mặt bàn từ từ siết chặt lại thành nắm đấm.
Bất ngờ, thầy Trưởng khoa – một người nổi tiếng bảo thủ và ghét cay ghét đắng những vụ tai tiếng làm hoen ố thanh danh của khoa – đập mạnh tay xuống bàn. Tiếng đập chan chát dội ra tận ngoài hành lang: “Hồ đồ! Không có lửa làm sao có khói? Em mang cái xấp giấy tờ gì đến đây dọa dẫm hội đồng? Trường đại học là nơi tôn nghiêm, không phải cái chợ để em mang đơn từ vô căn cứ đến bôi nhọ thanh danh giảng viên! Em có biết hành vi vu khống danh dự nhà giáo là vi phạm pháp luật hình sự không?”
Tiếng quát tháo của thầy Trưởng khoa lọt ra ngoài, lập tức kích động đám sinh viên đứng ngoài cửa. Con Linh cười khẩy, đắc thắng bảo: “Đấy, thấy chưa, thầy Trưởng khoa mắng cho vuốt mặt không kịp. Đồ ăn cháo đá bát, loại này đuổi học là còn nhẹ.”
Tôi nhìn qua khe cửa, chờ đợi Thảo sẽ hét lên, sẽ xé toang cái phong bì xi măng kia ra để ném những tờ giấy mực đỏ vào mặt những kẻ đang phán xét mình. Nhưng Thảo vẫn đứng im như một pho tượng đá. Con bé chỉ ngước mắt nhìn thẳng vào thầy Dũng. Ánh mắt ấy không có sự tức giận gào thét, mà chỉ có một nỗi ghê tởm sâu hoắm, một sự khinh miệt lạnh toát khiến thầy Dũng phải giả vờ quay đi chỗ khác, vội vàng lấy khăn tay lau mồ hôi trên trán.
“Em có muốn tự tay rút đơn khiếu nại và viết bản kiểm điểm nhận lỗi trước toàn thể sinh viên trong khoa hay không?” Giọng thầy Trưởng khoa lại vang lên, lần này là một tối hậu thư đanh thép. “Nếu em nhận lỗi, hội đồng sẽ xem xét cho em bảo lưu kết quả để suy ngẫm lại nhân cách. Còn nếu em tiếp tục ngoan cố bám lấy trò vu cáo hèn hạ này, ngay trưa nay quyết định buộc thôi học và hồ sơ chuyển sang cơ quan điều tra sẽ được ký duyệt!”
Đó là một cái bẫy tàn nhẫn: hoặc tự nhận mình là kẻ vu khống đê tiện để giữ lấy tấm bằng dở dang, hoặc bị nghiền nát hoàn toàn sự nghiệp và danh dự. Cả hành lang nín thở. Đám sinh viên bên ngoài giương mắt chờ xem Thảo gục ngã.
Thảo cúi đầu nhìn xuống chiếc phong bì màu nâu. Ngón tay con bé chạm nhẹ vào vệt rách để lộ dòng chữ mực đỏ ố vàng. Khóe môi con bé nhếch lên một nụ cười cay đắng, rồi con bé ngẩng mặt lên, giọng nói dõng dạc vọng qua khe cửa, đập thẳng vào sự im lặng ngột ngạt của căn phòng:
“Em không rút đơn. Và em cũng không nhận bất kỳ cái tội nào mà các thầy gán cho em.”
Cả hội đồng ồ lên phẫn nộ. Thầy Trưởng khoa tức giận đứng bật dậy, cầm bút ký xoẹt một nét dứt khoát lên tập văn bản màu xanh trước mặt. Thầy Dũng thở phào một hơi rất nhẹ, nét mặt thoáng giãn ra một sự đắc ý kín đáo được che đậy khéo léo sau cặp kính vàng.
Cửa phòng hội đồng đột ngột bật mở toang. Thầy thanh tra bước ra, lạnh lùng tuyên bố trước đám đông: “Hội đồng đình chỉ tư cách sinh viên của em Thảo ngay từ giờ phút này. Yêu cầu toàn bộ sinh viên giải tán.”
Đám đông ngoài hành lang vỡ òa trong tiếng reo hò hả hê. Những lời sỉ vả, những tiếng chửi rủa trút xuống như mưa rào. Nhưng khi Thảo bước chân ra khỏi ngưỡng cửa, tôi bỗng nhìn thấy một góc giấy mỏng từ chiếc phong bì xi măng rơi nhẹ xuống thềm gạch ngay trước mũi giày mình. Trên mẩu giấy rách góc ấy là nét chữ run rẩy của một người phụ nữ đã khuất kèm một con dấu đỏ của bệnh viện tâm thần từ bảy năm trước, ghi rõ tên của người bảo trợ viện phí: Giảng viên Nguyễn Tiến Dũng.
Tôi vừa run rẩy cúi xuống nhặt mẩu giấy bệnh án ố vàng dưới chân thì một bàn tay thô bạo đã xô mạnh vào bả vai tôi. Đám sinh viên phía sau ùa lên như bầy linh cẩu ngửi thấy mùi máu. Tiếng huýt sáo, tiếng chửi bới man rợ trút xuống đầu Thảo: “Đồ rác rưởi cút khỏi trường đi!”, “Mặt dày thế còn chưa chịu quỳ xuống xin lỗi thầy à?”
Thầy Dũng từ tốn bước ra cửa, vẻ mặt buồn rầu, đưa tay ra dấu trấn an đám đông: “Các em bình tĩnh, chuyện đã có nhà trường giải quyết…”
Nhưng Thảo không bước tiếp xuống cầu thang. Con bé đứng sững lại ngay ngưỡng cửa, quay phắt người. Khuôn mặt Thảo trắng bệch, nhưng đôi mắt thì rực lên thứ ánh sáng lạnh ngắt và sắc như dao cạo. Trước khi bất kỳ ai kịp phản ứng, Thảo gạt phăng cánh tay của thầy thanh tra đang chắn lối, xộc thẳng ngược trở lại bục thuyết trình giữa phòng hội đồng.
“Em làm cái trò gì đấy? Ra ngoài ngay!” Thầy Trưởng khoa đập bàn đứng phắt dậy, mặt đỏ tía tai.
Thảo không trả lời. Con bé không hề khóc lóc, không một lời thanh minh hay van nài. Động tác của con bé dứt khoát đến mức tàn nhẫn. Từ trong túi áo sơ mi bạc màu, Thảo rút ra một chiếc USB kim loại nhỏ màu bạc, cắm phập vào cổng kết nối của chiếc laptop đang nối thẳng lên máy chiếu dùng chung của hội đồng khoa.
Màn hình máy chiếu lớn phía sau lưng năm vị giáo sư lập tức nhấp nháy, rồi sáng bừng lên.
“Tắt ngay đi! Bảo vệ đâu, giữ nó lại!” Thầy Dũng hét lên, giọng lạc đi trong cơn hoảng loạn trần trụi. Chiếc kính gọng vàng xộc xệch trên sống mũi, thầy lao bổ về phía bàn điều khiển nhưng đã quá muộn.
Một tiếng “tách” khô khốc vang lên từ hệ thống loa âm trần của phòng họp. Tiếp theo đó là tiếng rè rè của băng ghi âm kỹ thuật số, rồi một giọng nam trầm ấm, quen thuộc đến mức khiến toàn bộ đám đông đang la ó ngoài hành lang chết lặng ngay tức khắc.
“…Em nghĩ chỉ cần học giỏi là xong cái khóa luận này à? Thầy chấm hay thầy đánh trượt là do thầy. Tối thứ bảy này qua phòng 402 khách sạn Sao Mai, mang theo bản thảo. Biết điều thì tốt nghiệp loại xuất sắc, còn cứng đầu… thì đừng trách thầy làm em không ngẩng mặt lên được ở đất này…”
Cả hành lang tầng ba rơi tột xuống một hố sâu im phăng phắc. Tiếng thở dốc của chính tôi nghẹn ứ nơi cổ họng. Giọng nói ấy quá đỗi thân quen, từng lời nhấn nhá, từng âm sắc nhả chữ không thể lẫn vào đâu được. Đó là giọng của thầy Nguyễn Tiến Dũng, người mà năm phút trước vẫn đóng vai một người thầy đau đớn vì bị vu khống.
Chưa dừng lại ở đó, đoạn băng tiếp tục phát ra tiếng cọ xát của vải vóc, tiếng van xin nghẹn ngào trong sợ hãi của một cô gái trẻ, và tiếng cười khẩy nhớp nhúa, sặc mùi đe dọa quyền lực: “…Con bé Phương khóa trước cũng từng bướng như em, cuối cùng phải bỏ học vào trại tâm thần đấy. Khôn ngoan thì ngoan ngoãn mà nghe lời…”
Tôi bàng hoàng siết chặt mảnh giấy bệnh án vừa nhặt được trong lòng bàn tay. Cái tên “Phương” và con dấu của bệnh viện tâm thần cách đây bảy năm trên tay tôi bỗng nóng rực như một hòn than đỏ.
Trên màn hình máy chiếu, Thảo không chỉ bật đoạn ghi âm. Con bé mở toang một tệp tài liệu được quét rõ nét từng trang. Đó là một bản tường trình chi tiết, bên dưới là chữ ký tươi, số căn cước công dân và bản sao bằng tốt nghiệp của sáu cựu nữ sinh từ các khóa trước. Sáu con người, sáu cái tên khác nhau, nhưng cùng tố cáo một thủ đoạn duy nhất: bị thầy Dũng ép buộc quan hệ tình dục để đổi lấy điểm khóa luận, bị đe dọa hủy hoại tương lai nếu dám hé răng nửa lời.
“Sáu người họ không ai dám đứng ở đây hôm nay vì danh dự gia đình, vì nỗi sợ bị các người dồn vào chân tường như chị Phương,” Thảo cất giọng, từng chữ gằn xuống như búa nện giữa sự tĩnh lặng chết chóc. “Nhưng họ đã ký tên và ủy quyền cho tôi. Còn đây là toàn bộ file ghi âm nguyên gốc trong ba tháng tôi bị ông ta nhắn tin và gọi điện tống tiền, tống tình.”
Tiếng nói của Thảo dội qua micro, khuếch đại khắp giảng đường. Không còn một tiếng chửi bới nào ngoài hành lang. Đám sinh viên nãy giờ hăng máu lăng mạ Thảo đứng chết trân, những cánh tay cầm điện thoại quay phát trực tiếp run rẩy hạ dần xuống. Thằng Huy há hốc mồm, mặt tái mét như vừa bị tát lật mặt. Con Linh chết sững, lùi lại một bước nép sau lưng người khác.
Trong phòng họp, thầy Trưởng khoa ngồi thụp xuống ghế, hai mắt trợn trừng nhìn lên màn hình máy chiếu, ngón tay run rẩy không sao gập nổi tập hồ sơ kỷ luật màu xanh vừa ký dở.
Và ở góc phòng, thầy Dũng đứng chết lặng. Bàn tay thầy ta bám chặt vào mép bàn gỗ lim để khỏi ngã khuỵu, mồ hôi vã ra như tắm làm nhòe nhoẹt hai tròng kính. Gương mặt đạo mạo thường ngày hoàn toàn sụp đổ, méo mó đi trong nỗi kinh hoàng tột độ khi nhìn thấy từng dòng chữ tố giác đang phơi bày trần trụi trước mắt cả trăm con người.
Sự im lặng bao trùm hành lang tầng ba hôm ấy không phải là sự hối lỗi, mà là nỗi bẽ bàng tột độ của một bầy thú vừa nhận ra mình cắn nhầm người. Không một ai trong chúng tôi dám mở miệng. Những chiếc điện thoại đang phát trực tiếp vội vã tắt ngúm trong hoảng loạn. Thằng Huy lấm lét lùi dần vào góc tường, mặt cắt không còn giọt máu. Con Linh cúi gằm mặt, bàn tay run rẩy nhét chiếc máy ảnh vào ba lô rồi chuồn thẳng xuống cầu thang như một kẻ cắp.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, mẩu giấy bệnh án nhàu nát trong tay như thiêu đốt da thịt. Bên trong phòng hội đồng, chiếc máy chiếu vẫn rọi ánh sáng xanh lét lên bức tường, nhưng không còn ai dám nhìn thẳng vào những dòng chữ tố cáo ấy nữa. Thầy Dũng không thốt thêm được một lời biện minh nào. Thầy ta lảo đảo gom xấp giấy tờ vung vãi trên bàn, né tránh tất cả ánh nhìn rồi lủi nhanh ra cửa sau khu văn phòng khoa.
Nhưng cái kết huy hoàng của công lý mà người ta thường thấy trên phim ảnh đã không bao giờ xảy ra.
Trường đại học không mở một phiên điều trần công khai nào khác. Vụ bê bối bị bóp nghẹt dưới cái mác “giữ gìn uy tín đào tạo”. Chỉ ba ngày sau buổi kỷ luật chấn động, một thông báo ngắn ngủi được dán ở bảng tin khoa: Thầy Nguyễn Tiến Dũng xin thôi việc vì lý do cá nhân và sức khỏe. Nhà trường chấp thuận nguyện vọng trong sự im ắng đến ngột ngạt.
Mãi sau này chúng tôi mới biết, ngay trong đêm xảy ra vụ việc, thầy Dũng đã nhanh chóng gom góp tài sản và kích hoạt hồ sơ bảo lãnh định cư sang Úc cùng gia đình vốn đã chuẩn bị từ trước. Đến khi lá đơn tố cáo chính thức của Thảo cùng sáu cựu sinh viên được cơ quan điều tra tiếp nhận, kẻ thủ ác đã ung dung ngồi trên chuyến bay rời khỏi không phận Việt Nam. Không có lệnh khởi tố nào kịp ban hành, không có phiên tòa nào để bắt ông ta phải cúi đầu trả giá. Một vết trượt dài biến mất sạch sẽ sau cánh cổng xuất cảnh, bỏ lại sau lưng những cuộc đời đã bị hủy hoại vĩnh viễn.
Còn Thảo, con bé cũng không ở lại để tận hưởng cái gọi là “sự trong sạch” muộn màng.
Một tuần sau, quyết định đình chỉ học được nhà trường lặng lẽ thu hồi. Người ta mời Thảo lên để trao lại quyền bảo vệ khóa luận tốt nghiệp, thậm chí còn hứa hẹn một suất học bổng danh dự nhằm xoa dịu dư luận đang âm ỉ cháy dưới gầm bàn. Nhưng Thảo không cần.
Tôi tình cờ nhìn thấy Thảo vào một buổi chiều mưa cuối tháng sáu. Con bé mặc chiếc áo khoác gió cũ, lặng lẽ bước ra từ phòng Quản lý đào tạo với tập hồ sơ rút học bạ kẹp chặt dưới nách. Không có ai đi cùng, không một người bạn nào dám tiến lại gần chào hỏi. Cả cái khoa này từng gián tiếp dồn con bé vào chân tường, từng chửi rủa, từng nhổ nước bọt dưới chân nó, giờ đây chỉ biết đứng nhìn từ xa bằng những ánh mắt lấm lét, hổ thẹn.
Thảo đi lướt qua tôi dưới mái hiên giảng đường, đúng cái dáng đi thẳng thớm và lạnh ngắt của buổi sáng hôm ấy. Con bé không hề nhìn quanh, cũng không ném về phía đám đông chúng tôi một ánh mắt hận thù nào. Sự khinh miệt lớn nhất đôi khi không phải là lời nguyền rủa, mà là coi những kẻ xung quanh như không hề tồn tại. Con bé bung chiếc ô đen, bước thẳng ra cổng trường rồi hòa vào dòng xe cộ mịt mù của thành phố, mang theo sự nghiệp dang dở và những vết thương tinh thần có lẽ cả đời này không bao giờ lành lại.
Nhiều năm trôi qua, lứa sinh viên chúng tôi ra trường, ai nấy đều có công việc ổn định, khoác lên mình bộ vest chỉn chu hay những chức danh đàng hoàng trong xã hội. Nhưng vết nhơ năm ấy chưa bao giờ phai nhạt. Thằng Huy, con Linh hay chính bản thân tôi, trong những buổi họp lớp thưa thớt sau này, chưa một lần dám nhắc lại cái tên Thảo hay người thầy chủ nhiệm năm nào.
Mỗi khi nhìn tấm bằng cử nhân treo trên tường, tôi lại rùng mình nhớ đến mẩu giấy bệnh án ố vàng rơi trên sàn gạch và tiếng ghi âm gạ tình nhơ nhớp vang lên giữa phòng hội đồng. Chúng tôi đã từng nghĩ mình đứng về lẽ phải, hăng hái nhân danh đạo đức để xé xác một nạn nhân chỉ vì lòng hèn nhát muốn bấu víu vào một thần tượng mục ruỗng. Tấm bằng đại học chúng tôi cầm trên tay sạch sẽ, thơm mùi mực in, nhưng lương tâm của cả một thế hệ sinh viên đứng ở hành lang hôm ấy đã vĩnh viễn bị vấy bẩn bởi sự a dua độc ác. Có những tội lỗi không bị pháp luật trừng phạt, nhưng sự nhục nhã và cắn rứt sẽ là bản án chung thân đi theo suốt phần đời còn lại.
Story code: VI_000253

