Bốn giờ sáng, bà Sáu Phượng đứng ngoài hiên, tay vịn cột, mắt nhìn thẳng sang nhà ông Tám Khải. Tiếng xe máy rồ ga rồi lao vào bóng tối, hai ba chiếc nối đuôi nhau mất hút đầu hẻm. Mấy thằng xăm trổ – chính mấy thằng mà con trai bà gọi về – vừa bỏ đi. Không tiếng chửi. Không tiếng la. Không ai đánh ai.
Nhà ông Tám đèn vẫn sáng trưng. Cửa mở toang. Mấy cái ghế nhựa bày giữa sân ngay ngắn. Trên bàn còn bình trà, mấy cái ly, tàn thuốc đầy gạt. Như thể ông Tám vừa tiếp khách xong, khách uống trà rồi tự về.
Tôi đứng trong nhà mình, hé cửa sổ nhìn ra. Tôi thấy bóng bà Sáu ngoài hiên. Bà đứng im một lúc lâu, lâu đến mức tôi tưởng bà ngủ đứng. Rồi bà quay vào, khóa cửa. Tiếng khóa lách cách gọn lỏn. Sau đó là ánh sáng điện thoại lóe lên trong phòng khách bà.
Bà xóa số con trai.
Tôi biết chuyện đó vì sáng hôm sau bà nói thẳng với tôi qua hàng rào: “Tao xóa số thằng Hiếu rồi. Nó gọi lại tao cũng không bắt.”
Bà nói bằng giọng bình thường, như nói chuyện giá rau ngoài chợ. Nhưng mắt bà đỏ ngầu, hai bọng mắt sưng húp.
Để hiểu vì sao bà Sáu lại làm chuyện đó, phải quay ngược lại ba tháng trước.
—
Chuyện bắt đầu từ cái hàng rào tôn giữa nhà bà Sáu và nhà ông Tám. Hàng rào đó đứng yên mười mấy năm, ai cũng biết ranh ở đâu. Rồi một bữa, ông Tám kêu thợ tới xây bờ tường mới. Bờ tường lấn sang phần đất bà Sáu gần nửa mét.
Nửa mét nghe ít, nhưng nhà trong hẻm, nửa mét là mất cả lối đi bên hông. Bà Sáu ra nói, ông Tám ngồi trên ghế nhựa, rót trà, cười:
“Chị Sáu à, đất tui đo rồi, đúng sổ của tui. Chị có sổ thì đem ra đối chiếu, tui không ngại.”
Bà Sáu đem sổ ra. Ông Tám cũng đem sổ ra. Hai cái sổ, hai con số khác nhau. Ông Tám bình thản:
“Vậy thì chờ phường xuống đo. Nhưng thợ tui đã kêu rồi, dỡ ra phí tiền. Chị thông cảm.”
Thợ vẫn xây. Bà Sáu chạy lên phường. Phường nói xuống đo nhưng phải chờ lịch, mà lịch thì hai ba tuần nữa. Trong khi đó, bờ tường lên mỗi ngày mấy hàng gạch.
Bà Sáu năm đó sáu mươi hai tuổi, sống một mình. Con
trai duy nhất tên Hiếu, làm ăn trên Bình Dương, lâu lâu về thăm. Bà không biết cãi kiểu gì với ông Tám. Ông Tám nói câu nào cũng nhỏ nhẹ, cũng rót trà, cũng kéo ghế mời ngồi. Nhưng thợ vẫn xây. Gạch vẫn lên.
Tôi qua phụ bà Sáu nói chuyện với ông Tám một lần. Ông ngồi đó, quạt phành phạch, nói:
“Anh ơi, tui không lấn ai hết. Đất tui tui xây. Chị Sáu có ý kiến thì cứ đi pháp luật, tui tôn trọng.”
Nói xong ông rót trà mời tôi. Tôi cầm ly mà tay nóng ran. Cái kiểu bình thản đó nó ức hơn bị người ta chửi thẳng mặt.
Bà Sáu gọi điện cho thằng Hiếu. Thằng Hiếu nghe xong nổi đóa. Nó không nổi đóa với ông Tám – nó nổi đóa với bà Sáu: “Sao má không nói sớm. Để nó xây gần xong rồi giờ mới kêu.”
Bà Sáu nuốt nước mắt. Bà có nói sớm. Bà nói từ ngày đầu tiên thợ tới. Nhưng thằng Hiếu bận, không bắt máy.
Sau đó mọi chuyện bắt đầu trượt dốc. Thằng Hiếu về nhà một bữa, sang gặp ông Tám, hai bên to tiếng. Ông Tám vẫn ngồi ghế nhựa, vẫn rót trà, nói: “Cháu muốn gì thì cứ nói. Chú ngồi đây.”
Thằng Hiếu đỏ mặt bỏ về. Tối đó tôi nghe nó nói chuyện điện thoại ngoài hẻm, giọng rất nhỏ nhưng tôi đi ngang nghe được một đoạn. Nó nhắc tên mấy người, nói gì đó về “qua dọn dẹp một bữa”. Tôi lờ đi, nghĩ chắc nó nói chuyện công việc.
Hai tuần sau, phường vẫn chưa xuống đo. Bờ tường đã xây xong, cao quá đầu người. Lối đi bên hông nhà bà Sáu giờ chỉ còn vừa một người nghiêng vai mà lách. Bà Sáu gầy đi thấy rõ, mỗi tối ngồi ngoài hiên nhìn bức tường, không nói gì.
Rồi cái đêm đó tới.
Khoảng mười giờ tối, ba chiếc xe máy chở bốn thằng thanh niên xăm trổ tấp vô hẻm. Chúng nó dừng trước nhà ông Tám. Tôi nghe tiếng nói lớn, nhưng không phải tiếng chửi – giọng thằng Hiếu, đang nói gì đó qua loa ngoài điện thoại của một trong mấy thằng đó.
Tôi đóng cửa, tắt đèn, hé rèm nhìn ra.
Ông Tám bước ra sân. Ông không vội. Ông bật đèn, bày ghế, rót trà. Ông ngồi xuống.
Mấy thằng xăm trổ đứng đó. Ông Tám nói gì đó tôi không nghe rõ, nhỏ nhẹ, chậm rãi. Rồi ông kéo ghế, ra dấu mời ngồi.
Không ai ngồi. Nhưng cũng không ai động tay.
Mười lăm phút. Hai mươi phút. Tôi thấy một thằng bỏ tay xuống, rồi thằng khác quay đi. Rồi cả đám lên xe. Không nói lời nào. Không đánh. Không đập. Xe rồ ga bỏ đi.
Ông Tám ngồi uống nốt ly trà. Một mình.
Còn bà Sáu – bà đứng ngoài hiên nhà mình, nhìn hết từ đầu tới cuối.
Sáng hôm sau bà kể tôi: thằng Hiếu gọi lại cho bà trước khi mấy thằng đó tới. Nó nói trên điện thoại: “Má để đó, con biết mấy thằng ở Bình Chánh, tụi nó qua một bữa là -“
Rồi cuộc gọi rớt.
Cuộc gọi rớt, nhưng mấy thằng xăm trổ vẫn tới. Và bỏ đi.
Bà Sáu kể tôi chuyện xóa số lúc sáng sớm, giọng khan đặc, kiểu người thức trắng đêm mà không khóc nổi. Bà nói: “Tao không giận ông Tám. Tao giận thằng Hiếu. Nó kêu mấy thằng đó tới mà không nói cho tao biết. Nếu có chuyện gì, công an tới, ai đi tù? Tao ở đây, tao lãnh. Nó trên Bình Dương, nó biết gì.”
Tôi im. Vì bà nói đúng.
Nhưng chuyện không dừng ở đó.
—
Ba ngày sau, cả xóm biết chuyện đêm đó. Không ai nói thẳng, nhưng ai cũng biết. Hẻm nhỏ, cái gì cũng lọt tai. Chị Hạnh bán tạp hóa đầu hẻm kể cho bà Tư xế bếp, bà Tư kể cho ông Bảy sửa xe, ông Bảy kể cho vợ, vợ ông Bảy kể cho cả chợ.
Nhưng câu chuyện đến tai mỗi người lại khác đi một chút.
Bản tôi nghe được từ chị Hạnh: “Bả kêu giang hồ tới đòi đánh ổng, mà ổng ngồi im uống trà, tụi nó tự bỏ đi. Ổng bản lĩnh dữ.”
Không ai nhắc chuyện ông Tám lấn đất. Không ai nhắc bờ tường nửa mét. Người ta chỉ nhớ hình ảnh: ông già ngồi ghế nhựa, bình trà, đèn sáng trưng, một mình – và bốn thằng xăm trổ bỏ đi.
Ông Tám thành người bản lĩnh. Bà Sáu thành người kêu giang hồ.
Tôi biết sự thật phức tạp hơn vậy. Thằng Hiếu tự gọi, bà Sáu không hay. Nhưng tôi giải thích với ai? Chị Hạnh nghe tôi nói xong gật đầu: “Ừ thì thằng con bả kêu. Nhưng bả biết chớ. Mẹ con một nhà, không biết sao được.”
Cái lý đó nó đơn giản, nó gọn, nó dễ tin hơn sự thật.
Rồi chuyện tệ hơn. Phường xuống đo đất.
Đúng ra thì phường xuống đúng lịch, chỉ là trễ mấy tuần. Hai cán bộ địa chính mang máy đo, kéo dây, đóng cọc. Ông Tám đứng ngoài sân, vẫn ghế nhựa, vẫn trà. Bà Sáu đứng bên kia bờ tường, tay bấu vào mép gạch.
Tôi đứng ở cửa nhà mình nhìn.
Họ đo xong, ghi sổ, nói sẽ có kết quả sau. Không nói lấn hay không lấn, không nói ai đúng ai sai. Đúng quy trình. Nhưng trước khi đi, một trong hai ông cán bộ quay sang nói với bà Sáu, giọng nửa khuyên nửa trách: “Bác Sáu, chuyện đất đai thì cứ để phường giải quyết. Đừng để xảy ra chuyện như bữa trước, phức tạp lắm.”
Bà Sáu đứng chết trân. Bà không hỏi “chuyện gì”. Bà hiểu. Ai đó đã báo phường chuyện mấy thằng xăm trổ. Có thể ông Tám. Có thể hàng xóm. Tôi không biết.
Nhưng từ câu đó, mọi thứ lật lại. Bà Sáu từ người bị lấn đất, thành người gây rối. Cái đơn khiếu nại của bà vẫn nằm đó, nhưng bây giờ nó nằm cạnh một cái “tiền sự” không chính thức: bà là người kêu giang hồ tới hẻm.
Ông Tám vẫn bình thản. Ông không nói gì thêm. Ông không cần nói. Bức tường đứng đó, mỗi ngày bà Sáu nhìn thấy, và mỗi ngày nó nhắc bà rằng bà đã thua trước khi đánh.
—
Tuần sau đó, thằng Hiếu gọi về. Bà Sáu không bắt máy.
Nó gọi tôi. Tôi bắt máy vì tôi không biết từ chối kiểu gì.
“Anh ơi, má em sao rồi? Em gọi hoài má không nghe.”
Tôi nói: “Má mày khỏe. Nhưng chuyện mày kêu mấy thằng đó tới, cả xóm biết rồi. Phường cũng biết.”
Nó im một lúc. Rồi nó nói: “Em làm vậy vì thương má.”
Tôi muốn nói: mày thương kiểu đó thì má mày chết. Nhưng tôi không nói. Tôi chỉ nói: “Mày đừng gọi ai tới nữa. Để phường đo xong rồi tính.”
Nó hứ một tiếng rồi cúp máy. Cái tiếng hứ đó làm tôi lạnh sống lưng. Nó không giận tôi. Nó giận cái sự bất lực. Và kiểu giận đó, tôi biết, nó không dừng được.
Bà Sáu gầy thêm. Bà không ra hiên nữa. Buổi tối bà đóng cửa sớm, đèn tắt từ tám giờ. Mấy bà trong xóm trước hay qua nhà bà ngồi chơi, bây giờ thưa dần. Không ai nói thẳng là tránh bà, nhưng ghế trước hiên bà bụi phủ, không ai ngồi.
Một bữa tôi mang rau qua cho bà, bà mở cửa, mắt trũng sâu. Bà nói nhỏ: “Ông Tám ổng đi ngang nhà tao, ổng gật đầu chào. Tao chào lại. Tao không biết tao giận ai nữa.”
Tôi nhìn bức tường bên hông nhà bà. Nửa mét. Nửa mét mà lấy mất lối đi, lấy mất con trai, lấy mất cả mấy bà bạn ngồi hiên.
Kết quả đo đất phường vẫn chưa có. Họ nói đang đối chiếu hồ sơ gốc. Mà hồ sơ gốc thì nằm ở quận. Mà quận thì đang bận đợt kiểm tra cuối năm.
Bà Sáu chờ.
Ông Tám vẫn ngồi ghế nhựa mỗi chiều, quạt phành phạch, uống trà. Bức tường đứng im.
Rồi một bữa tối, tôi nghe tiếng xe máy đầu hẻm. Không phải một chiếc. Nhiều chiếc. Tôi hé rèm nhìn ra.
Lần này không phải mấy thằng xăm trổ.
Lần này là thằng Hiếu. Nó về. Nó mang theo giấy tờ gì đó trong cái bao thư nâu, kẹp dưới nách. Và đi cùng nó là hai người mặc sơ mi, tóc vuốt keo, xách cặp da.
Chúng nó không sang nhà ông Tám.
Chúng nó đi thẳng vào nhà bà Sáu. Bà Sáu mở cửa, thấy thằng Hiếu, mặt bà xám lại. Bà không nói gì. Bà cũng không đóng cửa.
Tôi không nghe được chúng nó nói gì bên trong. Nhưng đến gần mười một giờ đêm, bà Sáu bước ra hiên một mình, tay cầm cái bao thư nâu, đứng nhìn bức tường nhà ông Tám rất lâu.
Rồi bà quay vào, đóng cửa.
Tôi không biết trong bao thư đó là gì. Nhưng sáng hôm sau, tôi thấy bà Sáu đi ra khỏi hẻm rất sớm, mặc đồ tề chỉnh, kẹp cái bao thư nâu dưới nách, mặt lạnh tanh. Bà đi về hướng phường.
Sáng hôm đó, tôi ra quán cà phê đầu hẻm ngồi. Góc trong cùng có mấy gã thanh niên đang nhậu bia sáng. Tôi nhận ra một gương mặt. Thằng đó hay lảng vảng ở khu này, và chính nó là đứa đi chung với đám xăm trổ đến nhà ông Tám đêm trước. Trông nó bơ phờ, say bí tỉ.
Nó đập ly cái cốp, lè nhè với thằng bạn: “Đụng giang hồ tao không ngán, nhưng đụng thằng không cần mạng thì tao né.”
Thằng bạn hỏi kháy: “Bữa ba xe ập vô nhà ông già đó mà tự xách đít về, nhục để đâu cho hết.”
“Mày ngon vô mà chém ổng,” thằng say gắt lên, giọng khàn đục. “Má nó, ổng mời trà, tao tưởng ổng sợ. Ai dè ổng tháo nút áo, chỉ vô ngực nói: tụi mày muốn đâm thì đâm, tao không chạy, nhưng tao cũng không trả đất. Đất này tao mua bằng mười hai năm tù.”
Tôi sững người.
Thằng say nốc thêm ngụm bia, kể tiếp: “Ổng nói hồi hăm mấy tuổi, nhà bị lấn đất y chang vầy. Ổng vác dao lụi chết tươi thằng lấn đất. Ổng đi tù mười hai năm. Lúc ổng ở trỏng, ba ổng ở nhà ức quá đứt gân máu chết. Đất cũng mất sạch. Ổng bảo tao đời ổng bỏ đi rồi, tụi mày muốn lấy đất thì bỏ mạng ra đổi. Mẹ, tao đâu có điên mà đổi mạng với một thằng từng đâm chết người.”
Hóa ra đó là lý do đám giang hồ tự rút. Cái sự “bản lĩnh” mà cả xóm đồn đãi, thực chất là sự bất cần của một kẻ đã từng qua đáy vực.
Vừa lúc đó, xe của phường trờ tới đậu đầu hẻm.
Bà Sáu bước xuống cùng hai ông cán bộ. Đằng sau là thằng Hiếu và hai gã mặc áo sơ mi, xách cặp da tối qua, phong thái giống hệt luật sư. Cả nhóm đi thẳng vào hẻm. Tôi vội tính tiền, lững thững đi theo, vờ đứng tựa lưng vào cổng rào nhà mình để xem.
Ông Tám vẫn ngồi đó. Vẫn ghế nhựa, bình trà sứt mẻ, quạt phành phạch. Thấy cán bộ phường và mẹ con bà Sáu, ông không đứng lên, chỉ hất cằm: “Có kết quả đo đạc rồi hả mấy anh?”
Một cán bộ trải tờ bản đồ địa chính có mộc đỏ lên bàn: “Dạ thưa chú, tụi cháu đã lên quận đối chiếu bản vẽ gốc. Ranh giới đúng ở vạch cũ. Bờ tường chú mới xây lấn sang phần đất nhà cô Sáu bốn mươi tám phân.”
Thằng Hiếu nghe tới đó thì gằn giọng: “Phường nói rõ rồi. Giờ ông tính sao? Đập hay để tôi kêu thợ tới đập?”
Ông Tám nhấp ngụm trà, đủng đỉnh đặt ly xuống. Ông nhìn thẳng mặt thằng Hiếu, cười nửa miệng: “Cháu kêu thợ đập thử coi? Đất này chú cắm mốc rồi. Phường nói lấn thì cứ lập biên bản, chú khiếu nại lên thành phố. Còn cháu… rớ vô thử một viên gạch đi.”
Không khí căng như dây đàn. Hai ông cán bộ bắt đầu bối rối. Hai người đi cùng thằng Hiếu rút giấy tờ ra định lên tiếng.
Nhưng bà Sáu cản lại.
Bà bước lên một bước, mặt lạnh tanh. Bà không rút ra sổ đỏ hay đơn kiện từ chiếc bao thư nâu. Bà rút ra một xấp giấy photo ố vàng, nhàu nhĩ. Tôi không rõ đó là gì, nhưng qua cái gật đầu của hai người mặc sơ mi, tôi đoán đó là thứ họ đã cất công tìm kiếm và mang tới đêm qua.
Bà Sáu quăng xấp giấy lên bàn cái “bạch”, đè thẳng lên tờ bản đồ địa chính.
“Tôi biết vì sao ông thà chết không nhả nửa mét đất này, ông Khải,” giọng bà Sáu đanh lại như đá.
Ông Tám liếc nhìn xấp giấy. Tôi đứng từ xa không đọc được chữ, nhưng thấy cánh tay đang cầm quạt của ông khựng lại giữa không trung.
Bà Sáu không chớp mắt, gí sát người tới: “Hồi đó nhà ông bị lấn, ông xách dao đi đòi công bằng. Ông đâm chết người ta. Ông đi tù mười hai năm. Cha ông ở nhà ức quá mà chết, đất bị cướp sạch. Tuổi trẻ của ông chôn trong tù vì mấy tấc đất.”
Ông Tám thở hắt ra. Cái vẻ ngông nghênh của kẻ không cần mạng vỡ vụn tức khắc. Mặt ông xám ngoét.
“Ông hận bọn cướp đất của ông,” Bà Sáu chỉ tay thẳng vào bức tường mới xây, gằn từng chữ. “Vậy nhìn đi! Ông đang làm cái trò gì đây? Ông đi ức hiếp mẹ con tôi, ép tôi mất lối đi. Ông đang trở thành chính cái thằng khốn nạn đã dồn ông vào đường cùng ngày xưa!”
Cả sân im phăng phắc. Thằng Hiếu đứng há hốc mồm. Hai ông cán bộ nhìn nhau trân trối.
Giọng bà Sáu nghẹn lại, nhưng sắc như cứa: “Ông muốn gì? Ông muốn ép thằng Hiếu đến đường cùng, để nó vác dao đâm ông… rồi nó đi tù mười hai năm, còn tôi ở nhà hộc máu chết giống cha ông ngày xưa sao? Ông muốn lặp lại cái nghiệp đó à, Tám Khải?!”
Ông Tám cứng họng.
Miệng ông há ra rồi ngậm vào, không phát ra được một âm thanh nào. Bàn tay đang đặt trên bàn của ông bắt đầu run bần bật, run đến mức chiếc ly trà bên cạnh va lách cách vào đĩa lót. Ánh mắt ông trân trân nhìn vào bức tường gạch trước mặt, như thể ông không còn thấy nhà bà Sáu nữa, mà đang thấy lại chính cái ranh đất đầy máu của nhà mình ba mươi năm về trước.
Sau buổi sáng hôm đó, không có bức tường nào bị đập bỏ cả.
Ông Tám không nói thêm lời nào. Bàn tay ông thôi run, nhưng bờ vai thì sụp xuống. Ông lẳng lặng thu dọn bình trà sứt mẻ, xách cái ghế nhựa đi thẳng vào nhà rồi đóng sầm cửa lại. Hai cán bộ phường bối rối cuộn tờ bản đồ địa chính, khẽ hắng giọng lấp liếm rằng sẽ gửi giấy mời hai bên lên phường giải quyết sau, rồi cũng nhanh chóng rời đi.
Thằng Hiếu vẫn đứng đó, gân cổ định xông tới đập cửa nhà ông Tám cự cãi tiếp. Nhưng bà Sáu quay ngoắt lại. Bà không đánh, cũng không chửi, chỉ nhìn nó bằng ánh mắt sắt lạnh của người vừa đi qua cõi chết. Rồi bà lẳng lặng cầm xấp hồ sơ photo xỉn vàng, đi thẳng vào nhà, chốt chặt cửa sắt. Mặc kệ thằng con trai và hai gã luật sư đứng chưng hửng giữa hẻm. Tôi đứng tựa cổng nhà mình, chứng kiến sự im lặng rợn người ấy bủa vây lấy tất cả.
Phải mấy ngày sau, tôi mới nhận ra toàn bộ hậu quả của cái sự thật bị phơi bày hôm đó.
Bức tường lấn nửa mét của ông Tám không chỉ bít lối đi bên hông nhà bà Sáu, mà nó còn lấp luôn một con mương thoát nước nhỏ hẹp chạy dọc theo ranh đất. Hồi trước, nước mưa, nước sinh hoạt của mấy nhà quanh đây đều nương theo con mương đó mà trôi ra cống lớn ngoài lộ. Giờ bị lớp xi măng dày cộp của bức tường chặn đứng, con mương chết nghẹt. Nước ứ đọng lại, dềnh lên. Hẻm vốn dĩ đã bức bối, nay lại thêm cảnh ngột ngạt vì thiếu chỗ thoát nước.
Cả xóm vẫn xì xầm, nhưng câu chuyện đã xoay chiều. Người ta không còn ca ngợi cái “bản lĩnh giang hồ” của ông Tám nữa. Quá khứ đâm chết người, đi tù mười hai năm của ông bị lôi ra bàn tán, mắm muối thêm đủ thứ tình tiết rùng rợn qua miệng bà Hạnh tạp hóa hay ông Bảy sửa xe. Nhưng lạ thay, dẫu xóm có ngập nước, dẫu lối đi bị bít, chẳng ai dám đứng đơn cùng bà Sáu để ép ông Tám tháo dỡ bức tường. Người ta sợ cái bóng của một kẻ từng giết người vì đất, dù kẻ đó giờ chỉ là một ông già lủi thủi không dám mở cửa ra sân.
Không ai thắng trong cuộc giằng co này.
Về phần bà Sáu, bà đoạn tuyệt hẳn với thằng Hiếu. Cuối tuần đó, tôi thấy nó chạy xe máy về, xách theo túi trái cây, đứng gõ cửa nhà mẹ. Bà Sáu không mở. Nó nài nỉ vọng vào: “Má, con làm vậy cũng vì thương má, muốn đòi lại đất cho má thôi. Thằng chả ức hiếp má, con nhịn sao nổi.”
Bà Sáu đứng bên trong cánh cửa sắt, giọng vọng ra đều đều nhưng nghe nhói óc: “Mày đòi đất, hay mày đòi mạng người ta? Đêm đó nếu ông Tám không cứng, nếu ổng húng lên cầm dao đâm chém với mấy thằng xăm trổ mày kêu tới, thì giờ tao đi nhặt xác mày, hay tao vác mặt đi thăm nuôi mày trong trại giam?”
Thằng Hiếu cứng họng.
“Tao nghèo, tao chịu mất nửa mét đất,” bà Sáu nói tiếp, giọng chùng xuống. “Nhưng tao không dung túng một đứa con sẵn sàng dồn người khác vào chỗ chết chỉ vì một cơn tức giận. Tao đã xóa số mày. Đừng về nữa.”
Thằng Hiếu đứng thẫn thờ một lúc rồi bực dọc ném túi trái cây xuống thềm, rồ ga chạy mất. Từ hôm đó, tôi không còn thấy nó xuất hiện ở con hẻm này nữa.
Vài tuần trôi qua, không khí trong hẻm lúc nào cũng nặng nề. Phường có xuống thêm một lần, nhưng ông Tám cáo ốm không ra mặt. Giấy tờ khiếu nại chồng chéo, thủ tục kéo dài, rồi chuyện tháo dỡ cũng bị bỏ ngỏ. Bức tường xi măng vẫn đứng sừng sững ở đó, vĩnh viễn nuốt trọn nửa mét đất và lấp kín con mương.
Bà Sáu già đi thấy rõ. Bà ít giao du với hàng xóm, chỉ thỉnh thoảng gật đầu chào tôi qua hàng rào. Bà tâm sự với tôi qua rào chắn rỉ sét rằng bà không hận ông Tám. Qua lời xóm giềng, bà biết cái giá ổng phải trả trong quá khứ là quá đắt. Bà thương hại ổng hơn là oán trách. Nhưng bà không thể tha thứ cho đứa con trai suýt nữa đã châm ngòi cho một thảm kịch đẫm máu lặp lại.
Giờ đây, mỗi buổi sáng, tôi lại thấy bà Sáu mở cửa bước ra hiên. Nhà ông Tám đối diện đóng cửa im ỉm, rêu bắt đầu mọc quanh chân ghế nhựa bị bỏ quên ngoài sân. Bà Sáu không nhìn sang đó. Bà chỉ đứng lặng lẽ, mắt nhìn chăm chăm xuống phần nền xi măng xám xịt chỗ bức tường mới xây, nơi ngày xưa từng là con mương róc rách.
Bà có một chậu rau húng nhỏ đặt trên đôn gạch vỡ. Vì mương thoát bị lấp, đường ống nước nhà bà cũng trục trặc, lúc có lúc không. Bà phải đặt một cái ca nhựa dưới mép mái tôn để hứng những giọt nước mưa đọng lại qua đêm. Sáng nay, tôi đứng sau rèm cửa nhìn sang, thấy bà cầm cái ca nhựa múc thứ nước mưa hiếm hoi ấy, cẩn thận tưới cho chậu rau.
Một giọt nước vô tình trượt khỏi mép ca, rơi tự do, rồi vỡ tan trên mặt nền xi măng khô khốc nơi con mương cũ từng chảy qua, bốc hơi đi không để lại một dấu vết nào.
Story code: VI_000130

