Sáng thứ Hai, chị Hai bán nước đầu hẻm ngước lên cửa sổ phòng ông Tám – và thấy một tấm ván ép đóng đinh từ bên ngoài bịt kín khung cửa.
Bảy tháng.
Bảy tháng nay, sáng nào cũng vậy. Đúng năm giờ bốn lăm, bàn tay run rẩy của ông Tám thò qua khe song sắt tầng hai. Chị Hai đưa ly cà phê đen lên. Ông nhận ly, rồi dúi lại cho chị một mẩu giấy xé từ tờ lịch treo tường. Ngày nào cũng một mẩu. Ngày nào ông cũng viết gì đó lên mặt sau. Chị Hai không hỏi. Chị chỉ cất.
Sáng nay – không có bàn tay nào.
Chị đặt ly cà phê xuống mặt bàn nhôm, nghe tiếng sành chạm kim loại vang lên giữa con hẻm còn ngái ngủ. Tay chị run. Chị nhìn lên lần nữa. Tấm ván ép mới tinh, còn nguyên mùi gỗ dăm ẩm, bốn cây đinh dài ghim bốn góc. Ai đó đã đóng nó lên trong đêm.
Chị Hai không phải họ hàng ông Tám. Không phải bà con lối xóm từ hồi nào. Chị thuê cái góc đầu hẻm bán cà phê cóc được ba năm, ông Tám dọn về căn phòng tầng hai được hai năm. Quan hệ giữa hai người chỉ có vậy – một ly cà phê đen, một mẩu giấy lịch, và cái gật đầu không lời qua khung song sắt mỗi sáng.
Nhưng chị Hai biết một thứ mà cả xóm không ai thèm để ý.
Ông Tám không tự nguyện ở trong căn phòng đó.
Lần đầu tiên chị nhận ra là bốn tháng trước. Hôm đó con gái ông Tám – chị Tư – chạy xe tay ga lên, mở cốp lấy ra túi đồ ăn. Không lên phòng. Đứng dưới sân, gọi vọng lên: “Ba ơi, con để đồ ăn ngoài cửa nha. Ba đừng có đi đâu nghe chưa.” Giọng không phải giọng con gái lo cho cha già. Giọng đó lạnh, gọn, như người ta dặn con chó giữ nhà.
Ông Tám không trả lời.
Chị Tư quay xe đi. Túi đồ ăn nằm trước cửa phòng đến chiều mới có người mở ra lấy vào. Chị Hai ngồi dưới đầu hẻm, nhìn hết.
Rồi những chuyện sau đó dồn lại, mỗi ngày thêm một chút.
Thằng Sáu – con trai út ông Tám – hai tuần ghé một lần. Mỗi lần ghé, nó đứng ngoài cửa phòng ông già, nói vọng vào, giọng gằn: “Ba ký chưa. Ba ký đi cho rồi. Mấy người ta giục dữ lắm rồi.” Chị Hai nghe được vì hẻm hẹp, âm thanh dội xuống như
cái giếng. Ông Tám nói gì đó rất khẽ, nghe không rõ. Thằng Sáu đá chân vào cửa một phát rầm, rồi bỏ đi.
Ký cái gì – chị Hai không biết.
Nhưng chị biết cái cách thằng Sáu đá cửa. Cái cách chị Tư để túi đồ ăn như quăng cho. Cái cách không ai trong nhà đó gọi ông Tám bằng một tiếng “ba” cho ra tiếng “ba”.
Và chị biết ông Tám sợ.
Bàn tay ông mỗi sáng thò qua song sắt, run không phải vì tuổi già. Run vì ông cố gấp mẩu giấy thật nhỏ, dúi nhanh vào tay chị trước khi ai đó trong nhà thức dậy. Có buổi ông rụt tay lại giữa chừng, nín thở. Có buổi chị nghe tiếng bước chân trên cầu thang, ông lập tức biến mất khỏi khung cửa, và ly cà phê chị phải mang về.
Chị Hai cất tất cả mẩu giấy đó vào một cái hộp bánh cũ dưới đáy xe đẩy. Cái hộp thiếc tròn, nhãn bánh quy đã phai hết chữ, giấu giữa đám ly nhựa và bịch đường. Không ai thèm nhìn cái hộp đó lần thứ hai.
Sáng nay, sau khi đứng nhìn tấm ván ép trên cửa sổ đủ lâu để hai khách quen đến rồi đi mà chị không hay, chị Hai ngồi xuống.
Chị kéo cái hộp bánh ra.
Mở nắp.
Bên trong, mẩu giấy lịch chồng lên nhau, xếp theo ngày. Có mẩu nhàu nát, có mẩu ố vàng, có mẩu vẫn còn nguyên nếp gấp đôi. Chị lật đến mẩu cuối cùng – mẩu ông Tám dúi cho chị chiều hôm qua, không phải sáng, chiều, lần đầu tiên ông dúi giấy vào buổi chiều, lúc chị dọn hàng.
Chị mở ra.
Đọc.
Mắt chị mở lớn. Hai bàn tay giữ mẩu giấy siết lại đến trắng đốt ngón. Chị đọc lại lần nữa. Rồi lần nữa.
Chị đậy nắp hộp. Nhét hộp vào túi áo khoác. Đứng dậy. Gấp chiếc ghế nhựa, tắt bếp ga mini, không rửa ly, không thu tiền bàn. Chị bước ra khỏi đầu hẻm, quẹo trái – hướng ngược với đường chị vẫn đi về nhà mỗi ngày.
Chị Hai quẹo trái, đi được chừng năm mươi mét thì thấy xe chị Tư đậu ngang trước tiệm tạp hoá bà Chín.
Chị Tư không ở trong tiệm. Chị đứng giữa lòng đường, tay chống hông, mặt quay về phía đầu hẻm – đúng hướng chị Hai vừa bước ra. Như đang đợi.
Hai người nhìn nhau.
Chị Tư cười trước. Nụ cười không đến mắt. “Chị Hai, sáng nay nghỉ sớm vậy? Bình thường chị bán tới tám giờ mà.”
Chị Hai không trả lời ngay. Tay chị ép chặt vào túi áo khoác, nơi cái hộp thiếc nằm nặng trĩu. Chị cảm nhận được mép hộp ấn vào xương sườn.
“Ừ, nghỉ sớm.”
“Đi đâu vậy chị? Hướng này đâu phải đường chị về.”
Chị Hai biết chị Tư nhìn chị bán nước bảy tháng nay, đủ lâu để thuộc giờ giấc. Đủ lâu để biết chị luôn quẹo phải.
“Ghé mua đồ.”
“Mua đồ gì tiệm bà Chín không có?”
Chị Hai nhìn thẳng vào mặt chị Tư. Người đàn bà bốn mươi tuổi, da mặt căng bóng, tóc ép thẳng, móng tay sơn đỏ – mỗi lần chị ghé hẻm để đồ ăn cho cha, chị đều mang theo mùi nước hoa đắt tiền, loại mùi lạc lõng giữa con hẻm còn thơm mùi rác ướt. Chị Hai nhìn đủ lâu để nhận ra chị Tư không hỏi chị mua gì. Chị Tư đang chặn đường.
“Chị Tư.”
“Dạ.”
“Cửa sổ phòng ba chị, ai đóng ván lên vậy?”
Nụ cười tắt. Chị Tư buông tay khỏi hông, khoanh trước ngực. “Chị Hai, ba tui già rồi, lẫn rồi, chị biết mà. Ổng hay thò tay ra ngoài cửa sổ, lỡ té thì ai chịu. Mình che lại cho an toàn.”
“An toàn.”
“Ừ, an toàn. Chị bán nước chị lo bán nước đi, chuyện nhà người ta chị đừng có xía vô.”
Câu cuối chị Tư nói gọn, không lên giọng, nhưng cắt như dao rọc giấy. Rồi chị cười lại, cái cười vỏ bọc: “Mà chị Hai ơi, em nói thiệt nghe. Ba tui ổng không còn minh mẫn. Ổng viết lung tung, nói lung tung. Bác sĩ nói rồi. Chị mà nghe ổng nói gì thì đừng có tin. Người già lẫn, chị biết mà, phải hông?”
Chị Hai đứng yên. Hộp thiếc trong túi áo như nóng lên.
Chị Tư bước tới một bước. “Em nghe nói ổng hay đưa giấy gì đó cho chị, phải hông? Ổng viết bậy bạ đó, chị đừng cất, tội nghiệp ổng. Chị có thì đưa em đi, em đem cho bác sĩ coi, biết ổng bệnh tới đâu rồi.”
Tay chị Hai siết túi áo chặt hơn.
“Không có giấy gì hết.”
“Thiệt hả chị?”
“Thiệt.”
Chị Tư nhìn chị Hai thêm ba giây. Rồi gật đầu, quay người, bước về phía xe tay ga. Trước khi lên xe, chị ngoái lại: “À, chị Hai. Em tính nói chị luôn. Hợp đồng thuê chỗ đầu hẻm của chị, tháng sau hết hạn. Nhà em – ý em là nhà ba tui – chắc không cho thuê nữa đâu. Em báo trước cho chị biết để chị kiếm chỗ khác.”
Xe nổ máy. Chị Tư đi.
Chị Hai đứng lại giữa đường, nghe tiếng xe xa dần. Chị nhìn xuống tay mình đang ôm túi áo khoác, thấy mình run y như bàn tay ông Tám mỗi sáng thò qua song cửa.
Chị không đi tiếp nữa.
Chị quay lại hẻm. Dọn lại bàn ghế. Bật bếp ga, nấu nước. Bày ly ra. Giả vờ như mọi ngày.
Nhưng chị để hộp thiếc trong túi áo, không bỏ lại xe đẩy.
Mười giờ sáng, bà Chín tiệm tạp hoá qua mua cà phê. Bà ngồi xuống, khuấy đường, nhìn lên tấm ván ép trên cửa sổ tầng hai.
“Tội nghiệp ông Tám. Nghe nói ổng lẫn dữ lắm, đêm la hét om sòm, con cái phải khoá phòng lại.”
“Ai nói?”
“Thằng Sáu nó nói. Hôm qua nó ghé tiệm tui mua mấy cây đinh, nói ba tao bệnh nặng rồi, tao phải che cửa sổ lại kẻo ổng leo ra té chết. Nó nói bác sĩ biểu phải giữ ổng trong phòng.”
Bà Chín uống cà phê, lắc đầu thương cảm. “Già mà không có phước. Con cái nó lo mà ổng lẫn quá, hổng biết ai lo cho ai.”
Chị Hai im.
Chị muốn nói. Muốn nói rằng ông Tám không lẫn. Rằng bảy tháng nay ông viết cho chị mỗi ngày một mẩu, nét chữ có ngày run có ngày vững nhưng không bao giờ là chữ của người mất trí. Rằng mẩu giấy cuối cùng ông dúi cho chị chiều hôm qua, mẩu chị đọc đi đọc lại ba lần, viết rõ ràng, mạch lạc, từng dấu phẩy đúng chỗ.
Nhưng chị nhìn bà Chín – người đàn bà đã tin sẵn câu chuyện thằng Sáu kể – và chị hiểu rằng mở miệng lúc này, chị sẽ là “con nhỏ bán cà phê xía vô chuyện người ta”. Mẩu giấy chị có trong túi sẽ thành “đồ người điên viết”. Và chị sẽ mất luôn cái góc hẻm – chỗ duy nhất chị còn nhìn lên tấm ván ép đó mỗi ngày.
Chị rót thêm cà phê cho bà Chín.
Mười một giờ, chị dọn hàng.
Trước khi đẩy xe đi, chị đứng nhìn lên cửa sổ tầng hai lần cuối. Tấm ván ép im lìm, bốn cây đinh bốn góc, không một khe hở.
Phía sau tấm ván, không có tiếng gì.
Chị Hai quẹo phải, đi về nhà.
Hộp thiếc vẫn ở trong túi áo. Nặng hơn sáng.
Tui nghe chuyện buổi họp đó từ thằng Hải – con trai bà Chín tiệm tạp hoá, hôm đó nó chở đồ lên giao cho chị Tư, tới nơi thấy cửa mở, người ngồi đầy phòng khách, nó đứng ngoài hiên nghe hết từ đầu tới cuối.
Chị Tư gọi họp gia đình chiều Chủ nhật. Có mặt thằng Sáu, có Phượng – vợ thằng Sáu, có bà Chín được mời qua làm chứng, có thêm hai ba người hàng xóm cũ bên ngoại ông Tám, những người chị Tư gọi điện mời riêng. Chị Tư nói đây là buổi họp để “sắp xếp lại chuyện chăm sóc ba”, nhưng thằng Hải kể lại, chưa ai kịp ngồi ấm ghế thì Phượng đã đứng lên, tay cầm một cuốn sổ bìa nhựa xanh, tuyên bố: “Em muốn nói rõ luôn cho bà con nghe. Có người đồn em với anh Sáu ăn chặn tiền ba. Đây, sổ chi tiêu em ghi từng ngày, từng đồng, ai muốn coi thì coi.”
Phượng đặt cuốn sổ lên bàn. Giở từng trang. Tiền thuốc, tiền gạo, tiền bỉm, tiền bác sĩ – tất cả viết tay gọn gàng, có ngày có tháng. Thằng Sáu ngồi cạnh gật gù, mặt đầy vẻ oan ức. Chị Tư đứng sau lưng, khoanh tay, không nói, nhưng ánh mắt chị quét một vòng quanh phòng, như đang kiểm tra xem ai tin, ai chưa.
Bà Chín tin. Mấy người hàng xóm bên ngoại gật đầu. Phượng lật thêm trang, giọng càng lúc càng rắn: “Tháng nào em cũng chi hơn bốn triệu cho ba. Ai nói em ăn chặn thì đưa bằng chứng ra.”
Rồi cửa mở.
Thằng Hải nói nó thấy chị Hai bước vào. Không gõ cửa. Không chào ai. Chị mặc cái áo khoác cũ, tay ôm hộp thiếc trước bụng – cái hộp bánh quy phai nhãn mà thằng Hải nhận ra vì nó thấy cái hộp đó dưới đáy xe đẩy của chị mỗi sáng.
Phượng ngừng nói. Chị Tư bước tới một bước. “Ai cho chị vô đây?”
Chị Hai không trả lời. Chị đặt hộp thiếc lên bàn, ngay cạnh cuốn sổ bìa xanh. Mở nắp.
Bên trong, mẩu giấy lịch xếp chồng lên nhau. Chị Hai lấy ra từng mẩu, trải lên mặt bàn, xếp theo hàng, theo ngày. Nét chữ run rẩy của ông Tám hiện ra trên mặt sau mỗi tờ lịch – có mẩu viết ba chữ, có mẩu viết nửa trang, có mẩu chỉ một con số.
Không ai nói gì.
Chị Hai lấy từ túi áo một xấp giấy A4 gấp tư. Chị mở ra, đặt song song với hàng mẩu lịch. Thằng Hải nói nó nhìn thấy dòng chữ in đậm trên đầu trang: sao kê tài khoản ngân hàng, tên chủ tài khoản là ông Tám, ba tháng gần nhất.
“Con gái lớn ông Tám ở Bình Dương gửi về cho tui,” chị Hai nói. Giọng chị bình thường, không lên không xuống, giọng người bán cà phê quen nói vừa đủ nghe. “Tui gọi cho cổ tuần trước. Cổ xin sao kê từ ngân hàng.”
Chị Hai dùng ngón tay chỉ vào một mẩu lịch. Trên đó, nét chữ ông Tám ghi: “Nó rút 15 triệu, nói mua thuốc, không có thuốc nào hết.” Rồi chị chỉ qua tờ sao kê. Dòng ngày tương ứng: rút mười lăm triệu, máy ATM, đúng ngày.
Chị chỉ mẩu tiếp theo. “Nó bắt ký giấy bán đất Long An. Tao không ký.” Rồi chỉ qua sao kê: không có khoản tiền đất nào vào tài khoản.
Mẩu tiếp. “Nó khoá cửa phòng tao từ bên ngoài. Bảy giờ tối khoá, sáu giờ sáng mở.” Không có sao kê nào khớp với mẩu này, nhưng chị Hai rút điện thoại ra, bật một đoạn video.
Thằng Hải nói nó nghe tiếng ông Tám phát ra từ cái loa điện thoại nhỏ xíu, nhưng rõ từng chữ. Ông nói chậm, giọng khàn, không phải giọng người lẫn. Ông kể: “Nó khoá cửa tao. Nó lấy điện thoại tao. Nó nói tao mà la lên là nó đưa tao vô viện tâm thần.” Video quay qua song cửa sổ, trước khi bị bịt ván – góc quay từ dưới nhìn lên, đúng góc từ chỗ bán cà phê đầu hẻm.
Điện thoại chị Hai nhỏ, loa rè rè, nhưng cả phòng im đến mức nghe được tiếng ông Tám nuốt nước bọt giữa hai câu.
Phượng đứng dậy. “Đồ bịa! Ổng lẫn, ổng nói bậy – “
Chị Hai không nhìn Phượng. Chị chỉ vào cuốn sổ bìa xanh. “Tháng Ba, chị ghi mua thuốc huyết áp một triệu hai. Sao kê không có khoản mua thuốc nào. Tháng Tư, chị ghi đóng viện phí hai triệu. Ông Tám không nhập viện ngày nào.”
Cuốn sổ bìa xanh nằm trên bàn, vẫn còn mở ở trang Phượng vừa giở. Thằng Hải nói nó thấy tay Phượng buông thõng, cuốn sổ trượt khỏi mép bàn, rơi xuống sàn gạch, tiếng bìa nhựa đập nền nghe cộp một tiếng gọn.
Không ai cúi nhặt.
Chị Tư mở miệng, rồi ngậm lại. Thằng Sáu nhìn xuống chân.
Chị Hai nói, vẫn giọng đó, giọng bán cà phê: “Mở cửa phòng ông Tám.”
Không ai động đậy.
“Mở cửa phòng ông Tám.”
Thằng Sáu đứng dậy. Không rõ vì nó nghe lời hay vì nó muốn rời khỏi phòng khách. Nó đi lên cầu thang. Tiếng khoá lách cách. Tiếng cửa mở.
Bước chân chậm rãi trên cầu thang gỗ. Ông Tám xuất hiện ở chân cầu thang, tay vịn lan can, áo thun trắng nhàu, quần ngắn, chân không dép. Ông đứng đó, nhìn qua phòng khách, nhìn mẩu giấy lịch trải đầy bàn, nhìn cái hộp thiếc mở nắp, nhìn chị Hai.
Ông không nói gì.
Ông gật đầu một cái.
Thằng Hải nói cái gật đầu đó y như cái gật ông Tám gật mỗi sáng qua song cửa sổ, khi nhận ly cà phê từ tay chị Hai. Không lời. Nhưng đủ.
Chuyện sau buổi họp đó, tui nghe từ nhiều người kể lại, mỗi người một khúc, ráp lại thì ra cái hình đầy đủ.
Phượng bị đuổi khỏi nhà ngay đêm hôm đó. Không phải ông Tám đuổi. Chị Tư đuổi. Thằng Hải nói nó nghe chị Tư đứng trước cổng, chỉ mặt Phượng, nói đúng một câu: “Mày ra khỏi đây đi, đừng có bắt tao mang tiếng chung với mày.” Phượng xách túi đồ đi lúc chín giờ tối, không quay lại lần nào. Nghe nói cổ về ngoại ở Tây Ninh, không ai xác nhận được vì cũng không ai buồn hỏi.
Thằng Sáu thì ở lại.
Nó ở lại nhưng không phải để ở. Sáng hôm sau, bà Chín kể, nó quỳ trước mặt ông Tám giữa phòng khách. Quỳ thiệt, hai đầu gối chạm nền gạch, đầu cúi xuống. Nó nói: “Con xin lỗi ba.”
Ông Tám ngồi trên ghế nhựa, nhìn xuống thằng con út quỳ dưới đất, im một hồi lâu. Bà Chín nói bà đứng ngoài cửa, nín thở chờ. Rồi ông Tám nói, giọng khàn, chậm, từng chữ rơi xuống như giọt nước nhỏ vào cái ly rỗng: “Tao đa nghi là đúng.”
Hết. Ông không nói thêm câu nào. Không tha, không trách, không giải thích. Ba chữ đó nặng hơn cả trăm mẩu giấy lịch trong hộp thiếc.
Thằng Sáu đứng dậy, bước ra khỏi nhà, leo lên xe. Từ hôm đó nó không ghé lại. Bà Chín nói thỉnh thoảng nó chạy xe ngang hẻm, chạy chậm lại ở đoạn trước nhà, nhưng không bao giờ dừng. Cái kiểu người ta muốn nhìn mà không dám bước vào.
Hai người con gái ông Tám – chị Tư và chị Ba ở Bình Dương – sắp xếp đưa ông về sống cùng chị Ba. Chị Tư bán cái xe tay ga, gom tiền đưa cho chị Ba lo thuốc men. Tui không biết trong đầu chị Tư nghĩ gì – chị là người biết ông Tám bị nhốt mà chọn cách nhắm mắt, hay chị thiệt sự tin ông lẫn. Nhưng sau buổi họp đó, chị không giải thích, không thanh minh. Chị làm. Chị ký giấy, chị gọi xe, chị dọn phòng. Có thể đó là cách chị Tư xin lỗi – bằng tay chân, không bằng miệng.
Căn phòng tầng hai trống.
Thằng Hải nói nó đi ngang, nhìn lên, tấm ván ép đã bị gỡ ra, bốn lỗ đinh còn hằn trên khung gỗ. Song sắt cửa sổ trơ ra, gió thổi vào căn phòng không người, thổi lá khô bay lên từ nền gạch. Cái phòng đó bây giờ ai nhìn cũng thấy nó trống, nhưng tui nghĩ nó trống từ lâu rồi – từ hồi ông Tám bị khoá cửa lại mà không ai nghe tiếng.
Chị Hai vẫn bán cà phê.
Không phải ở đầu hẻm cũ. Hợp đồng hết hạn thiệt, chị Tư không gia hạn. Chị Hai dời qua góc đường lớn, cách hẻm chừng trăm mét, gần bãi giữ xe bệnh viện quận. Chỗ mới đông hơn, ồn hơn, nhưng chị mất cái góc hẻm yên tĩnh mà chị ngồi bảy tháng.
Cái hộp thiếc, tui hỏi thằng Hải, nó nói chị Hai đưa lại cho chị Ba ngày ông Tám dọn đi. Chị Ba mở ra, đếm từng mẩu, xếp lại, đậy nắp, ôm vào ngực.
Ông Tám ở Bình Dương, nghe nói khoẻ hơn. Có sân, có cây, có cháu ngoại chạy loanh quanh. Ông không lẫn – điều đó bây giờ ai cũng biết, nhưng không ai nói ra miệng lần thứ hai. Cái kiểu người ta biết mình sai mà im đi cho qua, hy vọng thời gian nó phủ lên như bụi.
Nhưng có một chuyện mà tui thấy tận mắt.
Mỗi sáng, chị Ba gọi điện cho chị Hai. Ngắn lắm, chưa tới một phút. Rồi chị Hai pha một ly cà phê đen, bỏ vào bịch ni lông, gửi xe ôm chạy qua nhà chị Ba. Chị Ba nhận ly, đem vào cho ông Tám.
Ông Tám uống cà phê chị Hai pha mỗi sáng. Vẫn vậy. Không qua song cửa sổ nữa, không cần mẩu giấy lịch nữa, nhưng vẫn vậy.
Thằng Hải hỏi tui: “Anh nghĩ chị Hai làm vậy tới bao giờ?”
Tui không biết. Tui chỉ biết có những người không cần nói gì mà vẫn giữ được lời hứa họ chưa bao giờ nói ra.
Sáng nay tui đi ngang hẻm cũ. Cửa sổ tầng hai mở toang. Gió lùa vào căn phòng trống, lay tấm rèm cũ ai quên chưa tháo. Song sắt vẫn còn nguyên, rỉ sét thêm một chút, nhưng không có bàn tay nào thò qua nữa.
Cũng không cần nữa.
Story code: VI_000126

