Tôi giật mạnh khay inox trên bàn, lấy hết sức đập thẳng xuống nền gạch nhớp nháp mỡ của khu bếp bán trú. Tiếng kim loại va đập chát chúa vang lên, kéo theo từng tảng thịt lợn nhợt nhạt, rỉ nước xanh xám bắn tung tóe. Một thứ mùi ôi thiu, nồng nặc sự thối rữa xộc thẳng vào mũi khiến mấy phụ huynh đứng sau tôi phải đưa tay lên che miệng nôn khan.
“Chị cho con chúng tôi ăn thứ rác rưởi này à!” Tôi gào thẳng vào mặt Hạnh, người đàn bà ngoài năm mươi đang co rúm lại bên cạnh bồn rửa công nghiệp.
“Chị nói đi, nhận tiền của ai mà mua ba cái đồ thối rữa này cho học sinh nhét vào miệng! Chị có biết con tôi về nhà đau bụng nôn mửa suốt hai ngày nay không!” Tôi tiến tới, gạt nốt đống túi nilon đen bẩn thỉu rách bươm xuống đất. Chút nước thịt đục ngầu chảy lênh láng trên mặt sàn, bốc lên mùi hôi thối đặc trưng của xác động vật đang trong giai đoạn phân hủy.
Xung quanh tôi, sáu bảy chiếc điện thoại đã bật sẵn đèn flash, chĩa thẳng vào mặt bà bếp trưởng. Ánh sáng chói lóa lia qua những bao nilon đen vứt lăn lóc góc tường, tuyệt nhiên không hề có một dòng nhãn mác, hạn sử dụng hay tên công ty cung cấp. Bữa ăn của hơn năm trăm đứa trẻ mầm non và tiểu học được nấu từ những thứ bốc mùi tử khí thế này.
“Không… các chị hiểu lầm rồi… tôi không…” Hạnh lắp bắp, đôi bàn tay đầy nếp nhăn giơ lên chắn ngang mặt để né tránh những ống kính điện thoại đang dí sát.
“Hiểu lầm cái gì! Bắt quả tang tại trận rồi còn cãi lấp liếm.” Chị Loan, hội trưởng hội phụ huynh vung tay chỉ thẳng vào mặt Hạnh, cắt ngang lời thanh minh yếu ớt. “Nhà bếp này do một tay chị quản lý, không chị nhận hàng thì ma quỷ nào đem vào đây được. Đồ tàn nhẫn. Chị cũng có con có cháu, sao chị ác thế! Chụp hết lại, livestream cho cả trường thấy bộ mặt thật của bà này.”
Giữa vòng vây chửi bới, xỉa xói, Hạnh run bần bật. Bà ta cứ lùi dần, lùi dần cho đến khi lưng bám chặt vào vòi nước lạnh ngắt. Sự phẫn nộ của đám đông phụ huynh chúng tôi đã lên đến đỉnh
điểm, sẵn sàng lao vào trừng trị kẻ đã nhẫn tâm đầu độc con em mình.
Đúng lúc sự căng thẳng sắp vỡ tung thành một vụ xô xát, cánh cửa inox của khu bếp bị đẩy mạnh ra. Thầy hiệu trưởng Phong bước vào, theo sau là hai bảo vệ. Vừa nhìn thấy bãi chiến trường dưới đất và những khay thịt không rõ nguồn gốc, sắc mặt Phong lập tức tái đi. Ông ta đưa tay vuốt ngực, diễn một nét mặt bàng hoàng, đau xót đến tột độ.
“Tôi thành thật xin lỗi các vị phụ huynh.” Giọng Phong trầm xuống, rưng rưng như người cha vừa nhìn thấy các con mình bị thương. Ông ta bước tới, đứng chắn giữa đám đông và bà bếp trưởng. “Đây là lỗi của nhà trường khi thiếu giám sát khâu nhập liệu. Tôi không thể tin được người nhà trường tin tưởng giao phó lại có thể làm ra hành động táng tận lương tâm thế này.”
Nói đoạn, Phong quay phắt lại, ánh mắt đầy phẫn nộ găm thẳng vào Hạnh. Giọng ông ta đanh lại, vang dội khắp căn bếp chật hẹp, đủ lớn để mọi luồng livestream đều thu rõ từng âm tiết.
“Chị Hạnh, nhà trường trả lương cho chị không phải để chị tuồn thực phẩm bẩn vào đây hãm hại học sinh. Từ giây phút này, chị không còn là người của trường nữa. Tôi chính thức sa thải chị. Mời chị thu dọn đồ đạc và rời khỏi đây ngay lập tức, trước khi tôi gọi công an đến làm việc.”
Lời tuyên bố đanh thép của Phong như một gáo nước lạnh dội vào bầu không khí, xoa dịu ngay lập tức cơn thịnh nộ của đám đông. Các phụ huynh bắt đầu gật gù, thì thầm to nhỏ khen ngợi sự quyết đoán, minh bạch của ban giám hiệu. Kẻ thủ ác đã bị trừng trị thích đáng.
Nhưng tôi đứng đủ gần để nhìn thấy một tia phản ứng kỳ lạ. Khi nghe quyết định đuổi việc, Hạnh không suy sụp gào khóc xin tha như những người phạm lỗi bị dồn vào chân tường. Đôi mắt bà ta trừng lớn, một tia kinh ngạc tột độ pha lẫn sự phẫn uất bùng lên, chiếu thẳng vào mặt vị hiệu trưởng đáng kính. Bà ta há miệng định gào lên phản bác, lồng ngực phập phồng dữ dội.
Đôi tay run rẩy của Hạnh đột ngột luồn sâu vào chiếc túi to trước ngực chiếc tạp dề dính đầy dầu mỡ. Tôi thấy rõ từng ngón tay bà ta cấu chặt lại. Hạnh nắm chặt một vật gì đó cộm lên trong lớp vải tạp dề, tạo thành một khối cứng ngắc. Bà ta nghiến răng, cơ hàm bạnh ra, một động tác kéo tay dứt khoát chuẩn bị rút vật đó ra khỏi túi để tung một đòn phản công cuối cùng.
Nhưng ngay khoảnh khắc tay Hạnh vừa định giật lên, Phong đã khẽ hất cằm. Vị hiệu trưởng không thèm mở lời, chỉ dùng một ánh mắt lạnh lẽo, tàn độc và thấu xương nhìn xoáy thẳng vào đôi mắt đang hừng hực uất ức của bà bếp trưởng. Khoảng cách giữa họ chỉ chưa đầy nửa mét. Không một ai trong đám đông phụ huynh đang mải mê quay phim chụp ảnh nhận ra cái nhìn đe dọa đầy áp chế ấy.
Bờ vai Hạnh bất ngờ sụp xuống. Sự phản kháng mạnh mẽ vừa nhen nhóm cách đó một giây đã bị nghiền nát hoàn toàn bởi cái nhìn tăm tối của người đối diện. Bàn tay đang nắm chặt vật lạ trong túi tạp dề của bà ta từ từ nới lỏng. Những ngón tay buông thõng, trượt dần ra khỏi miệng túi, để mặc đồ vật cộm lên kia rơi thỏm trở lại đáy lớp vải rách rưới. Hạnh cúi gầm mặt, một giọt nước mắt lăn dài trên gò má xám xịt, cam chịu bước những bước nặng nề lách qua đám đông đi ra khỏi cửa, mang theo bí mật nằm gọn trong lớp vải mỏng manh.
Sự hả hê của đám đông phụ huynh hôm đó giống như một liều thuốc tê, chỉ có tác dụng che đậy cơn đau tạm thời. Ngay chiều hôm sau, thầy Phong tổ chức một buổi họp khẩn, dõng dạc tuyên bố đã chấm dứt hợp đồng cũ và ký ngay với “Công ty Thực phẩm Xanh” – một đơn vị cung cấp suất ăn có đủ mọi loại giấy chứng nhận vệ sinh đóng dấu đỏ chót. Phụ huynh vỗ tay rào rào, rơm rớm nước mắt hàm ơn vị hiệu trưởng “tận tâm”, “quyết đoán”.
Nhưng tôi thì không. Cảm giác lạnh gáy từ cái nhìn giao nhau giữa ông ta và bà Hạnh vẫn bám riết lấy tôi. Linh cảm của một người mẹ mách bảo rằng vở kịch này chưa kết thúc.
Và tôi đã đúng. Chỉ ba ngày sau, đồ ăn của học sinh từ thê thảm chuyển sang một dạng tồi tệ khác, tinh vi hơn.
Thay vì những khay inox mỡ màng, giờ đây mỗi đứa trẻ được phát một khay nhựa chia ngăn đậy nắp kín bưng, trông rất “quốc tế”. Nhưng thằng Bin nhà tôi bắt đầu bỏ bữa. “Thịt cứng lắm mẹ ạ, lại còn có mùi thuốc tẩy,” con trai tôi thều thào, ôm cái bụng xẹp lép sau một ngày dài ở trường. Trưa hôm sau, tôi lấy cớ mang áo khoác cho con để lén lên khu nhà ăn. Dưới lớp nước sốt cà chua đỏ quạch, đặc sệt hóa chất tạo màu và mùi ngũ vị hương nồng nặc là những viên thịt xay nhuyễn lổn nhổn, khô khốc như mùn cưa. Bằng kinh nghiệm đi chợ chục năm, tôi thừa biết đó không phải là thịt tươi. Đó là phế phẩm đông lạnh lâu ngày, loại thịt thừa mủn nát được tẩm ướp vô tội vạ để đánh lừa vị giác. Nó còn đáng sợ hơn cả khay thịt bốc mùi hôm trước, vì giờ đây, sự thối rữa đã được ngụy trang hoàn hảo dưới lớp vỏ bọc “dây chuyền hiện đại”.
Tôi chụp lại khay thức ăn, gửi thẳng vào nhóm chat Hội phụ huynh. Những tưởng sẽ lại có một làn sóng phẫn nộ nổi lên như trước, nhưng không.
“Chị Thu lại sao thế? Trường đã đổi công ty lớn rồi mà chị còn hạch sách gì nữa?” Chị Loan, hội trưởng, gõ một tràng dài.
“Đúng rồi, có giấy chứng nhận đàng hoàng. Chắc con chị kén ăn thôi. Đừng bới bèo ra bọ, làm khổ thầy hiệu trưởng nữa.”
“Chị cứ làm loạn lên, trường mà cắt bán trú thì chúng tôi lấy ai trông con? Chị rảnh rỗi thì tự đi mà nấu!”
Từng dòng tin nhắn nhảy lên màn hình như những cái tát. Sự phẫn nộ đòi công lý ngày hôm trước đã hoàn toàn bốc hơi, thay vào đó là sự thỏa hiệp hèn nhát. Họ thà tin vào mấy tờ giấy A4 đóng dấu đỏ, thà để con mình nuốt những thứ rác rưởi được tẩm ướp thơm tho, còn hơn là phải thừa nhận bản thân đang tiếp tục bị dắt mũi. Tôi bị cô lập hoàn toàn giữa đám đông mà chỉ vài ngày trước, tôi còn tưởng là đồng minh.
Sự trơ trẽn của những khay thức ăn mới và thái độ quay xe của hội phụ huynh khiến tôi nhận ra một sự thật cay đắng: Bà Hạnh chỉ là con tốt thí. Nếu bà ta thực sự là kẻ chủ mưu tuồn thực phẩm bẩn để ăn bớt tiền, thì khi bà ta đi rồi, chất lượng bữa ăn phải tốt lên. Đằng này, mọi thứ chỉ được hợp thức hóa bằng một công ty sân sau để tiếp tục rút ruột bữa ăn của lũ trẻ một cách an toàn hơn.
Tôi nhớ lại khoảnh khắc trong bếp. Bàn tay nắm chặt trong túi tạp dề, sự uất ức tột độ, và cái hất cằm tàn độc của Phong. Bà ta đã định rút thứ gì ra? Thứ gì có thể lật ngược ván cờ lúc đó?
Không thể để con mình tiếp tục làm vật tế thần, tôi dò hỏi địa chỉ của Hạnh qua một người tạp vụ cũ. Đó là một căn nhà cấp bốn xập xệ, nằm lọt thỏm trong con ngõ ngoằn ngoèo ngập nước đọng ở cuối xóm chợ.
Khi tôi gõ cửa, Hạnh bước ra, tiều tụy đi cả chục tuổi. Vừa nhìn thấy tôi, gương mặt xám xịt của bà ta lập tức rúm ró lại vì hoảng sợ. Bà ta toan đóng sập cửa, nhưng tôi đã nhanh chân chặn lại.
“Chị Hạnh, tôi chỉ muốn biết sự thật. Cái ngày hôm đó, chị định lấy thứ gì trong túi ra? Ai là người đứng sau những khay thịt thối?”
“Cô đi đi! Tôi không biết gì hết! Tôi bị đuổi rồi, cô còn muốn ép tôi đến chết sao?” Hạnh rít lên, ánh mắt láo liên nhìn ra ngõ như sợ hãi có bóng người rình rập.
“Chị đang gánh tội thay cho lão Phong phải không? Đồ ăn bây giờ còn tệ hơn trước, toàn là hóa chất tẩm ướp. Chị cũng làm mẹ, làm bà, chị nỡ lòng nào im lặng nhìn hàng trăm đứa trẻ nhai thứ rác rưởi đó sao?” Tôi gắt lên, chọc thẳng vào sự cắn rứt của người đàn bà lam lũ.
Câu nói của tôi như chạm vào vảy ngược. Hạnh chững lại, hốc mắt đỏ ngầu ứa nước. Bà ta buông tay khỏi cánh cửa, lùi lại một bước, hai bàn tay run rẩy ôm lấy ngực.
“Cô tưởng tôi muốn im lặng gánh tiếng ác sao?” Giọng bà ta khàn đặc, vỡ nát. “Cái túi đó… trong tạp dề… là cuốn sổ ghi chép và mớ biên lai gốc. Giao nhận thịt bẩn bao nhiêu, tiền chênh lệch chảy vào túi ai, trong đó có đủ cả. Lúc bị hắt hủi, tôi đã định lôi ra, cho tất cả các người thấy bộ mặt thật của ông ta.”
“Vậy tại sao chị lại cất vào? Chị đưa cuốn sổ đó cho tôi, tôi sẽ mang đi tố cáo!” Tôi nôn nóng bước tới.
Hạnh cười nhạt, một nụ cười méo mó, cay đắng đến tận cùng. Bà ta lắc đầu, ánh mắt lộ rõ sự tuyệt vọng của một kẻ dưới đáy xã hội bị dồn vào chân tường.
“Tố cáo? Rồi ông ta mất chức, còn cháu ngoại tôi thì sao? Hôm đó, ông ta không nói một lời, nhưng tôi nhìn ánh mắt đó là tôi hiểu. Thằng cháu tôi đang học lớp 1A3 ở đấy. Vợ chồng con gái tôi thì thuê ki-ốt bán hàng ngoài cổng trường. Tôi mà tung hê cuốn sổ ra, gia đình tôi sống yên ổn được với đám giang hồ bảo kê lò mổ của ông ta chắc? Tôi chỉ là mụ nấu bếp thấp cổ bé họng, đấu thế nào được?”
Hạnh bật khóc nức nở, tiếng khóc nghẹn ngào trong cổ họng như con thú bị thương. Không đợi tôi nói thêm lời nào, bà ta đẩy mạnh tôi ra ngoài rồi chốt chặt cửa sắt. Đứng giữa con ngõ tăm tối ẩm mốc, tôi nghe rõ tiếng mình thở dài bất lực. Chứng cứ duy nhất nằm sau cánh cửa hoen gỉ ấy, mãi mãi bị khóa chặt bởi nỗi sợ hãi tột cùng.
Tôi lê bước quay trở lại trường để đón Bin trong một tâm thế rã rời. Vừa bước qua cổng, tim tôi như ngừng đập.
Dưới gốc bàng lớn giữa sân trường, thầy Phong đang mỉm cười xoa đầu con trai tôi. Ông ta bóc một viên kẹo rực rỡ, tự tay đút vào miệng thằng bé. Vừa thấy tôi tiến lại gần, Phong ngước lên. Ánh mắt xuyên qua gọng kính cận lóe lên một tia lạnh lẽo, hệt như cái cách ông ta đã găm vào bà bếp trưởng hôm nào.
“Chị Thu đón cháu muộn thế,” Phong cất giọng êm ái, từ tốn kéo dài từng chữ. “Mẹ dạo này đi lại nhiều nơi vất vả thế này, Bin ở trường phải ngoan, ăn uống đầy đủ để mẹ yên tâm làm việc nhé. Có bề gì thì mẹ buồn lắm đấy, phải không, Bin?”
Lời đe dọa thâm hiểm dội qua kẽ răng của thầy hiệu trưởng Phong ngày hôm qua giống như một sợi dây thòng lọng vô hình siết chặt lấy cổ tôi. Hắn ta tưởng rằng lôi sự an toàn của thằng Bin ra làm con tin thì tôi sẽ sợ hãi mà ngoan ngoãn ngậm miệng. Nhưng hắn đã nhầm. Nỗi sợ hãi của một người mẹ khi bị dồn đến đường cùng không sinh ra sự hèn nhát, mà nó châm ngòi cho một cơn điên cuồng bất chấp tất cả.
Sáng hôm sau, sau khi giao con cho cô giáo chủ nhiệm, tôi không quay xe ra về. Thay vì thế, tôi kéo sụp vành nón bảo hiểm, lách qua khu vực giao nhận thực phẩm phía sau nhà ăn. Giờ này học sinh đang tập thể dục giữa giờ, khu vực bếp núc vắng hoe.
Dọc hành lang ẩm thấp sực mùi dầu mỡ cũ là dãy tủ sắt hoen gỉ dành cho nhân viên nhà bếp. Tôi lướt qua từng con số mờ nhạt bằng sơn đỏ. Tủ số 14. Tủ của bà Hạnh. Ngày hôm đó, Phong đuổi việc bà ấy ngay tại trận, hai gã bảo vệ đã áp tải bà ấy ra tận cổng trường mà không cho quay lại lấy đồ đạc cá nhân. Cuốn sổ bí mật mà bà Hạnh nhắc đến đêm qua, thứ bà ấy không dám mang theo người vì sợ tai mắt của đám giang hồ, chắc chắn chỉ có thể nằm lại ở đây.
Ổ khóa Việt Tiệp trên cánh tủ số 14 đã xỉn màu. Tôi ngó quanh, nhặt lấy một chiếc cờ lê bằng sắt đặc vứt lăn lóc trên xe đẩy của lao công. Hai tay tôi nắm chặt cán sắt, hít một hơi thật sâu rồi nện liên tiếp xuống móc khóa. Tiếng kim loại va đập chát chúa dội vào những bức tường lát gạch men cáu bẩn. Đến nhát thứ năm, cùm khóa bung ra.
Tôi giật mạnh cánh tủ sắt. Bên trong trống trơn, chỉ có một chiếc túi vải sờn rách và bộ quần áo lao động. Tim tôi đập thịch một nhịp hẫng hụt. Nhưng khi tôi thò tay vào đáy chiếc túi vải, ngón tay tôi chạm phải một thứ gì đó cứng cứng, được cuộn chặt trong nhiều lớp túi nilon đen.
Tôi lôi nó ra, luống cuống xé toạc lớp vỏ bọc bốc mùi tương bần.
Đó là một cuốn sổ bìa giả da đã sờn mép. Ngay trang đầu tiên, đập vào mắt tôi không chỉ là những dòng chữ nguệch ngoạc ghi chép ngày tháng, mà còn là một xấp giấy A4 in màu được ghim cẩn thận. Tay tôi run lên bần bật khi lật từng trang. Đó là những ảnh chụp màn hình tin nhắn Zalo, hiển thị rõ ràng số điện thoại và hình đại diện chững chạc của hiệu trưởng Phong.
“Tháng này ép chi phí xuống thêm 10%. Lấy hàng kho B đi, lợn tai xanh hay chết toi gì cũng được, ướp đẫm ngũ vị hương vào. Bọn ranh con không biết đâu.”
“Nhập lô gà ươn ngâm formol cho rẻ. Cứ chiên giòn lên là xong. Đừng để tao phải nhắc lại.”
Từng dòng chữ của vị hiệu trưởng đạo mạo hiện lên trên giấy như những nhát dao đâm thẳng vào dạ dày tôi. Nhưng sự thật cay đắng nhất không nằm ở sự tàn độc của hắn, mà nằm ở nửa sau của cuốn sổ.
Được kẹp chặt giữa những trang giấy ố vàng là một xấp hóa đơn nhàu nhĩ, nét mực bút bi đã nhòe đi vì mồ hôi. Đó là những tờ biên lai viết tay từ các sạp bán thịt tươi ở khu chợ đầu mối mạn Nam. “5 kg thịt nạc vai – tiền mặt”, “3 kg sườn non – đã thanh toán”. Tôi lần theo các ngày tháng ghi trên hóa đơn, đối chiếu với những ngày mà Phong ép nhập thịt thối.
Bên cạnh mép mỗi tờ hóa đơn, bà Hạnh ghi chú bằng nét chữ run rẩy: “Đã vứt bỏ mẻ thịt lợn tai xanh. Rút hai triệu rưỡi tiền tiết kiệm mua thịt tươi chợ Đằng gỡ lại. Lũ trẻ ăn vào thì tội nghiệp lắm.” “Hôm nay mua đền 6 cân sườn. Hết sạch tiền mua thuốc khớp.”
Mắt tôi nhòe đi. Một cơn sóng trào dâng trong lồng ngực, đắng ngắt và nghẹn ứ. Người đàn bà lam lũ ấy, người bị chính chúng tôi xỉa xói, quay video lăng mạ trong căn bếp hôm đó, lại là tấm lá chắn duy nhất bảo vệ những đứa con của chúng tôi khỏi bàn tay tử thần. Trong suốt hai năm trời bị tên khốn kia ép uổng, bà Hạnh đã phải cắn răng rút cạn những đồng lương còm cõi, những đồng tiền dành dụm mua thuốc lúc tuổi già để âm thầm mua thịt sạch bù vào. Bà ấy không dám tố cáo vì sợ liên lụy đến gia đình, nhưng cũng không đành lòng hạ độc những đứa trẻ, đành tự mình gánh vác tội lỗi và đền bù bằng chính máu thịt của mình.
Chúng tôi đã sai lầm. Chúng tôi đã treo cổ một vị bồ tát để vỗ tay ca tụng một con quỷ dữ.
Tôi nắm chặt cuốn sổ và xấp hóa đơn trong tay, nhét vội vào túi xách. Ngay lúc này, trên tầng hai của dãy nhà hiệu bộ, buổi họp thường kỳ của Ban đại diện cha mẹ học sinh đang diễn ra.
Tôi lao lên cầu thang, hất tung cánh tay ngăn cản của nhân viên bảo vệ hành lang. Cánh cửa gỗ lim của phòng họp đóng kín, nhưng vẫn lọt ra ngoài giọng nói trầm ấm, đầy vẻ bao dung của thầy Phong.
“…nhờ sự đồng lòng của quý vị phụ huynh, trường ta đã nhanh chóng cắt bỏ được mầm mống độc hại từ người làm bếp tha hóa đạo đức. Công ty thực phẩm mới…”
Rầm!
Tôi giơ chân đạp tung cánh cửa đôi. Tiếng bản lề va đập vào tường tạo ra một âm thanh chát chúa. Mười mấy gương mặt trong phòng, bao gồm cả chị Loan hội trưởng đang gật gù ghi chép, đồng loạt quay lại, sững sờ.
“Chị Thu? Chị làm cái trò gì ở đây vậy? Đang họp ban…” Chị Loan đứng phắt dậy, cau mày khó chịu.
Tôi phớt lờ tất cả, sải bước nện gót giày cồm cộp thẳng tới chiếc bàn gỗ gụ khổng lồ, nơi Phong đang ngồi ở vị trí chủ tọa. Nụ cười từ bi trên môi hắn tức thì đông cứng lại. Ánh mắt sau gọng kính cận của hắn lóe lên tia hoảng hốt xen lẫn thị uy.
“Chị Thu, mời chị ra ngoài. Sự quá khích của chị đang làm phiền…” Hắn gằn giọng, cố giữ vẻ uy nghiêm.
Chát!
Tôi đập thẳng xấp giấy A4 và cuốn sổ nhàu nhĩ xuống mặt bàn bóng loáng, ngay trước mặt hắn. Âm thanh khô khốc chẹn ngang cuống họng vị hiệu trưởng kính mến.
“Mầm mống độc hại sao?” Giọng tôi vang lên, không còn là tiếng gào thét mất kiểm soát như ngày ở nhà bếp, mà lạnh lẽo và sắc nhọn như dao. “Thầy vỗ ngực tự xưng là người làm sạch bữa ăn cho học sinh, trong khi chính bàn tay thầy đã gõ những dòng tin nhắn này!”
Tôi rút tờ giấy trên cùng, giơ lên cao trước ánh mắt ngỡ ngàng của tất cả phụ huynh, đọc to từng chữ: “Tháng này lấy hàng kho lợn chết, ướp đẫm ngũ vị hương vào. Bọn ranh con không biết đâu. Trích tin nhắn Zalo số điện thoại cá nhân của thầy gửi cho bà Hạnh ngày 12 tháng 4. Thầy còn muốn lấp liếm gì nữa?”
Sắc mặt Phong nhợt nhạt như xác chết. Hắn ta chồm người tới, vung tay định giật lấy xấp giấy, nhưng tôi đã nhanh hơn, hất toàn bộ đống hóa đơn bay lả tả xuống giữa bàn họp.
“Các người nghĩ mình đã đuổi được một mụ bếp ác độc ăn bớt khẩu phần ăn?” Tôi quay sang nhìn thẳng vào những bà mẹ đang há hốc mồm, giọng tôi nghẹn lại vì xót xa. “Nhìn cho kỹ đi! Đây là hóa đơn mua thịt tươi ở chợ. Trong suốt hai năm qua, khi bị tên ác quỷ này ép nấu thịt ôi thiu lợn chết cho con các người, bà Hạnh đã phải cắn răng rút tiền túi, tiền tiết kiệm dưỡng già của bà ấy để mua thịt sạch bù vào! Bà ấy tự đổ rác rưởi của trường đi, tự móc hầu bao ra nuôi con các người vì không đành lòng nhìn chúng ăn thuốc độc!”
Chị Loan run rẩy nhặt một tờ biên lai lên. Ánh mắt chị ta đảo điên đảo lại giữa nét chữ khổ sở của bà Hạnh với dòng chữ “mua đền 6 cân sườn, hết tiền mua thuốc” và những dòng tin nhắn ép giá rành rành hình đại diện của Phong. Sự thật bị bóc trần trụi, tanh tưởi và tàn nhẫn đến mức đập nát hoàn toàn lớp vỏ bọc “công ty thực phẩm xanh” mà hắn vừa vẽ ra.
Phong đứng trân trân tại chỗ. Cánh tay định giật giấy tờ của hắn chết sững giữa không trung. Cơ hàm hắn bạnh ra, mấp máy không thể nặn nổi một vỏ bọc ngôn từ nào nữa. Lớp mặt nạ đạo mạo vỡ vụn, để lộ ra khuôn mặt trắng bệch, run rẩy và hèn mạt của một kẻ bị bắt thóp. Xung quanh chiếc bàn gỗ gụ, không một ai dám thở mạnh.
Ba ngày sau buổi họp định mệnh ấy, thanh tra Sở Giáo dục và cơ quan cảnh sát điều tra đồng loạt vào cuộc. Chiếc xe biển xanh đỗ xịch trước cổng trường mầm non, kéo theo vô số ánh mắt tò mò của người dân xung quanh. Đứng lẫn trong đám đông phụ huynh, tôi tận mắt chứng kiến cảnh Phong bị giải ra khỏi phòng hiệu trưởng. Hắn không còn vẻ đạo mạo, chững chạc với những ngôn từ bóng bẩy thường ngày. Hai vai hắn sụp xuống, chiếc còng số tám lạnh lẽo siết chặt lấy đôi bàn tay từng gõ những dòng tin nhắn tàn độc.
Những tờ hóa đơn viết tay nhàu nhĩ của bà Hạnh, cùng cuốn sổ ghi chép, đã trở thành bằng chứng thép không thể chối cãi, khép lại đường dây tuồn thực phẩm bẩn và ăn chặn tiền bán trú của hắn cùng công ty sân sau. Đám đông xung quanh xì xào, hả hê vì nhổ được cái gai độc. Chị Loan hội trưởng đứng cạnh tôi, liên tục lau nước mắt, miệng lẩm bẩm những lời tự trách. Nhưng trong lòng tôi lúc này tuyệt nhiên không có một mảy may cảm giác của sự chiến thắng. Một tảng đá vô hình, sắc nhọn đang đè nặng lên lồng ngực tôi, vắt kiệt từng nhịp thở. Chúng tôi nợ bà Hạnh một lời xin lỗi. Một lời xin lỗi phải được thốt ra bằng xương bằng thịt, ngay lập tức.
Cầm trên tay tờ giấy ghi địa chỉ quê quán mà tôi phải khó khăn lắm mới xin được từ phòng nhân sự, tôi bắt chuyến xe khách muộn xuôi về một huyện nghèo ngoại thành. Suốt dọc đường đi, qua những ô cửa kính mờ sương, tôi cứ nhẩm đi nhẩm lại kịch bản khi gặp lại người đàn bà khắc khổ ấy. Tôi sẽ nắm lấy đôi bàn tay đầy nếp nhăn và mùi dầu mỡ, nói cho bà biết rằng gã ác quỷ kia đã đền tội. Rằng thằng cháu ngoại của bà sẽ được an toàn đến trường. Và rằng, hàng trăm phụ huynh chúng tôi xin cúi đầu tạ lỗi vì đã dồn bà vào chân tường. Trong túi xách, tôi mang theo cả số tiền mà hội phụ huynh vội vã quyên góp, hy vọng có thể bù đắp lại một phần những đồng tiền dưỡng già mà bà đã phải rút cạn để mua thịt sạch cho con cái chúng tôi.
Con ngõ nhỏ dẫn vào nhà bà Hạnh ngoằn ngoèo, lầy lội những vũng nước đọng sau cơn mưa chiều. Ngôi nhà cấp bốn mái ngói rêu phong, xập xệ hiện ra sau rặng chuối héo rũ. Nhưng khi bước qua cánh cổng sắt hoen gỉ, đôi chân tôi bỗng chôn chặt xuống lớp bùn đất.
Không có tiếng cười đùa của trẻ nhỏ. Không có bóng dáng người đàn bà lam lũ. Chỉ có mùi nhang trầm cuộn lên đặc quánh, buốt lạnh xộc thẳng vào khứu giác. Giữa gian nhà tuềnh toàng, nền gạch hoa bong tróc, một chiếc bàn thờ mới lập được kê tạm bợ. Qua làn khói mỏng manh, di ảnh của bà Hạnh nhìn tôi. Khuôn mặt ấy vẫn khắc khổ, cam chịu và u buồn như cái ngày bà bị đám đông chúng tôi xỉa xói, chĩa hàng tá ống kính điện thoại lăng mạ giữa căn bếp trường học. Đứng bên bàn thờ là cô con gái của bà, bận áo xô trắng, đôi mắt sưng húp đang ôm đứa con trai nhỏ – thằng bé học lớp 1A3 mà bà đã nuốt ngược nước mắt, hy sinh tất cả để bảo vệ.
“Mẹ em đi hôm kia rồi chị ạ,” cô gái nghẹn ngào, giọng nói vỡ vụn, đặc quánh sự xót xa trong không gian tĩnh lặng. “Mẹ giấu cả nhà chuyện bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Tiền con cái chắt bóp đưa đi khám bệnh, mua thuốc, mẹ toàn gạt đi bảo để dành… Mẹ bảo dạo này trường khó khăn, mấy đứa trẻ con ăn uống tội nghiệp, mẹ thương chúng nó như thương thằng cu Tí nhà em nên mua thêm đồ ăn dặm vào… Đến lúc mẹ đau gục xuống nền nhà, đưa đi cấp cứu thì bác sĩ bảo khối u vỡ, di căn hết rồi. Mẹ em đi nhanh lắm, đau đớn đến mức cắn nát cả môi mà chẳng kịp trăng trối câu nào.”
Từng lời nói của cô gái như những mũi dùi nung đỏ đâm xuyên qua màng nhĩ, khoan thẳng vào tận cùng sự cắn rứt trong tôi. Chiếc túi xách trên vai tôi rơi phịch xuống đất. Tay tôi run lẩy bẩy. Hóa ra, những dòng chữ “hết sạch tiền mua thuốc khớp” viết vội vã trong cuốn sổ kia chỉ là cách bà tự lừa dối, làm nhẹ đi bi kịch của chính mình. Bà đã không mua thuốc khớp. Bà đã dùng những đồng tiền đánh cược với mạng sống, những viên thuốc giảm đau ung thư cuối đời của mình để đánh đổi lấy từng bữa ăn sạch cho những đứa trẻ vô tâm, và cho cả chính con trai tôi.
Tôi từ từ quỳ gối xuống nền gạch lạnh lẽo trước bàn thờ, nước mắt tuôn rơi ướt đẫm hai gò má, cổ họng nghẹn ứ không thể thốt ra nổi ba chữ “xin lỗi mẹ”. Tôi đã lật tẩy được một âm mưu đen tối, đã đưa kẻ thủ ác ra ánh sáng. Nhưng sự thật được vớt lên thì có ích gì, khi người tử tế duy nhất đã mang theo nỗi oan khuất chìm sâu dưới ba tấc đất vĩnh hằng? Chúng tôi, những bậc làm cha làm mẹ luôn vỗ ngực tự xưng là yêu thương con cái, đã mượn danh nghĩa bảo vệ trẻ thơ để bức tử một vị bồ tát bằng thói phán xét hời hợt và sự độc ác của đám đông. Công lý rốt cuộc cũng đã thực thi với kẻ có tội, nhưng bản án lương tâm tàn khốc nhất, mãi mãi dành riêng cho những kẻ tự cho mình là đại diện của lẽ phải.
Story code: VI_000035

