Story code: VI_000005
Giang hồ thôn xăm trổ hống hách chặn đầu máy gặt đòi tiền bảo kê, gã vừa định rút chìa khóa thì một lưỡi rựa rỉ sét cắm phập xuống mũi giày.
“Xoảng! Bịch!”
Thúng lúa đầu tiên vừa trút xuống đã bị mũi giày đinh của Long “sẹo” đá văng, hạt thóc vàng ươm vãi tung tóe rớt rào rào xuống lớp bùn nhão nhoét. Gã lừng lững bước tới, vung tay đập phành phạch lên nắp capo chiếc máy gặt đập liên hợp đang gầm rú, quát gằn từng tiếng ép anh tài xế phải ngắt động cơ.
Tiếng máy nổ phụt tắt, trả lại sự im lặng ngột ngạt cho cả cánh đồng đang hối hả vào vụ. Long hất hàm, nhổ toẹt bãi nước bọt xuống rạ non, gầm lên đòi đúng ba trăm ngàn một sào tiền phí “bảo kê” bến bãi, bằng không thì cái máy gặt này đừng hòng nhích thêm nửa phân.
Đám đông bà con xóm tôi đang đứng túm tụm trên bờ ruộng đều xì xầm phẫn nộ. Nhưng khi thấy ba bốn thằng đàn em của Long xăm trổ vằn vện, lăm lăm tuýp sắt đằng sau, cả đám chúng tôi tự động lùi lại mấy bước vì sợ vạ lây. Anh tài xế gặt rụt cổ, lóng ngóng định rút chùm chìa khóa khất tiền cho êm chuyện. Đúng lúc Long chửi thề một tiếng chát chúa, rướn người định giật phăng chùm khóa trên vô lăng thì một tiếng gió rít vang lên xé toạc sự tĩnh lặng.
“Phập.”
Một lưỡi rựa rỉ sét từ phía sau bay tới, cắm ngập xuống bờ ruộng ngay sát mép mũi giày bata của Long “sẹo”. Bùn đen văng lên tận mép ống quần jean của gã. Tiếng nẹt pô xe máy của đám đàn em Long đang rồ lên cũng phải nghẹn lại. Mọi ánh mắt đổ dồn về con dốc bờ mương.
Ông Tư lầm lũi bước lên. Lão nông ngoài sáu mươi tuổi, người gầy đét như cành củi khô, mặc độc chiếc áo bảo hộ sờn rách, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ lừ đục ngầu. Ông không nói không rằng, lội ào xuống bùn, cúi người rút phăng cái rựa ra khỏi mặt đất, mũi rựa chĩa thẳng về phía đám giang hồ.
Tôi đứng ngay sát bờ đất, lợm giọng khi ngửi thấy mùi phèn chua mồ hôi và cả mùi sát khí lẫm liệt toát ra từ người ông lão hiền lành bậc nhất cái xóm này. Khuôn mặt nhăn
nheo của ông căng cứng, gân xanh nổi dọc thái dương giật giật từng hồi.
Mảnh ruộng của ông Tư là phần đất xấu nhất cánh đồng. Lúa mọc lưa thưa, còi cọc, bông lép xẹp, rơm rạ khô khốc dặt dẹo. Cả hai sào ruộng này gặt mang bán đi khéo còn chưa nổi hai triệu bạc. Nếu cắn răng nộp vài trăm ngàn tiền bảo kê như những nhà khác, ông vẫn còn vớt vát được chút đỉnh công sức cày cấy mấy tháng trời. Thế mà ông già kham khổ này lại sẵn sàng vác rựa liều mạng với đám giang hồ thôn chứ quyết không chịu lùi một bước. Cả xóm tôi ai cũng thấy sự vô lý rành rành này. Nhưng nhìn mũi rựa lăm lăm trên tay ông Tư, không một ai dám há miệng khuyên can.
Long “sẹo” giật mình lùi lại nửa bước, mặt đỏ gay vì tức giận. Gã vuốt ngược mái tóc ép keo ướt đẫm mồ hôi, hất mặt quát thẳng vào mặt ông già. Gã thề sẽ gọi cả chục anh em xuống san phẳng cái đám lúa còi cọc rách nát này, thậm chí đốt luôn cả máy gặt nếu ông Tư dám chém bậy. Đám đàn em của Long bắt đầu xóc xóc mấy cây tuýp sắt gõ lanh canh xuống đường bê tông, dàn hàng ngang ép dần về phía mép ruộng.
Nhưng ông Tư tuyệt nhiên không chớp mắt. Lưỡi rựa trên tay ông rung lên bần bật. Đó không phải là sự run rẩy vì sợ hãi, mà là một sự kìm nén tột độ sắp nổ tung. Tôi thu rúm người lại khi để ý thấy ánh mắt ông không hề tập trung vào đám giang hồ, mà cứ liếc chằm chằm về phía góc ruộng lầy lội sát chân cột điện. Nơi đó chỉ có mấy bụi lúa chết héo rũ rượi, bùn đất bị xới tung lên lởm chởm. Cứ mỗi lần một thằng đàn em của Long vô tình tiến lại gần góc ruộng đó, tay nắm rựa của ông Tư lại siết chặt hơn, móng tay trắng bệch ra. Lão nông già đứng dang rộng hai chân, dùng chính thân mình che khuất góc bùn sình lầy đó như thể dưới lớp phèn thối ấy đang chôn giấu cả một gia tài hoặc một tội ác động trời.
Long “sẹo” dường như cũng đánh hơi thấy thái độ phòng thủ kỳ lạ của ông già. Gã nhếch mép cười gằn, nháy mắt cho hai thằng đàn em lùi lại, vòng ra sau lưng ông Tư hòng tiếp cận góc ruộng khả nghi.
Bất thình lình, ông Tư hét lên một tiếng khàn đặc, vung rựa chém phập vào thùng phuy rỗng lăn lóc gần đó làm tia lửa xẹt ra chói lòa. Lưỡi thép rỉ sét cắn ngập vào lớp tôn dày. Ông gằn giọng thề sẽ băm nát bất cứ đôi chân nào dám bước qua vạch rơm nát. Sự uất ức dồn nén trong tiếng thét của ông làm toàn bộ bà con có mặt ở đó rợn gai ốc.
Long “sẹo” nhổ toẹt một bãi nước bọt, rút phăng con dao bấm trong túi quần ra đánh “tách”. Mũi dao nhọn hoắt chĩa thẳng về phía ngực ông Tư. Gã rướn cổ, ra hiệu cho cả đám giang hồ ập vào cùng lúc. Đúng khoảnh khắc đám du côn chồm tới, chân ông Tư lui lùi về phía sau, luống cuống đạp mạnh xuống vạt bùn làm một vật thể bọc nilon đen xì nẩy lên, rơi lọt thỏm ra giữa khoảng trống của hai phe.
Gói nilon to bằng hai bàn tay chụm lại, bọc chằng chịt bởi thứ băng keo đen bóng đã bong tróc vài chỗ do ngâm dưới bùn lâu ngày. Nó rớt phịch xuống vũng nước phèn, tạo ra một tiếng bép đục ngầu. Cả cánh đồng bỗng chốc im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió lùa qua những ngọn lúa xơ xác và tiếng gầm gừ của động cơ máy gặt đang nguội dần.
Long “sẹo” khựng lại, đôi mắt hẹp nheo lại đánh giá vật thể kỳ lạ vừa trồi lên từ dưới chân lão nông. Mũi giày bata dính đầy bùn của gã chậm rãi vờn quanh mép gói nilon. Gã dùng mũi giày khều nhẹ, hất nó lăn vòng vòng trên mặt bùn.
“Chà chà, cái gì đây?” Long nhếch mép, âm giọng the thé vang lên phá vỡ bầu không khí căng thẳng. “Bảo sao cắn răng giữ khư khư cái bãi rác này. Hóa ra lúa còi là do bận trồng ‘hàng trắng’ dưới bùn hả lão già?”
Câu nói của gã giang hồ như một mồi lửa ném vào đám lá khô. Đám đông bà con xóm tôi đang đứng xem đồng loạt lùi lại thêm vài bước. Những tiếng xì xầm bắt đầu nổi lên râm ran. Tôi thấy lạnh toát sống lưng, mồ hôi rịn ra ướt đẫm mảng áo bảo hộ. Cả xóm này ai cũng biết ông Tư sống cô độc, lầm lì, nhưng không ai ngờ ông lại làm ba cái chuyện phi pháp. Ánh mắt mọi người nhìn ông bắt đầu thay đổi, từ thương xót, nể phục chuyển sang ngờ vực, sợ hãi.
“Chắc ổng giấu ma túy hay đồ ăn cắp thật rồi, hèn chi nãy giờ liều mạng không cho ai bước vô,” bà Tám đứng cạnh tôi lẩm bẩm, kéo tay đứa cháu nội nép sát vào bờ mương. Tôi cũng không tự chủ được mà lùi lại. Thà để bọn bảo kê trấn lột, chứ dính líu tới kẻ chứa chấp hàng cấm thì có ngày mang họa vào thân.
Nhưng phản ứng của ông Tư mới là thứ làm tôi choáng váng nhất. Sự hung tợn, lẫm liệt cùng sát khí ngùn ngụt lúc nãy biến mất sạch sành sanh. Khuôn mặt nhăn nheo của ông cắt không còn một giọt máu. Ông run rẩy buông thõng tay, mặc cho chiếc rựa rỉ sét rớt tạch xuống bùn. Lão nông gầy gò khuỵu cả hai đầu gối xuống vũng nước phèn đục ngầu, vươn đôi bàn tay nổi đầy gân xanh ra phía trước, giọng lạc đi vì hoảng loạn:
“Đừng! Đừng đụng vào nó! Tôi van cậu, để nó yên…”
Sự nhún nhường thảm hại và đột ngột của ông già càng làm Long “sẹo” đắc ý. Gã cười phá lên, tiếng cười lanh lảnh đầy man rợ. Gã đá văng chiếc rựa ra xa cả chục mét, rồi hất hàm ra hiệu. Không cần đợi lệnh lần hai, ba thằng đàn em xăm trổ lập tức lao tới như những con chó đói chực chờ cắn xé. Ông Tư già yếu, lại đang luống cuống nên không kịp phản ứng. Một thằng vung chân đá thẳng vào khoeo gối khiến ông đổ ụp xuống bùn. Hai thằng còn lại lao tới đè nghiến ông xuống. Một gã dùng đầu gối tì mạnh lên gáy ông, ấn dúi nửa khuôn mặt khắc khổ của lão nông chìm nghỉm dưới vũng bùn hôi thối. Những tiếng kêu ú ớ, uất nghẹn vang lên lùng bùng dưới lớp phèn chua.
Long khom người nhặt gói nilon lên, ước lượng sức nặng trong tay. Gã đưa mũi dao bấm sắc lẹm rạch một đường dài. Lớp băng keo đen đứt bung ra, lòi ra một chiếc hộp thiếc hình chữ nhật đã rỉ sét nham nhở. Đó dường như là một hộp bánh quy từ hàng chục năm trước, vỏ ngoài bám đầy bùn đất, những mảng sơn cũ bong tróc từng mảng.
Gã giang hồ cạy mạnh nắp hộp. Không có tiếng kim loại lấp lánh, cũng chẳng có những bọc nilon trắng toát như người ta đồn đoán. Thay vào đó, một thứ mùi ngai ngái, khen khét như mùi nhang tàn ẩm mốc hòa trộn với mùi đất bốc ra nồng nặc khiến tôi phải đưa tay bịt mũi. Từ trong khe hở của nắp hộp, một vạt vải lụa màu đỏ bã trầu rách bươm thò ra ngoài. Trên nền vải nhợt nhạt ấy loang lổ những vệt đen sẫm đặc quánh, trông giống như những vết máu đã khô khốc từ rất lâu. Bên trong hộp vang lên những tiếng lạo xạo va đập vào nhau mỗi khi Long lắc tay.
Mặt Long “sẹo” nhăn lại vì thất vọng. Gã tưởng bắt được mẻ vàng hay ma túy, ai dè chỉ là thứ rác rưởi quái gở. Nhưng khi gã cúi xuống, nhìn thấy đôi mắt vằn đỏ, trợn ngược lên vì tuyệt vọng của ông Tư đang cố ngóc đầu lên khỏi vũng bùn, một nụ cười nham hiểm lại nở trên môi gã. Gã nhận ra, thứ đồ kỳ dị này đối với ông già còn quý hơn cả vàng.
“À… thì ra đây là báu vật của ông già mày,” Long cười gằn, dùng mũi dao gẩy gẩy vạt vải đỏ bã trầu. “Hồi nãy tao xin ba trăm ngàn mày cầm rựa đòi chém tao. Bây giờ tao đổi ý rồi. Cánh đồng này, máy gặt này, tao đéo thèm nữa. Tao lấy cái hộp này.”
Ông Tư vùng vẫy điên cuồng dưới gót giày của đám giang hồ, bùn lầy bắn tung tóe. Tiếng gào thét của ông nghe như tiếng rống của một con dã thú bị dồn vào chân tường, vừa đau đớn vừa phẫn uất tột độ. Ông cố cất tiếng chửi rủa, van xin, nhưng miệng đầy bùn đất khiến âm thanh phát ra chỉ là những tiếng khò khè nghẹn ứ.
Đám đông vẫn đứng im phăng phắc. Tôi cắn chặt môi, mắt dán chặt vào cảnh tượng ngang trái ấy nhưng đôi chân như mọc rễ. Có ai dại dột đi can thiệp vào chuyện của một gã giang hồ đang giữ một vật chứng rùng rợn, dính đầy vết máu khô của một ông lão bí ẩn? Sự hèn nhát lây lan nhanh chóng. Không một cánh tay nào đưa ra. Anh tài xế máy gặt lén lút rút chìa khóa xe, lùi dần ra khỏi bờ ruộng. Lão nông hiền lành nhất xóm giờ đây hoàn toàn bị cô lập trong sự nghi kỵ và sợ hãi của chính những người hàng xóm.
Long “sẹo” đứng thẳng dậy, quay lưng bước ra sát mép mương thủy lợi. Nước mương đang mùa bơm tưới chảy xiết, cuộn tung những đám bọt trắng xóa. Gã dang tay đưa chiếc hộp thiếc ra khỏi bờ cỏ, treo lơ lửng ngay trên dòng nước xiết. Gió đồng thổi tạt qua làm vạt vải đỏ bã trầu phất phơ tung bay, vô tình làm lộ ra một phần của thứ gì đó được cuộn chặt bên trong lớp vải – một tấm ảnh ố vàng cũ nát được quấn quanh bằng những sợi chỉ đỏ chằng chịt, kèm theo một mớ tóc đen dài rũ rượi thòng xuống đung đưa trong gió.
Bàn tay gã giang hồ khẽ lơi lỏng, chiếc hộp thiếc trượt dần về phía những đầu ngón tay. Chỉ một nhịp thở nữa thôi, bí mật đẫm máu kia sẽ vĩnh viễn chìm sâu dưới đáy dòng mương đục ngầu.
Ngay khoảnh khắc những ngón tay của Long “sẹo” lơi ra, định thả rơi chiếc hộp thiếc xuống dòng nước xiết, một trận cuồng phong bất thần ập tới. Mây đen sập xuống, sấm chớp rạch nát bầu trời. Cơn bão đổ ập xuống cánh đồng nhanh đến mức đám đông không kịp phản ứng phải vứt đồ bỏ chạy tán loạn. Chiếc máy gặt rồ ga tháo thân, đám giang hồ cũng lên xe rồ ga lẩn tránh, quăng lại ông Tư gục ngã ôm khư khư chiếc hộp thiếc cuộn tròn dưới lớp bùn nhão trong cơn mưa quất rát mặt.
Sáng hôm sau, bão tan.
Tôi lội bì bõm theo bước chân tập tễnh của ông Hai – bố ruột Long “sẹo”, và bác trưởng thôn ra khu ruộng sát chân cột điện. Ông Hai là thương binh nặng, một chân lắp giả lủng lẳng ống thấp ống cao, chống nạng gỗ đi từng bước nhọc nhằn trượt trên bờ đất nhão nhoét. Vừa ra tới nơi, đập vào mắt chúng tôi là cảnh tượng xót xa thắt ruột. Toàn bộ hai sào lúa của ông Tư đã bị bão đánh rạp, nát tươm, rụng tơi tả ngập chìm trong vũng nước phèn đục ngầu. Công sức cấy cày mấy tháng trời của ông lão nay chỉ còn là một bãi sình lầy thối rữa.
Giữa bãi lúa nát ấy, ông Tư đang quỳ gối, đôi tay nứt nẻ run rẩy bới từng mảng bùn, thẫn thờ nhặt nhạnh mấy bông lúa lép xẹp dính chặt xuống đất. Chiếc hộp thiếc gỉ sét vẫn được ông bọc kỹ trong lớp nilon đen, buộc chặt ngang bụng.
Từ bờ kênh đối diện, tiếng pô xe máy nổ đinh tai nhức óc lại vang lên. Long “sẹo” dẫn theo ba thằng đàn em lội xuống mép ruộng. Thấy mảnh ruộng tan hoang, gã chẳng những không thương xót mà còn nhếch mép cười khẩy. Gã hất hàm, chỉ chiếc gậy sắt về phía ông Tư, lớn tiếng miệt thị rằng đó là quả báo cho kẻ giấu giếm hàng cấm, giờ thì chẳng có máy gặt nào thèm vớt vát cái bãi rác này nữa, và món nợ ba trăm ngàn tiền bảo kê hôm qua gã vẫn tính đủ một xu không thiếu.
Ông Tư không đáp lại. Lão nông gầy gò chỉ cúi gập người, hai vai rung lên từng nhịp thê lương.
Tôi đứng cạnh ông Hai, định cất tiếng khuyên can Long thì bỗng thấy toàn thân người cựu binh già run lên bần bật. Ông Hai nghiến chặt hàm răng, gân cổ nổi hằn lên sau lớp áo sờn cũ. Bất chấp cái chân tật nguyền, ông vứt tắp chiếc nạng gỗ sang một bên, lội ào xuống vũng bùn lút tới tận bắp chân, lao thẳng về phía đứa con trai.
“Bốp!”
Một cái tát trời giáng, nặng trịch nện thẳng vào mặt Long “sẹo”. Tiếng da thịt va đập vang lên khô khốc giữa cánh đồng trống hoác. Cú vung tay đầy uất hận của người lính già khiến gã giang hồ to xác loạng choạng lùi lại ba bước, ngã dập mông xuống ruộng lúa nát. Khóe miệng Long tứa ra một vệt máu đỏ tươi.
Cả đám đàn em của Long đứng sững lại, ngơ ngác không hiểu chuyện gì. Bác trưởng thôn hốt hoảng lao tới định can ngăn, nhưng ông Hai đã gạt phắt tay ra. Lồng ngực xẹp lép của người thương binh thở dốc từng cơn bạo liệt. Ông vung tay vào túi ngực, lôi ra một cuốn sổ nhỏ bọc trong túi nilon trong suốt, ném phịch xuống lớp bùn ngay sát mũi giày của đứa con trai đang đưa tay ôm má.
Đó là một cuốn sổ chứng nhận gia đình liệt sĩ, bìa đỏ chót đã sờn góc.
“Mày mở to mắt ra mà nhìn đi, thằng súc sinh!” Ông Hai gầm lên, giọng vỡ vụn, nước mắt trào ra trên gò má nhăn nheo sạm nắng. “Mày có biết tại sao hôm qua ông Tư bất chấp mạng già để giữ cái góc ruộng chết tiệt đó không? Mày có biết trong cái hộp mày định ném xuống mương hôm qua chứa cái gì không?”
Long “sẹo” ôm mặt, ánh mắt láo liên nhìn cuốn sổ đỏ chói nằm trên vũng bùn, rồi lại nhìn sang chiếc hộp thiếc giắt ngang bụng ông Tư. Gã ấp úng, chưa kịp mở lời thì ông Hai đã chỉ tay thẳng mặt, thét lên uất nghẹn:
“Đấy là xương máu! Là kỷ vật của đồng đội tao! Năm bảy chín, tiểu đội tao vướng mìn, năm người hi sinh thịt nát xương tan không còn toàn thây. Thằng Tư là người duy nhất lành lặn, nó đã gom từng lọn tóc rụng, xé áo lau từng vệt máu của anh em, giấu vào cái hộp thiếc đó chôn tạm bên vạt rừng để đợi ngày hòa bình quay lại bốc cốt!”
Cả cánh đồng tức khắc im phăng phắc. Tiếng gió rít qua rặng phi lao bỗng trở nên rợn người. Tôi đứng lặng thinh, nghe rõ mồn một tiếng nhịp tim mình đập thình thịch. Ánh mắt đám đông túm tụm trên bờ nhìn ông Tư giờ đây không còn là sự ngờ vực hay ghê tởm, mà chùng xuống trong sự bàng hoàng tột độ. Dưới lớp phèn chua hôi thối ấy, không có ma túy, chẳng có tội ác nào cả, chỉ có một lời thề đẫm máu của những người lính đã ngã xuống.
“Nó mượn mảnh ruộng góc khuất này để lập mộ gió cúng bái cho anh em suốt mấy chục năm nay!” Ông Hai nấc lên từng tiếng, chỉ tay về phía những bông lúa thối rữa dưới bùn. “Gần đây thôn báo mở đường quy hoạch qua đúng bãi đất này, nó đành cắn răng gặt chạy bão sớm để vớt vát vài đồng bạc lẻ, tính gộp vào chút tiền còm đi cất bốc mộ phần cho anh em đàng hoàng! Hôm qua mày cản máy gặt, mày ép nó, để đến đêm bão xuống phá nát cày nát mồ mả anh em tao!”
Long “sẹo” bợt nhạt cả khuôn mặt, toàn thân run rẩy nhìn ông Tư. Mấy thằng đàn em xăm trổ phía sau cũng sợ hãi lùi lại, vội vàng giấu nhẹm mấy ống tuýp sắt ra sau lưng.
“Mày có biết…” Ông Hai khuỵu một gối xuống, nhặt cuốn sổ liệt sĩ dính bùn lên, gí sát vào mặt thằng con trai, giọng đau đớn xé ruột gan. “Mày có biết một trong năm lọn tóc nằm trong cái hộp đẫm máu đó… là của chú ruột mày không hả Long?”
Long “sẹo” cứng đờ người. Vệt máu trên khóe miệng gã rỉ xuống cằm, hòa cùng giọt nước mưa còn đọng lại trên mặt. Đôi mắt hung hãn, câng cáo thường ngày của gã mở trừng trừng, trân trối nhìn vạt vải lụa đỏ bã trầu lấp ló qua kẽ lớp nilon bó quanh bụng ông lão đang quỳ mọp dưới bùn. Gã há miệng định nói gì đó, nhưng cổ họng khô khốc không thể phát ra dù chỉ là một tiếng ậm ừ. Xung quanh, không một ai dám ho he nửa lời. Sự tĩnh lặng đặc quánh lại, đè nặng lên từng hơi thở của những kẻ vừa mới ngày hôm qua còn hùa nhau hắt hủi một người anh hùng lầm lũi.
Sự tĩnh lặng đặc quánh lại, đè nặng lên từng hơi thở của những kẻ vừa mới ngày hôm qua còn hùa nhau hắt hủi một người anh hùng lầm lũi.
Tôi đứng chôn chân trên bờ mương, cảm thấy lồng ngực mình nghẹn đắng. Giữa vũng bùn lầy lội, Long “sẹo” từ từ gục đầu xuống. Gã giang hồ khét tiếng ngổ ngáo của xóm giờ đây co rúm lại như một đứa trẻ phạm tội tày đình. Đôi bàn tay vằn vện hình xăm của gã run rẩy vươn ra định chạm vào vai ông Tư, nhưng rồi lại rụt về giữa chừng vì sợ hãi, vì thấy mình không đủ tư cách. Đám đàn em của Long đã lẳng lặng vứt bỏ ống tuýp sắt, nổ máy xe lủi mất tăm từ lúc nào, để lại một mình đại ca của chúng đối diện với sự thật phũ phàng.
Ông Tư không thèm liếc nhìn Long lấy một cái, cũng chẳng màng đáp lời ông Hai. Lão nông già nua chỉ cúi gập người, run rẩy ôm khư khư chiếc bọc nilon chứa hộp thiếc vào lòng như ôm ấp sinh mạng mình. Cơn bão đêm qua không chỉ cướp đi hai sào lúa mồ hôi nước mắt, mà còn đánh sập tia hy vọng cuối cùng của ông về việc gom góp đủ tiền dời mộ gió cho anh em đồng đội trước khi máy xúc của dự án làm đường san phẳng nơi này. Ánh mắt ông đục ngầu, cạn khô không còn một giọt nước mắt, chỉ có sự tuyệt vọng đến cùng cực.
Rồi ngay trước mắt chúng tôi, cơ thể gầy gò của ông Tư bỗng lảo đảo. Ông nấc lên một tiếng nghẹn ngào rồi đổ gục xuống, mặt chúi vào đám lúa nát tươm. Tôi và bác trưởng thôn hốt hoảng lao ào xuống bùn, xốc nách đỡ ông dậy. Người ông nóng hầm hập như hòn than, nhẹ bẫng như một cành củi khô đã bị rút cạn nhựa sống. Chúng tôi tất tả cõng ông lên trạm xá xã. Lúa mất trắng, hy vọng vỡ vụn, cú sốc tinh thần quá lớn khiến ông Tư đổ bệnh nặng, nằm liệt giường suốt nhiều tháng trời sau đó. Căn nhà ngói xập xệ ở cuối xóm vốn đã vắng vẻ, nay lại càng thêm quạnh hiu.
Mùa màng cứ thế xoay vòng, con đường mới tạm hoãn thi công do vướng mắc đền bù, trả lại cho cánh đồng chút bình yên tạm bợ. Khi vụ mùa mới bắt đầu, xóm tôi chứng kiến một cảnh tượng vô cùng kỳ lạ.
Long “sẹo” không còn lượn lờ ngoài bến bãi, cũng chẳng tụ tập đàn em nhậu nhẹt thu tiền bảo kê nữa. Thay vào đó, cứ tờ mờ sáng, tôi lại thấy gã vác cuốc, xắn quần lội xuống đúng cái mảnh ruộng xấu nhất, còi cọc nhất sát chân cột điện của ông Tư. Gã mặc lại chiếc áo xanh công nhân cũ sờn của bố, gò lưng cuốc đất, dọn cỏ rác, đắp lại bờ bao. Dưới cái nắng cháy da cháy thịt của mùa hè, mồ hôi nhễ nhại trên khuôn mặt còn hằn vết sẹo dài, Long làm lụng cật lực, không nề hà bất cứ việc gì. Gã tự bỏ tiền túi mua lúa giống tốt nhất, vác từng bao phân bón lội sình ra tận giữa ruộng. Gã đang làm thay phần việc của người cựu binh già, làm không công, lặng lẽ cắn răng chịu đựng những ánh nhìn soi mói của bà con xóm giềng để mong chuộc lại phần nào tội lỗi.
Thỉnh thoảng, vào những buổi chiều tà, ông Tư dắt chiếc gậy tre lóc cóc đi bộ từ nhà ra bờ kênh. Nhìn thấy bóng dáng gầy gò, xiêu vẹo của ông, Long vội vã cắm cuốc xuống bùn, đứng thẳng người lại. Tôi nấp sau rặng phi lao, thấy rõ sự bồn chồn, khát khao trong ánh mắt của gã thanh niên to xác. Gã chờ đợi ông lão mắng chửi, đánh đập, hay chí ít là thốt ra một lời trách móc nặng nề cũng được. Nếu ông Tư cầm chiếc rựa rỉ sét ngày nào chém gã một nhát, có lẽ gã sẽ thấy lòng mình nhẹ nhõm hơn.
Nhưng không. Ông Tư chỉ đứng lặng thinh trên bờ. Ánh mắt ông lướt qua Long, trống rỗng và lạnh lẽo, coi gã như một cái bóng mờ ảo không tồn tại. Lão nông cựu binh nhìn đăm đăm vào góc ruộng nơi từng chôn giấu kỷ vật của những người anh em năm xưa, khẽ thở dài một tiếng nhọc nhằn, rồi chậm chạp xoay người lê bước về nhà. Không một lời tha thứ, cũng chẳng có một tiếng oán hờn. Sự im lặng day dứt ấy như một nhát dao vô hình cứa thẳng vào tim Long, tàn nhẫn hơn bất kỳ sự trừng phạt đẫm máu nào.
Nhìn gã giang hồ gục đầu bên cán cuốc giữa cánh đồng lộng gió, tôi biết gã đã hiểu ra cái giá của tội ác không phải lúc nào cũng trả bằng tiền hay máu. Có những lỗi lầm vĩnh viễn không thể vãn hồi, biến thành một bản án lương tâm nặng nề mà kẻ gieo gió phải tự mình gồng gánh, nhặt nhạnh từng mảnh hối hận mục nát cho đến những ngày tháng cuối đời.

